phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, và phần phụ lục, luận án được kết cấu gồm 04 chương, bao gồm: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu. Chƣơng 2: Những vấn đề lý luận và pháp luật về bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự. Chƣơng 3: Thực trạng quy định của pháp luật và thực tiễn bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay. Chƣơng 4: Định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự ở Việt Nam.
9 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 1. Nhóm các công trình nghiên cứu những vấn đề lý luận về bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự Trong khoa học luật tố tụng hình sự Việt Nam có rất nhiều công trình nghiên cứu về nguyên tắc suy đoán vô tội dưới các góc độ và phạm vi khác nhau. Trong đó nhóm các công trình được công bố nhiều nhất là vấn đề lý luận về nguyên tắc suy đoán vô tội cũng như bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự.
Có thể kể đến các công trình như sau: * Nhóm các công trình là các luận văn, luận án, đề tài khoa học: Luận văn Thạc sĩ luật học“Nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự Việt Nam” của tác giả Nguyễn Mạnh Toàn (Viện Nhà nước và pháp luật, 1999). Trong luận văn của mình, theo tác giả, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là chủ thể của quyền được suy đoán vô tội. Nội dung của suy đoán vô tội gồm: (i) Xã hội, Nhà nước không được đối xử với những người bị buộc tội như những người có tội và buộc họ phải chịu hình phạt, ngược lại phải coi họ như một công dân bình thường khác, tức là mọi quyền lợi của họ phải được bảo đảm thực hiện, không tước bỏ các quyền tự do, quyền dân chủ và các quyền khác mà pháp luật đã ban cho họ; (ii) Quá trình chứng minh tội phạm phải là quá trình do luật định và các hành vi, hoạt động chứng minh đó phải tuân thủ một cách nghiêm chỉnh, triệt để theo quy định của pháp luật; (iii) Trong quá trình buộc tội thì các bảo đảm cho quyền bào chữa của người bị buộc tội được thực hiện, bảo đảm nguyên tắc truy cứu trách nhiệm trên cơ sở lỗi, bảo đảm sự bình đẳng cho các bên trong quá trình buộc tội và bào chữa [78, tr. Tác giả đã nêu rất chi tiết về các nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội, tuy nhiên các nội dung này vẫn chưa thực sự đầy đủ và chưa có những đánh giá chuyên sâu.
Luận án tiến sĩ luật học “Nguyên tắc suy đoán vô tội trong luật tố tụng hình sự Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thành Long tại tại Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2010. Đây là công trình nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện nhất 10 về nguyên tắc này. Tác giả đưa ra khái niệm: Nguyên tắc suy đoán vô tội trong luật tố tụng hình sự là những tư tưởng chủ đạo, cơ bản mang tính xuất phát điểm, bảo đảm người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không bị coi là có tội khi lỗi của họ chưa được cơ quan tiến hành tố tụng chứng minh theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định và chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật [39, tr. Cũng theo tác giả, nguyên tắc suy đoán vô tội gồm bốn nội dung: (i) Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được suy đoán vô tội cho đến khi có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật; (ii) Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội; (iii) Mọi nghi ngờ về lỗi của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu không được loại trừ theo trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định thì phải được giải thích có lợi cho họ; (iv) Bản án kết tội của Tòa án không được dựa trên những giả định [39, tr.
Tác giả cũng tập trung làm rõ sự thể hiện của nguyên tắc này qua các giai đoạn khởi tố, điều tra, xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm. Bằng việc tác giả phân tích các quy định của pháp luật về căn cứ ra quyết định đình chỉ vụ án, quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung, quy định về giới hạn xét xử, thẩm quyền xét xử… đã cho thấy suy đoán vô tội là một nguyên tắc rất quan trọng, cần được cơ quan tiến hành tố tụng tuân thủ trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Cuốn sách được xuất bản năm 2011, do đó, những kết luận mà tác giả đưa ra là dựa trên nghiên cứu của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, đến thời điểm hiện tại, theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, những nội dung này đều đã có những sự thay đổi nhất định. Luận văn thạc sĩ luật học “Nguyên tắc suy đoán vô tội trong luật tố tụng hình sự Việt Nam” của tác giả Lâm Anh Tuấn tại Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2016.
Đây là công trình nghiên cứu về nguyên tắc suy đoán vô tội có cập nhật đầy đủ những quan điểm mới và quy định mới về vấn đề này được thể hiện trong Hiến pháp 2013 cũng như Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Trong công trình của mình tác giả cũng đưa ra quan điểm về nguyên tắc suy đoán vô tội như sau: Nguyên tắc suy đoán vô tội là một nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng hình sự Việt Nam, theo đó một người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi tội phạm của họ được chứng minh theo trình tự, thủ tục luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã 11 có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra tác giả còn đưa ra quan điểm ucar mình về nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội, cũng như ý nghĩa của nguyên tắc này đặc biệt là trong việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tố tụng hình sự. Luận văn thạc sĩ “Nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự Việt Nam” của tác giả Phạm Nguyễn Việt Cường, tại Học viện khoa học xã hội năm 2019.
Trong luận văn của mình, tác giả đưa ra phân tích về khái niệm, đặc điểm của suy đoán vô tội cũng như nguyên tắc suy đoán vô tội, đồng thời phân tích nội dung thể hiện của nguyên tắc suy đoán vô tội trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Một nội dung đặc sắc của luận văn này đó là tác giả đưa ra phân tích về mối quan hệ của nguyên tắc suy đoán vô tội với các nguyên tắc khác trong tố tụng hình sự Việt Nam như nguyên tắc tranh tụng, nguyên tắc bình đẳng, nguyên tắc xác định sự thật của vụ án hình sự… Luận văn thạc sĩ luật học “Bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh” của tác giả Nguyễn Văn Phúc, tại Học viện Khoa học xã hội năm 2020. Trong luận văn này, tác giả phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong một giai đoạn tố tụng cụ thể là giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Theo đó, tác giả cho rằng khái niệm bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là Việc Tòa án và những người có thẩm quyền ở cấp xét xử lần đầu vụ án hình sự có trách nhiệm thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật và tạo các điều kiện cần thiết để bảo đảm cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không bị coi là có tội cho đến khi có Bản án kết tội của Tòa án.
Đồng thời tác giả cũng đưa ra phân tích về nội dung của bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội gồm có: bảo đảm người bị buộc tội được suy đoán vô tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật; bảo đảm trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng, người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh mình vô tội; bảo đảm mọi nghi ngờ trong quá trình chứng minh tội phạm đối với người bị buộc tôi, nếu không bị loại trừ theo trình tự thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định thì phải được giải thích có lợi cho họ; bảo đảm bản án kết tội của tòa án không được dựa trên những giả định… 12 * Nhóm các công trình là các giáo trình, sách chuyên khảo: Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam của “Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội năm 2018, trong giáo trình này, nội dung về chương 3 thể hiện về các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự Việt Nam, trong đó có phân tích một cách khái quát nhất về nguyên tắc suy đoán vô tội và sự thể hiện của nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự Việt Nam. Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2019, trong đó giáo trình dành 01 chương phân tích về hệ thống các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự Việt Nam trong đó có nguyên tắc suy đoán vô tội. Đồng thời đưa ra phân tích về sự thể hiện của nguyên tắc suy đoán vô tội trong hệ thống tố tụng hình sự Việt Nam.
Sách chuyên khảo“Những nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự Việt Nam” của các tác giả Hoàng Thị Sơn, Bùi Kiên Điện (Nxb. Công an nhân dân, 1999) tập trung làm sáng tỏ nội dung của các nguyên tắc cơ bản trong tố tụng hình sự, trong đó có nguyên tắc suy đoán vô tội. Theo các tác giả, nguyên tắc suy đoán vô tội là một bước tiến trong nhận thức của loài người theo hướng tôn trọng và bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự [83.