Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu kỹ năng quản lý cảm xúc của giáo viên mầm non; Chương 2: Cơ sở lý luận về kỹ năng quản lý cảm xúc của giáo viên mầm non; Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu kỹ năng quản lý cảm xúc của giáo viên mầm non tại thành phố Hồ Chí Minh; Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực tiễn kỹ năng quản lý cảm xúc của giáo viên mầm non tại thành phố Hồ Chí Minh. 6 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU KỸ NĂNG QUẢN LÝ CẢM XÚC CỦA GIÁO VIÊN MẦM NON Liên quan đến vấn đề kỹ năng quản lý cảm xúc của GVMN, đã có một số nghiên cứu ở trong và ngoài nước được tiến hành và thu về kết quả. Khi tổng quan các kết quả nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành hệ thống và bình luận theo ba hướng chính: những nghiên cứu về quản lý cảm xúc; những nghiên cứu về kỹ năng quản lý cảm xúc; những nghiên cứu về yêu cầu nghề nghiệp đối với GVMN. Những nghiên cứu về quản lý cảm xúc Làm thế nào để quản lý được cảm xúc của bản thân và của người khác nhằm đạt được mục đích giao tiếp? Đây là câu hỏi kéo theo rất nhiều các nghiên cứu của các nhà khoa học đi tìm kiếm câu trả lời.
Dựa trên mục đích tìm hiểu, những nghiên cứu này được chúng tôi chia thành hai khuynh hướng, một là những nghiên cứu về quản lý cảm xúc của các đối tượng khác nhau; hai là những nghiên cứu về lao động cảm xúc, công việc cảm xúc và quản lý cảm xúc của giáo viên. Hướng nghiên cứu về quản lý cảm xúc của các đối tượng khác nhau A.Bandura (1985) đã nhấn mạnh tầm quan trọng của quá trình nhận thức trong quản lý hành vi cảm xúc, đề cao vai trò của tự quản lý hành vi, trong đó có đề cập đến tự quản lý cảm xúc bản thân. Ông cho rằng học tập thông qua việc bắt chước hành vi mẫu là một dạng quản lý cảm xúc. Việc quản lý cảm xúc không chỉ sử dụng các kích thích khác nhau nhằm củng cố hay kìm hãm một hành vi nào mà còn tạo ra hành vi mới bằng cách đưa ra hành vi mẫu.
Phương pháp quản lý này là giúp con người nhận diện những nhân tố duy trì cảm xúc cần quản lý và tìm cách loại bỏ chúng. Như vậy, quá trình nhận thức cảm xúc bản thân đóng vai trò rất quan trọng, mục đích của phương pháp quản lý cảm xúc bằng hành vi là giúp cá nhân nhận diện ra những cảm xúc không mong muốn của bản thân và quản lý chúng. Tuy nhiên trong quá trình quản lý, sự thay đổi của những cảm xúc diễn ra trên cơ sở những nhận thức sai lầm của người được quản lý sẽ làm xuất hiện những cảm xúc âm tính và những khó khăn. Mục đích của quản lý cảm xúc theo hướng tiếp cận này là điều chỉnh nhận thức [123].
Erber R, Wegner DM, Thierrault N. (1996) nghiên cứu ảnh hưởng của tương tác xã hội để dự đoán việc điều chỉnh tâm trạng. Nghiên cứu này gồm 3 nghiên cứu nhỏ: Nghiên cứu 1 tìm hiểu cảm xúc vui và buồn thông qua tiếp xúc với âm nhạc. Tất cả những người tham gia sẽ thực hiện một nhiệm vụ thử nghiệm không liên quan với chính họ và những người tham gia khác.
Những người tham gia sẽ thực hiện nhiệm vụ 7 một mình bằng cách chọn các câu chuyện tích cực và tiêu cực, và tương tác các câu chuyện ưa thích có chứa nội dung không phù hợp với tâm trạng của họ. Nghiên cứu 2 đã xác nhận kết quả này, nó cho thấy có sự giới hạn trong dự đoán điều chỉnh tâm trạng khi tương tác với các đối tượng có tâm trạng trung lập hoặc tốt. Trong nghiên cứu 3, những người tham gia có tâm trạng trung lập hoặc tốt sẽ giảm khả năng tiếp xúc với các video vui vẻ hoặc buồn bã khi họ muốn tương tác với người khác [148]. (2003) kết luận rằng, cảm xúc tốt hay xấu không phải là bất biến và động lực điều chỉnh cảm xúc chỉ có thể được hiểu trong bối cảnh cụ thể mà trong đó cảm xúc xảy ra.
Nói cách khác, điều tiết cảm xúc không phải là cân bằng nội tại, mà là sự linh hoạt năng động trong trải nghiệm cảm xúc, khả năng theo đuổi và ưu tiên các mục tiêu khác nhau, khả năng vận động có chọn lọc và chủ động lựa chọn cảm xúc, nhận thức trong những hoàn cảnh cụ thể [140]. và cộng sự (2004) nghiên cứu động cơ và chuẩn mực điều tiết cảm xúc, nhóm tác giả tập trung trả lời câu hỏi lý do tại sao các cá nhân điều chỉnh cảm xúc của họ và các động cơ thúc đẩy được gợi ra trong bối cảnh xã hội. Trước hết, nhóm tác giả xem xét nghiên cứu về các chuẩn mực cảm xúc, cả trong quan hệ cá nhân và trong quan hệ công việc. Kết quả cho thấy các chuẩn mực cảm xúc chung liên quan đến những gì cá nhân cảm nhận và làm thế nào để thể hiện những cảm xúc này đang dần suy yếu.
Thay vào đó, các chuẩn mực cá nhân được chú ý nhiều hơn và đặc biệt là các động cơ liên quan đến các tác động dự kiến của các biểu hiện cảm xúc của mỗi cá nhân đã đạt được tầm quan trọng. Nghiên cứu cũng cho thấy các chuẩn mực cảm xúc và động cơ điều chỉnh ít tuân thủ các chuẩn mực chung mà ưu tiên cho các mục tiêu xã hội ở mức độ vi mô [150]. (1984) [219] trong nghiên cứu “Ứng phó, hỗ trợ xã hội và kết quả tâm lý: Vai trò trung tâm của cảm xúc” và Collins, N. (2009) đã nghiên cứu về sự chia sẻ xã hội và cảm xúc và chỉ ra sự chia sẻ xã hội không chỉ đóng một vai trò quan trọng trong việc cung cấp những thông tin 8 mà có thể phục vụ chức năng quan trọng về tâm lý và xã hội.
Chia sẻ xã hội, có thể làm giảm khoảng cách vật lý và các đặc điểm cá nhân và đóng góp vào sự phát triển của quan hệ gần gũi [207]. Dưới góc độ nghiên cứu sự nghiền ngẫm hay ngăn cản cảm xúc, Nolen- Hoeksema, S. (1997) khi tìm hiểu “Sự nghiền ngẫm và rối nhiễu tâm lý ở những người mất người thân” và Nolen-Hoeksema, S. (1994) nghiên cứu “Sự công kích trong quá trình khống chế tâm lý” và cho thấy có một lý thuyết về “sự công kích trong quá trình kiểm soát tinh thần” được đề xuất để giải thích cho các tác động có chủ ý và phản tác dụng do các nỗ lực tự kiểm soát các trạng thái tinh thần.
Lý thuyết này cho rằng một nỗ lực kiểm soát tâm trí bao gồm 2 quy trình: (1) một quy trình vận hành nhằm thúc đẩy sự thay đổi dự định bằng cách tìm kiếm nội dung tinh thần phù hợp với trạng thái dự định và (2) một quy trình giám sát để kiểm tra xem liệu quy trình vận hành có cần thiết không, bằng cách tìm kiếm nội dung tinh thần không phù hợp với trạng thái dự định. Quá trình hoạt động đòi hỏi năng lực nhận thức lớn hơn và thông thường có tác dụng nhận thức rõ rệt hơn quá trình theo dõi, và cả hai làm việc cùng nhau do đó thúc đẩy bất kỳ mức độ kiểm soát tâm thần nào được hưởng [228]. Giảm khả năng nhận thức cho sự ngăn chặn hành vi biểu cảm đến từ một nghiên cứu của Gilbert, D. (1999) đã tiến hành nghiên cứu hệ quả về nhận thức trong quá trình con người cố gắng ngăn chặn cảm xúc và cho thấy: ngăn chặn biểu hiện cảm xúc làm suy yếu bộ nhớ cho thông tin gặp phải trong thời kỳ ngăn chặn.
Tuy nhiên, có rất ít bằng chứng cho thấy sự ngăn chặn biểu hiện cảm xúc tự nhiên dẫn đến suy giảm kinh nghiệm cảm xúc và kích thích sinh lý ngoài các thao tác của biểu hiện sự đau đớn [208]. (1995) nghiên cứu về hành vi cảm xúc trong những cuộc hôn nhân lâu dài và Levenson, R. (1994) nghiên cứu về ảnh hưởng của tuổi tác, giới tính, sinh lý và mối quan giữa chúng trong các cuộc hôn nhân lâu dài đã chỉ ra rằng, sự hài lòng của hôn nhân tăng khi giảm biểu hiện cảm xúc tiêu cực. Thành công việc sửa đổi nét mặt của cảm xúc, có thể quan trọng trong mối quan hệ của con người và hôn nhân, nhưng nó không giúp nhiều để làm giảm cảm xúc tiêu cực của cá nhân [133], [181].
Nhằm tìm hiểu mối quan hệ giữa quyền tự chủ cảm xúc và tuổi tác, tại Hội nghị lần thứ VII Biennial của Hiệp hội Châu Âu về Nghiên cứu tuổi vị thành niên, Oliva (2000) [195] đã trình bày nghiên cứu về sự liên quan giữa cá nhân, xã hội và gia đình với sự tự chủ cảm xúc ở vị thành niên. Trong nghiên cứu của mình, tác giả nghiên cứu trên 513 thanh thiếu niên thuộc 13 trường công lập và tư nhân ở Seville, nội dung nghiên cứu về mối quan hệ gia đình, quan hệ nhóm và các khía cạnh khác nhau của sự phát triển cá nhân. Trong đó, tập trung kiểm tra mối quan hệ giữa quyền tự chủ về tình cảm của tuổi thanh thiếu niên và các loại cảm xúc tồn tại giữa cha mẹ và con cái; Thứ hai, phân tích các đặc điểm cảm xúc xã hội liên quan đến mức độ tự trị cao trong cảm xúc nữ và nam thanh niên; Thứ ba là nghiên cứu vai trò trung gian của chất lượng môi trường gia đình trong quan hệ giữa quyền tự chủ cảm xúc và phát triển vị thành niên; Cuối cùng, ngoài việc nghiên cứu hoàn cảnh gia đình và văn hóa là các điều kiện chắc chắn của quan hệ giữa quyền tự chủ cảm xúc và phát triển (hoặc điều chỉnh tâm lý) thì giới tính là một điều kiện quan trọng cần nghiên cứu (theo Scott, 1998) [dẫn theo 212]. Daniel Goleman trong một số ấn phẩm về trí tuệ cảm xúc đã chứng minh rằng: cấu tạo của bộ não khiến chúng ta thường không làm chủ hoặc hiếm khi làm chủ được khi chúng ta bị các cảm xúc cuốn đi.
Tuy nhiên, chúng ta có thể biết được cảm xúc đó kéo dài bao lâu, những cảm xúc buồn bã, lo lắng hay giận dữ thoáng qua không phải là vấn đề nảy sinh thông thường chúng sẽ qua đi theo thời gian, nhưng những cảm xúc này nếu vượt quá giới hạn nhất định, chúng sẽ trở thành nỗi đau khổ cùng cực như lo sợ thường trực, cuồng nộ hay trầm cảm.