Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu an toàn tài chính của công ty chứng khoán Chương 2: Cơ sở lý luận về an toàn tài chính của công ty chứng khoán Chương 3: Thực trạng an toàn tài chính của các công ty chứng khoán Việt Nam Chương 4: Giải pháp đảm bảo an toàn tài chính của các công ty chứng khoán Việt Nam. 8 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU AN TOÀN TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU An toàn tài chính của các định chế tài chính nói chung và ATTC của các CTCK nói riêng là vấn đề đã đƣợc rất nhiều các nhà nghiên cứu kinh tế trên thế giới và trong nƣớc quan tâm. Mặc dù, ATTC đƣợc coi là một vấn đề nóng và là một trong những mối quan tâm hàng đầu của các nhà quản lý kinh tế ở các quốc gia từ sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 - 2009, nhƣng vấn đề liên quan đến CTCK, ATTC của các định chế tài chính và ATTC của CTCK đã đƣợc nghiên cứu ở rất nhiều công trình khoa học từ trƣớc đó rất lâu.
Có thể kể tới những công trình khoa học nghiên cứu các vấn đề liên quan đến ATTC của các định chế tài chính, liên quan đến các CTCK Việt Nam và ATTC của CTCK nhƣ sau: 1. Nghiên cứu liên quan đến an toàn tài chính của các định chế tài chính -Nghiên cứu của tác giả Philip L. Nghiên cứu này chỉ ra mạng lƣới ATTC của một quốc gia đó là an toàn hệ thống của các ngân hàng thƣơng mại, công ty bảo hiểm và CTCK. Nghiên cứu cũng xây dựng đƣợc cấu trúc về mạng lƣới ATTC phù hợp với điều kiện của các nƣớc Mỹ La Tinh.
- Nghiên cứu của tác giả Haseeb Zaman Babar và Gul Zeb (2011), “Camels Rating System for Banking industry in Pakistan” [58]. Trong nghiên cứu này, các tác giả đã thu thập dữ liệu của 17 ngân hàng ở Pakistan tính đến tháng 12 năm 2010. Trên cơ sở mô hình Camel, nghiên cứu đã xếp hạng các ngân hàng này từ đó đánh giá mức độ ATTC của từng ngân hàng trong giai đoạn nghiên cứu. - Nghiên cứu của tác giả Misha Aswini Kumar, G.SriHasha, Shivi Anand và Neil Rajesh Dhuva (2012), “Analyzing Soundness in Indian Banking: A Camel Approad” [73].
Nghiên cứu này đã đánh giá mức độ ATTC và lành mạnh của hệ thống ngân hàng Ấn Độ theo mô hình Camel theo hai nhóm ngân hàng quốc doanh và ngân hàng tƣ nhân. Số liệu nghiên cứu đƣợc sử dụng là số liệu 9 thống kê của các ngân hàng trong vòng 11 năm (giai đoạn nghiên cứu từ năm 2000 đến năm 2011). Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, các ngân hàng quốc doanh của Ấn Độ luôn có mức xếp hạng Camel tốt hơn các ngân hàng tƣ nhân, điều đó có nghĩa là mức độ ATTC và lành mạnh của các ngân hàng quốc doanh luôn cao hơn các ngân hàng tƣ nhân. Các ngân hàng quốc doanh hàng đầu Ấn Độ có mức độ ATTC cao nhất và ngân hàng tƣ nhân nhƣ Union Bank và SBI có mức độ ATTC thấp nhất theo xếp hạng Camel.
- Nghiên cứu của tác giả Wirnkar và Tanko (2008), “Camels and Banks Performance Evaluation: The way Forward” [75]. Đề tài này nghiên cứu tầm quan trọng của các yếu tố cấu thành nên hệ thống Camels, từ đó xây dựng bộ chỉ tiêu tối ƣu để đánh giá mức độ ATTC của các định chế tài chính. Số liệu dùng để nghiên cứu trong đề tài này đƣợc lấy từ BCTN của các ngân hàng Nigeria giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2005. Kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng không có yếu tố riêng lẻ nào trong hệ thống Camels có đủ khả năng đánh giá toàn diện một định chế tài chính cụ thể là một ngân hàng.
Vì vậy cần kết hợp các yếu tố theo những tỷ trọng nhất định hay nói cách khác là xây dựng một cấu trúc tỷ trọng tối ƣu cho từng yếu tố trong hệ thống Camels. - Ở Việt Nam, có Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ Tài chính của PGS,TS. Nguyễn Thị Hoài Lê (2014), “An toàn tài chính của các định chế tài chính trung gian sau khủng hoảng” [30]. Trong đề tài này, tập thể tác giả đã tổng kết lý luận về các định chế tài chính trung gian và ATTC của các định chế tài chính này.
Phân tích thực trạng ATTC của các định chế tài chính trung gian ở Việt Nam sau khủng hoảng. Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, đề tài đã kiến nghị các biện pháp nhằm đảm bảo ATTC của các định chế tài chính trung gian nhằm vƣợt qua hậu khủng hoảng. Đây là những giải pháp rất có ý nghĩa đặc biệt với các định chế tài chính trung gian là các NHTM trong giai đoạn sau khủng hoảng. Tuy nhiên, đề tài lại chƣa đề cập đến vấn đề ATTC mang tính hệ thống của các CTCK Việt Nam giai đoạn sau năm 2012.
Nghiên cứu liên quan đến các công ty chứng khoán ở Việt Nam - Đề tài nghiên cứu khoa học cấp UBCKNN của Thạc sỹ Phƣơng Hoàng Lan Hƣơng (2004), “Các giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của các tổ chức cung ứng dịch vụ chứng khoán trong điều kiện hội nhập” [25]. Đề tài đã 10 nghiên cứu về tính đặc thù và khuynh hƣớng cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ tài chính nói chung và dịch vụ chứng khoán nói riêng, đồng thời đánh giá năng lực cạnh tranh của các tổ chức cung ứng dịch vụ chứng khoán ở Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các tổ chức cung ứng dịch vụ chứng khoán trong điều kiện hội nhập. Tuy nhiên, đề tài chƣa đề cập đến khía cạnh nội dung về ATTC của các tổ chức cung ứng dịch vụ chứng khoán. - Luận án Tiến sỹ kinh tế của tác giả Lê Thị Hƣơng Lan (2008), ĐH Kinh tế Quốc dân.“Phát triển hoạt động của công ty chứng khoán ở Việt Nam” [26].
Trong luận án, tác giả đã hệ thống các nội dung có liên quan đến tổ chức và hoạt động của CTCK, kinh nghiệm hình thành và phát triển CTCK ở một số nƣớc trên thế giới, từ đó đề xuất giải pháp phát triển hoạt động nghiệp vụ của các công ty chứng khoán Việt Nam. Phạm vi của đề tài này nghiên cứu hoạt động của các CTCK ở Việt Nam từ năm 2000 đến 2007, tuy nhiên vấn đề ATTC đối với CTCK chƣa đƣợc đặt ra. - Đề tài nghiên cứu khoa học cấp UBCKNN của Nguyễn Thị Lệ Thúy (2009), “Xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của các công ty chứng khoán” [46]. Đề tài đã làm rõ vai trò của hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động CTCK, kinh nghiệm quốc tế về nội dung này, thực trạng đánh giá hiệu quả hoạt động của các CTCK Việt Nam, từ đó đề xuất các chỉ tiêu và giải pháp thực hiện đối với đánh giá hiệu quả hoạt động của CTCK.
Đây là hệ thống các chỉ tiêu có ý nghĩa trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động của CTCK nhƣng chƣa đề cập đến chỉ tiêu phản ánh ATTC của CTCK. - Đề tài nghiên cứu khoa học cấp UBCKNN của tác giả Ths. Đề tài đã hệ thống các quan điểm cơ bản về quản trị doanh nghiệp, bao gồm việc tổ chức, kiểm soát nội bộ và QTRR đối với các CTCK Việt Nam, tiếp cận lý luận hiện đại về quản trị doanh nghiệp tại các CTCK. Đồng thời, đề tài cũng đánh giá thực trạng quản trị doanh nghiệp của các CTCK Việt Nam, bao gồm việc tổ chức kế toán quản trị, QTRR và kiểm soát nội bộ.
Từ đó, tác giả đã đề xuất định hƣớng để hoàn thiện cơ chế quản trị doanh 11 nghiệp tại các CTCK Việt Nam. Tuy nhiên, trong đề này cũng chƣa nghiên cứu về ATTC của các CTCK Việt Nam. - Luận án Tiến sỹ kinh tế của tác giả Bùi Thị Thùy Nhi (2012), Học viện Khoa học Xã hội,“Quản lý nhà nước đối với TTCK ở một số nước châu Á và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” [35]. Trong luận án, tác giả đã nghiên cứu một số vấn đề chung về quản lý nhà nƣớc đối với TTCK, một số nhân tố và các mô hình quản lý TTCK.
Thực trạng quản lý nhà nƣớc đối với TTCK ở một số nƣớc châu Á hiện nay và rút ra bài học cho Việt Nam. - Luận án Tiến sỹ kinh tế của tác giả Trần Quang Phú (2012), Học viện Khoa học Xã hội, “Hội nhập thị trường chứng khoán Việt Nam vào thị trường chứng khoán khu vực ASEAN” [36]. Luận án đã chứng minh bằng lý luận và thực tiễn hội nhập TTCK Việt Nam vào TTCK ASEAN là một khách quan kinh tế. Luận án khẳng định, để thúc đẩy tiến trình hội nhập vào TTCK khu vực ASEAN, trƣớc hết Việt Nam cần tạo lập các tiền đề cần thiết để nâng cao năng lực của các chủ thể trên thị trƣờng bao gồm: các chủ thể phát hành, cơ quản quản lý, giám sát thị trƣờng và các trung gian tài chính trong đó có các CTCK.
Đồng thời, tạo lập môi trƣờng pháp lý cũng nhƣ các điều kiện kỹ thuật công nghệ cần thiết cho tiến trình này. - Luận án Tiến sỹ kinh tế của tác giả Nguyễn Lê Cƣờng (2012), Học viện Tài chính, “Phát triển bền vững công ty chứng khoán ở Việt Nam” [17]. Luận án đã xây dựng hệ thống lý luận cơ bản về phát triển bền vững CTCK, xác lập và hoàn thiện hệ thống các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển bền vững của CTCK trong bối cảnh quá trình hội nhập quốc tế của TTCK Việt Nam ngày một mở rộng. Đồng thời, tác giả đã đánh giá sát thực thực trạng phát triển của các CTCK Việt Nam, từ đó đề xuất định hƣớng và hệ thống các giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của các CTCK ở Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo.
Tuy nhiên, luận án chƣa đi sâu vào nghiên cứu về các giải pháp đảm bảo ATTC cho các CTCK Việt Nam. - Luận án Tiến sỹ kinh tế của tác giả Nguyễn Thị Cẩm Thúy (2013), Đại học Kinh tế Quốc dân, “Hoàn thiện phân tích tình hình tài chính của các công ty chứng khoán Việt Nam” [47]. Luận án đã hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về tình hình tài chính và phân tích tình hình tài chính tại các 12 CTCK. Phân tích và đánh giá một cách khách quan những tồn tại của các CTCK Việt Nam trong phân tích tình hình tài chính và chất lƣợng thông tin tài chính do CTCK công bố.