Chương 1 là chương tổng quan tình hình nghiên cứu, trong chương này tập trung các hướng nghiên cứu: Liên kết trong đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao kết quả nghiên cứu; Liên kết trong sản xuất và thương mại hóa kết quả; Liên kết thông qua thể chế, cơ chế, chính sách. Chương 2 là chương nghiên cứu cơ sở lý luận về liên kết giữa cộng đồng khoa học và doanh nghiệp, trong chương này tập trung các hướng nghiên cứu: Một số khái niệm liên quan đến liên kết giữa cộng đồng khoa học và doanh nghiệp; Một số lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu; Vai trò liên kết giữa cộng đồng khoa học và doanh nghiệp; Khung phân tích; Tổng quan liên kết giữa cộng đồng khoa học và doanh nghiệp. Chương 3 là chương thực tiễn về liên kết giữa cộng đồng khoa học và doanh nghiệp. Chương 3 tập trung vào hai nội dung nghiên cứu chính: 1) Nghiên cứu liên kết giữa cộng đồng khoa học và doanh nghiệp trong đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao kết quả nghiên cứu, trong chương này tập trung các hướng nghiên cứu: Các hình thức liên kết trong đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao kết quả nghiên cứu; các nhân tố, yếu tố tác động đến liên kết.
2) Nghiên cứu liên kết giữa cộng đồng khoa học và doanh nghiệp trong sản xuất và thương mại hóa sản phẩm, trong chương này tập trung các hướng nghiên cứu: Liên kết trong sản xuất và thương mại hóa kết quả; các nhân tố, yếu tố tác động đến liên kết. Kết luận và khuyến nghị Danh mục các công trình đã công bố Tài liệu tham khảo Phụ lục 13 Chƣơng 1 TỔNG QUAN NGHI N CỨU VỀ LI N ẾT GIỮA CỘNG ĐỒNG HOA HỌC VÀ DOANH NGHIỆP 1. Dẫn nhập Nghiên cứu liên kết giữa cộng đồng khoa học và doanh nghiệp là một trong những hướng nghiên cứu được quan tâm nhiều vào khoảng thời gian những năm 1960 gắn liền với các cuộc cách mạng khoa học và kỹ thuật trước đây trên thế giới và cách mạng khoa học công nghệ, tuy nhiên số lượng các công trình nghiên cứu và tính liên tục còn rất hạn chế. Hiện nay, dưới sự tác động của CMCN4.0, đổi mới mô hình tăng trưởng để phát triển nhanh và bền vững quốc gia là xu thế các nước đang tiến hành, nhiều nước đã hoạch định chiến lược, chính sách phát triển và triển khai thực hiện, đã tác động tạo ra nhiều sự thay đổi, đổi mới mô hình liên kết giữa khu vực nhà nước, khu vực doanh nghiệp và khu vực hàn lâm (viện, trường) ở nhiều ngành, lĩnh vực.
Trong tổng quan tập trung vào một số hướng chính: 1. Các hƣớng nghiên cứu liên quan đến luận án 1. Liên kết trong đào tạo Xuất phát từ chuẩn mực trong hợp tác nghiên cứu, đào tạo các hình thức liên kết được hình thành và được nghiên cứu. Hợp tác, liên kết trong đào tạo, nghiên cứu vừa là nhu cầu, vừa là yêu cầu đối với doanh nghiệp Theo Fransman và King (1984), một DN hay một tổ chức có được một năng lực nội sinh, DN cần phải có một mức độ hiểu biết nhất định thông qua giáo dục, đào tạo và kinh nghiệm [54].
Trong nước có một số nghiên cứu về liên kết giữa viện, trường và doanh nghiệp trong đào tạo dưới nhiều nội dung khác nhau xu hướng nghiên cứu chung chủ yếu nghiên cứu liên kết trong đào giữa khu vực trường và doanh nghiệp. “Sự gắn kết giữa nhà 14 trường và doanh nghiệp trong đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển KT-XH ở Việt Nam: Thực trạng và khuyến nghị” nghiên cứu đề cập đến thực trạng nguồn nhân lực và nhu cầu của tổ chức sử dụng. Đề xuất một số khuyến nghị (i) Đổi mới và tăng cường công tác quản lý của nhà nước trong việc xây dựng mối gắn kết bền vững giữa nhà trường và DN. Khi đã chọn trường và ngành học thì cần xác định rõ tầm quan trọng của ngành nghề để có cách tiếp nhận và học tập đúng đắn [18, tr32].
Gần đây, có nghiên cứu của Mai Hà (2019) về “Đổi mới và tính khoa học của thuật ngữ “đổi mới” theo nghĩa “innovation” trong các nghiên cứu chính sách ở Việt Nam có nhấn mạnh khái niệm đổi mới, đó là đổi mới quá trình không chỉ của những hoạt động sáng tạo, mà hoạt động sáng tạo muốn có được hiệu ứng đạt tới giá trị bền vững thì buộc phải tích hợp với các hoạt động liên quan như đầu tư cho sáng tạo, đào tạo nhân lực sáng tạo, tạo môi trường tôn trọng sáng tạo [17, tr 8]. Nhìn chung, các nghiên cứu trong nước ít tập trung làm rõ liên kết giữa Viện và DN trong đào tạo, chủ yếu nghiên cứu liên kết giữa trường và doanh nghiệp trong đào tạo (theo mô hình tổ chức cũ chức năng nhiệm vụ đào tạo chủ yếu ở khu vực các trường, các Viện chủ yếu hoạt động NC PT, tuy nhiên từ sau năm 1986, bối cảnh đất nước có nhiều đổi mới, mô hình tổ chức KH CN, GD-ĐT (viện, trường ở cả khu vực công và tư), mô hình kinh tế đã có nhiều thay đổi, sự chuyển đổi các mô hình tổ chức KH&CN, GD-ĐT làm thay đổi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các tổ chức, rất nhiều Viện hoạt động đào tạo sau đại học, đào tạo ngắn hạn, đào tạo nghiệp vụ, các hoạt động này gắn kết với hoạt động sản xuất, kinh doanh, với doanh nghiệp, do chưa nắm bắt kịp với sự thay đổi, chuyển đổi các mô hình tổ chức KH CN, GD-ĐT, ít có công trình nghiên cứu. Từ bối cảnh chuyển đổi của đất nước, tác giả Đào Thanh Trường (2009) trong luận 15 án tiến sĩ nghiên cứu “Di động xã hội của cộng đồng khoa học” đã nêu ở nước ta trong thời kỳ chuyển đổi từ hệ thống kinh tế chỉ huy sang hệ thống kinh tế thị trường, nghiên cứu di động xã hội cần phải xem x t sự di chuyển từ vai trò này sang vai trò khác mà con người đảm nhận [10, tr 39]. Liên kết trong nghiên cứu, chuyển giao kết quả nghiên cứu Ở các nước phát triển, doanh nghiệp coi trọng ứng dụng kết quả NC PT từ các tổ chức khoa học vào hoạt động sản xuất, đối với các tổ chức khoa học việc hợp tác trong nghiên cứu và chuyển giao được kết quả NC PT là thước đo quan trọng chứng minh hiệu quả và giá trị của tổ chức.
Barry Bozeman, Daniel Fay và Catherine Slade (2012) đưa ra bằng chứng cho thấy hợp tác đã trở thành tiêu chuẩn trong mọi lĩnh vực nghiên cứu khoa học và kỹ thuật. Hợp tác nhằm mục đích chủ yếu là mở rộng cơ sở tri thức (tập trung vào kiến thức) cũng như các hoạt động tập trung vào sản xuất giá trị kinh tế và sự giàu có (tập trung vào tài sản). Các tác giả đề xuất để cải thiện khả năng hợp tác nghiên cứu cần: (1) chú ý đến nhiều cấp độ phân tích và tương tác; (2) đo lường cẩn thận các tác động như trái ngược với đầu ra (đi ngược với mục tiêu đầu ra); (3) nghiên cứu về "sự lạm dụng" trong hợp tác, bao gồm khai thác trí tuệ; (4) tăng sự chú ý đến động cơ cộng tác và tâm lý xã hội của các nhóm cộng tác [38]. Tuy nhiên, do xuất phát điểm của hợp tác, liên kết từ yếu tố lợi ích kinh tế được đặt lên, do đó có nghiên cứu đề xuất cần chú ý đến sự hợp tác, liên kết.
Một trong những cơ sở hạ tầng của giai đoạn đổi mới là cộng tác chương trình NC PT bao gồm nghiên cứu đặc điểm trước cạnh tranh, phát triển các công nghệ dẫn đầu và năng lực đáp ứng số đông. Để có được điều này, cần phải có sự hiểu biết, lợi ích của sự hiểu biết ở chỗ chứng minh, một cách đặc biệt trong mối quan hệ phải đi đến quá trình tiến hành sở hữu trí tuệ [44, tr351-407]. Sự khác biệt giữa các nước phát triển và đang phát triển đó là nhu cầu về ứng dụng kết quả NC PT vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của 16 các doanh nghiệp, trong nước hiện nay rất ít doanh nghiệp có nhu cầu về việc liên kết với các tổ chức khoa học để mua, ứng dụng kết quả NC PT vào hoạt động sản xuất, Phan Xuân Dũng (2016), tiếp cận từ vai trò đẩy mạnh hoạt động KH&CN phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước chỉ ra so với yêu cầu phát triển, KH CN nước ta còn chưa thật sự trở thành động lực thúc đẩy phát triển đất nước, chưa gắn kết chặt chẽ với mục tiêu, nhiệm vụ phát triển KT-XH; thị trường KH CN còn sơ khai, chưa tạo sự gắn kết có hiệu quả giữa nghiên cứu với đào tạo và sản xuất, kinh doanh; đầu tư cho KH CN còn thấp, sử dụng chưa hiệu quả [25]. Liên kết trong sản xuất Tiếp cận hướng nghiên cứu mô hình liên kết khoa học và sản xuất, Phan Tuấn Huy (2016) đã nghiên cứu: Mô hình liên kết khoa học và sản xuất ở một số Viện thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam [24], trên cơ sở tiếp cận các mô hình gắn kết tác giả đã đưa ra 2 nhóm mô hình liên kết nghiên cứu khoa học với sản xuất cụ thể: Nhóm mô hình liên kết chuyển giao các kết quả đã nghiên cứu vào thực tiễn sản xuất.
Nhóm các mô hình liên kết thực hiện đơn đặt hàng của doanh nghiệp, các đơn vị sản xuất hoặc của UBND các tỉnh và thành phố trong cả nước. Các mô hình trên đều có những mặt mạnh, mặt yếu riêng. Vì vậy, cần tìm ra những mô hình liên kết giữa nghiên cứu khoa học và sản xuất phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả nghiên cứu khoa học và thúc đẩy việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu của các Viện thuộc Viện Hàn lâm KHCNVN. Nguyễn Quang Tuấn (2014) trong nghiên cứu “Thúc đẩy chuyển giao kết quả nghiên cứu và phát triển vào sản xuất, kinh doanh” đã nêu ở nước ta việc áp dụng kết quả NC PT của các tổ chức KH CN vào sản xuất, kinh doanh còn nhiều hạn chế, nguyên nhân cơ bản dẫn đến thực trạng nêu trên là do “cầu” kết quả NC PT trên thị trường (tức là bên mua 17 các sản phẩm và dịch vụ KH CN), nguyên nhân thứ hai thuộc về “cung” sản phẩm và dịch vụ KH CN, tức là bên bán các sản phẩm và dịch vụ KH CN.
Nhìn chung, các đề tài nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ ở Việt Nam chủ yếu dựa trên những gì mà các nhà KH CN hiểu biết chứ chưa phải dựa trên nhu cầu thực sự của sản xuất, kinh doanh. Vì vậy, kết quả nghiên cứu của các đề tài khó có thể áp dụng vào sản xuất, kinh doanh.