Luận án KS. Lê Minh về khó khăn tâm lý trong học tập nhóm SVSP

Nghiên cứu các khó khăn tâm lý sinh viên sư phạm gặp phải khi học tập nhóm theo học chế tín chỉ. Phân tích nguyên nhân và đề xuất giải pháp hỗ trợ hiệu quả.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Tâm lý học

Tác giả

Ẩn danh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2019

222
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về khó khăn tâm lý trong học tập nhóm của sinh viên sư phạm

Khó khăn tâm lý trong học tập nhóm là trạng thái căng thẳng, lo âu, mâu thuẫn nội tâm mà sinh viên trải nghiệm khi tham gia các hoạt động học tập hợp tác nhóm theo học chế tín chỉ. Học tập nhóm là phương pháp học tập có tính tương tác cao, yêu cầu người học không chỉ có trách nhiệm với việc học cá nhân mà còn phải quan tâm đến các thành viên khác và công việc chung của nhóm. Theo học chế tín chỉ, sinh viên sư phạm phải đối mặt với nhiều áp lực về thời gian, phân công công việc, và sự khác biệt trong năng lực cá nhân giữa các thành viên. Những khó khăn tâm lý này bao gồm cảm giác bất an khi trình bày ý kiến trước nhóm, lo sợ bị đánh giá tiêu cực, stress do xung đột nội nhóm, và áp lực phải hoàn thành nhiệm vụ học tập đúng tiến độ. Nghiên cứu của Lê Minh (2019) tại Học viện Khoa học Xã hội đã chỉ ra rằng khó khăn tâm lý trong học tập nhóm ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả học tập và sự phát triển nghề nghiệp của sinh viên sư phạm. Việc hiểu rõ các biểu hiện, nguyên nhân và yếu tố tác động là cơ sở quan trọng để xây dựng giải pháp hỗ trợ sinh viên vượt qua những trở ngại tâm lý này.

1.1. Khái niệm khó khăn tâm lý trong học tập nhóm

Khó khăn tâm lý trong học tập nhóm được hiểu là những trở ngại về mặt tâm lý mà sinh viên gặp phải khi tham gia vào quá trình học tập hợp tác nhóm. Theo các nghiên cứu tâm lý học giáo dục, khó khăn tâm lý bao gồm các trạng thái lo âu, căng thẳng, mâu thuẫn nội tâm, cảm giác bất lực và stress phát sinh trong quá trình tương tác nhóm. Những khó khăn này không chỉ ảnh hưởng đến kết quả học tập mà còn tác động đến sức khỏe tinh thần, sự tự tin và khả năng phát triển kỹ năng xã hội của sinh viên. Đặc biệt trong bối cảnh học chế tín chỉ, sinh viên phải tự quản lý thời gian và phân công công việc nhóm, làm tăng nguy cơ xuất hiện các khó khăn tâm lý phức tạp hơn so với học chế niên chế truyền thống.

1.2. Đặc điểm học tập nhóm theo học chế tín chỉ

Học tập nhóm theo học chế tín chỉ có những đặc điểm riêng biệt so với hình thức học truyền thống. Sinh viên được quyền tự chọn môn học, sắp xếp lịch học và chủ động trong việc xây dựng nhóm học tập. Quy trình học tập nhóm thường gồm bốn bước chính: thành lập nhóm, xây dựng mục tiêu, xây dựng dự án học tập, và tiến hành họp nhóm giải quyết vấn đề. Thời gian họp nhóm lý tưởng kéo dài từ 45 đến 75 phút để đảm bảo mức độ tập trung tối ưu. Học chế tín chỉ đòi hỏi sinh viên phải có kỹ năng tự quản lý, kỹ năng cộng tác và khả năng giải quyết mâu thuẫn trong nhóm hiệu quả. Điều này đặt ra yêu cầu cao về năng lực tâm lý xã hội đối với sinh viên sư phạm.

II. Phân tích các khó khăn tâm lý phổ biến của sinh viên sư phạm

Nghiên cứu thực tiễn cho thấy sinh viên sư phạm đối mặt với nhiều loại khó khăn tâm lý khi học tập nhóm theo học chế tín chỉ. Nhóm khó khăn thứ nhất liên quan đến lo âu và căng thẳng khi phải trình bày quan điểm trước nhóm, sợ bị đánh giá tiêu cực bởi các thành viên khác. Nhóm khó khăn thứ hai là xung đột nội nhóm, phát sinh từ sự khác biệt về quan điểm, năng lực và mức độ cam kết của từng thành viên. Nhóm khó khăn thứ ba là áp lực thời gian và tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, đặc biệt khi lịch học tín chỉ phân tán, khiến việc sắp xếp thời gian họp nhóm trở nên phức tạp. Nhóm khó khăn thứ tư là cảm giác bất lực khi một số thành viên thiếu trách nhiệm, ỷ lại vào người khác, dẫn đến sự phân phối công việc không công bằng. Ngoài ra, sinh viên sư phạm còn chịu ảnh hưởng từ đặc điểm tâm lý nghề nghiệp, bao gồm sự cầu toàn quá mức và nỗi lo về năng lực sư phạm tương lai. Những khó khăn này tương tác và tác động lẫn nhau, tạo thành vòng xoáy tiêu cực ảnh hưởng đến hiệu quả học tập nhóm và sự phát triển toàn diện của sinh viên.

2.1. Lo âu và stress trong quá trình thảo luận nhóm

Lo âu và stress là hai biểu hiện tâm lý phổ biến nhất trong quá trình thảo luận nhóm của sinh viên sư phạm. Sinh viên thường cảm thấy lo lắng khi phải trình bày ý kiến trước nhóm, đặc biệt khi có sự chênh lệch về năng lực giữa các thành viên. Stress phát sinh từ áp lực phải hoàn thành nhiệm vụ đúng tiến độ, từ mâu thuẫn quan điểm trong nhóm, và từ kỳ vọng của giảng viên về chất lượng sản phẩm nhóm. Nghiên cứu chỉ ra rằng mức độ lo âu tăng cao khi sinh viên cảm thấy không được lắng nghe hoặc khi vai trò trong nhóm không rõ ràng. Tình trạng kéo dài có thể dẫn đến chán nản, mất động lực học tập và ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả học tập cá nhân.

2.2. Xung đột nội nhóm và bất đồng quan điểm

Xung đột nội nhóm là khó khăn tâm lý nghiêm trọng trong học tập nhóm theo học chế tín chỉ. Xung đột thường phát sinh từ sự khác biệt về quan điểm học thuật, cách tiếp cận vấn đề, và mức độ cam kết với công việc nhóm. Trong nhóm sinh viên sư phạm, sự cầu toàn và mong muốn thể hiện năng lực cá nhân đôi khi tạo ra cạnh tranh không lành mạnh. Một số xung đột còn bắt nguồn từ bất đồng về phân công vai trò và đánh giá đóng góp của từng thành viên. Khi xung đột không được giải quyết kịp thời, bầu không khí nhóm trở nên căng thẳng, các thành viên thu mình lại và hiệu quả hợp tác giảm sút rõ rệt. Điều này đặt ra yêu cầu cần trang bị cho sinh viên kỹ năng quản lý xung đột và giao tiếp hiệu quả.

III. Giải pháp hỗ trợ sinh viên sư phạm vượt qua khó khăn tâm lý học tập nhóm

Để giảm thiểu khó khăn tâm lý trong học tập nhóm theo học chế tín chỉ, cần triển khai các giải pháp toàn diện trên nhiều cấp độ. Ở cấp độ cá nhân, sinh viên cần được trang bị kỹ năng quản lý cảm xúc, kỹ năng giao tiếp hiệu quả và kỹ năng giải quyết vấn đề. Các khóa tập huấn ngắn hạn về kỹ năng mềm trước khi bước vào học tập nhóm giúp sinh viên tự tin hơn khi tham gia hoạt động hợp tác. Ở cấp độ nhóm, giảng viên nên hướng dẫn quy trình xây dựng nhóm hiệu quả, bao gồm việc phân công vai trò rõ ràng, thiết lập quy tắc nhóm và xây dựng mục tiêu chung từ đầu. Quy trình học tập nhóm cần được chuẩn hóa với các bước cụ thể: thành lập nhóm, xây dựng mục tiêu, xây dựng dự án học tập, và tiến hành họp nhóm giải quyết vấn đề. Ở cấp độ tổ chức, nhà trường cần tạo môi trường hỗ trợ tâm lý thông qua hệ thống tư vấn tâm lý, điều chỉnh lịch học tín chỉ hợp lý để giảm áp lực thời gian. Đánh giá kết quả học tập nhóm cũng cần chú trọng cả quá trình lẫn sản phẩm, khuyến khích sự tham gia bình đẳng của mọi thành viên.

3.1. Rèn luyện kỹ năng quản lý cảm xúc và giao tiếp nhóm

Rèn luyện kỹ năng quản lý cảm xúc là giải pháp cốt lõi giúp sinh viên sư phạm vượt qua khó khăn tâm lý trong học tập nhóm. Sinh viên cần học cách nhận diện và điều chỉnh cảm xúc tiêu cực như lo âu, giận dữ, chán nản khi phát sinh trong quá trình thảo luận nhóm. Kỹ năng giao tiếp hiệu quả bao gồm lắng nghe chủ động, bày tỏ quan điểm một cách tôn trọng, và phản hồi xây dựng. Nhà trường có thể tổ chức các buổi tập huấn kỹ năng mềm, sử dụng tình huống mô phỏng để sinh viên thực hành. Phương pháp phản biện nhóm, thảo luận vai diễn và đánh giá ngang hàng giúp sinh viên phát triển khả năng ứng phó với stress nhóm một cách tự nhiên và bền vững.

3.2. Tổ chức quy trình học tập nhóm khoa học và hiệu quả

Tổ chức quy trình học tập nhóm khoa học giúp giảm thiểu đáng kể khó khăn tâm lý của sinh viên. Quy trình hiệu quả bao gồm bốn bước chính. Bước một, giảng viên nêu vấn đề rõ ràng, sinh viên nắm bắt yêu cầu và phân công nhiệm vụ trong nhóm. Bước hai, nhóm thảo luận, trao đổi và xây dựng sản phẩm học tập chung. Bước ba, các nhóm trình bày báo cáo và nhận phản hồi từ giảng viên cùng các nhóm khác. Bước bốn, giảng viên tổng kết và đánh giá. Thời gian họp nhóm nên kéo dài từ 45 đến 75 phút để đảm bảo tập trung. Các nhóm cần xây dựng quy tắc riêng và mọi thành viên phải tuân thủ nghiêm túc, tạo môi trường học tập an toàn tâm lý cho tất cả thành viên.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn nghiên cứu khó khăn tâm lý học tập nhóm

Nghiên cứu về khó khăn tâm lý trong học tập nhóm theo học chế tín chỉ của sinh viên sư phạm mang lại nhiều giá trị lý luận và thực tiễn quan trọng. Về mặt lý luận, nghiên cứu đã hệ thống hóa các khái niệm, phân loại khó khăn tâm lý và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình học tập nhóm của sinh viên sư phạm. Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng chương trình hỗ trợ tâm lý, thiết kế quy trình học tập nhóm hiệu quả, và đào tạo kỹ năng mềm cho sinh viên sư phạm. Các yếu tố ảnh hưởng bao gồm đặc điểm cá nhân, đặc điểm nhóm học tập, điều kiện tổ chức và vai trò của giảng viên. Ứng dụng thực tiễn cần hướng đến việc tích hợp đào tạo kỹ năng hợp tác vào chương trình đào tạo sư phạm, xây dựng hệ thống tư vấn tâm lý chuyên biệt, và phát triển công cụ đánh giá khó khăn tâm lý trong học tập nhóm. Nghiên cứu mở ra hướng phát triển mới cho việc nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên trong bối cảnh đổi mới giáo dục đại học theo hướng lấy người học làm trung tâm.

4.1. Giá trị lý luận của nghiên cứu

Nghiên cứu đã đóng góp giá trị lý luận đáng kể cho lĩnh vực tâm lý học giáo dục. Thứ nhất, nghiên cứu xây dựng khung lý thuyết về khó khăn tâm lý trong học tập nhóm, phân loại thành các nhóm chính: lo âu cá nhân, xung đột nội nhóm, áp lực thời gian và bất bình đẳng đóng góp. Thứ hai, nghiên cứu xác định các yếu tố tâm lý đặc thù của sinh viên sư phạm ảnh hưởng đến quá trình hợp tác nhóm, bao gồm sự cầu toàn, lo lắng về năng lực sư phạm và xu hướng cạnh tranh học thuật. Thứ ba, nghiên cứu đề xuất mô hình tổng thể về mối quan hệ giữa đặc điểm tâm lý cá nhân, yếu tố nhóm và điều kiện tổ chức trong việc hình thành khó khăn tâm lý học tập nhóm.

4.2. Ý nghĩa thực tiễn đối với đào tạo sư phạm

Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc đối với công tác đào tạo sư phạm hiện nay. Nhà trường sư phạm có thể áp dụng kết quả nghiên cứu để xây dựng chương trình rèn luyện kỹ năng hợp tác nhóm cho sinh viên ngay từ năm đầu. Giảng viên cần được tập huấn về phương pháp tổ chức học tập nhóm hiệu quả và cách nhận diện dấu hiệu khó khăn tâm lý của sinh viên. Hệ thống tư vấn tâm lý học đường cần được tăng cường để hỗ trợ sinh viên kịp thời. Bộ công cụ đánh giá khó khăn tâm lý trong học tập nhóm được xây dựng từ nghiên cứu có thể trở thành tài liệu tham khảo hữu ích cho các cơ sở đào tạo sư phạm trên toàn quốc trong quá trình triển khai đào tạo theo học chế tín chỉ.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án khó khăn tâm lý trong học tập nhóm theo học chế tín chỉ của sinh viên sư phạm

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU KHÓ KHĂN TÂM LÝ TRONG HỌC TẬP NHÓM THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ CỦA SINH VIÊN SƯ PHẠM Trên thế giới và tại Việt Nam đã có rất nhiều nghiên cứu về KKTL, trở ngại tâm lý và hoạt động HTN. Tuy nhiên, vấn đề KKTL trong HTN theo học chế tín chỉ của SVSP chưa được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Chúng tôi trình bày tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến luận án theo 3 hướng sau: + Những nghiên cứu về KKTL trong học tập + Những nghiên cứu về thảo luận nhóm và HTN + Những nghiên cứu về KKTL trong quá trình làm việc nhóm, HTN 1. Những nghiên cứu về khó khăn tâm lý trong học tập Khi nghiên cứu về KKTL trong học tập, ở thập kỷ 70 thế kỷ XX tác giả Bianka Zazzo cùng các cộng sự thuộc trung tâm nghiên cứu trẻ em đã nghiên cứu trẻ từ mẫu giáo đến cuối lớp 1.

Tác giả đã chỉ ra KKTL lớn nhất mà trẻ gặp phải làm cản trở đến sự thích ứng với học tập là: “Sự thay đổi môi trường hoạt động, gọi là chuyển dạng hoạt động chủ đạo, vui chơi trở thành hoạt động đa dạng, tính tự do tùy hứng của cá nhân cao hơn là tính chỉ đạo của giáo viên. Sang lớp 1, học tập chủ đạo của học sinh phải nghiêm chỉnh theo sự chỉ đạo của giáo viên, theo nguyên tắc lớp học. Vì thế, trẻ nào vượt qua được khó khăn này thì sẽ học tốt, còn không sẽ dẫn đến tình trạng chán học, kết quả không cao” [dẫn theo 22; tr17]. Nghiên cứu về KKTL trong hoạt động học tập của học sinh lớp 1, tác giả A.

Petropxki đã chia KKTL của trẻ em khi đi học lớp 1 làm 3 loại: Những khó khăn có liên quan đến đặc điểm của chế độ học tập mới, khó khăn trong thiết lập quan hệ giao tiếp mới với thầy cô và bạn bè, khó khăn trong việc thích nghi với hoạt động mới, lúc đầu trẻ được sự chuẩn bị của gia đình, nhà trường và xã hội nên trẻ có tâm lí vui, thích, sẵn sàng đi học, về sau giảm dần khát vọng và chán học” [59]. Ballard và Clanchy (1985) đã chỉ ra những KKTL trong quá trình học tập của sinh viên Châu Á khi học tại các trường Đại học của Úc. Hai tác giả này cho rằng: 8 Cách học của các sinh viên đến từ những nền văn hóa khác nhau là không giống nhau, có sự khác biệt. Đa số sinh viên nghĩ và học theo cách mà họ đã được đào tạo, giáo dục ở môi trường và đất nước của họ do vậy sẽ gặp thất bại ở đất nước khác, môi trường học tập khác.

Các tác giả này kết luận: Sinh viên Châu Á gặp nhiều khó khăn trong việc thích ứng với môi trường học tập mới chủ yếu là các vấn đề phương pháp, cách thức, văn hóa học tập, sử dụng ngôn ngữ học thuật. Họ cần phải có một sự tự chuyển biến lớn về ngôn ngữ, văn hóa, kiến thức để thích ứng với môi trường học tập mới [97]. Trong tác phẩm “Học tập đỉnh cao” (1999), Ronald Gross đã chỉ ra 6 nỗi sợ hay KKTL thường thấy ở người học, đó là những khó khăn khi tiếp thu tri thức, khó khăn khi lựa chọn phương pháp học tập; cụ thể là 6 khó khăn sau: không hiểu những điều đang học; tôi không phải là người có thể học môn này; tôi không biết cách để học cái này một cách hiệu quả; tôi sẽ không nhớ được những điều tôi đang học; tôi cảm thấy xấu hổ vì tôi không biết một số điều; có quá nhiều thứ để học. Theo ông những KKTL trên tạo ra một số suy nghĩ hoang đường ở người học làm hoạt động học tập của họ rất khó đạt kết quả cao.

Một số điều hoang đường về học tập: Học tập là một hoạt động nhàm chán, không thể thích thú; việc học tập chỉ liên quan đến những môn học và kĩ năng được dạy trong trường học; chúng ta phải thụ động và dễ tiếp thu để có thể “lĩnh hội” được tri thức; để học, bạn phải đặt mình dưới sự kèm cặp của giáo viên [65]. Như vậy, có thể hiểu đây là những khó khăn về nhận thức người học thường gặp phải khi tham gia hoạt động học tập. Ronald Gross còn cho rằng, tất cả người học đều có thể được xếp vào 1 trong 3 nhóm vùng học tập: Vùng quá sức: Việc học vất vả, khó khăn và không thể kiểm soát nổi. Ở vùng này người học gặp rất nhiều KKTL.

Vùng sảng khoái: Việc học nhiều thách thức nhưng có thể quản lý được. Ở vùng này người học không gặp KKTL trong hoạt động học. Vùng ăn không ngồi rồi: Việc học tẻ nhạt, chậm chạp và uể oải. Ở vùng này người học gặp KKTL trong việc không nhận thức được tầm quan trọng, không có thái độ tích cực, không có kỹ năng học tập.

Như vậy, tác giả khái quát một số vùng học tập gắn với KKTL biểu hiện ở nhận thức, thái độ, kỹ năng trong học tập. Cách tiếp cận này, tập trung chỉ ra các khó khăn học tập ở mặt thái độ. Các tác giả Bob Smale, Julie Fowlie trong tác phẩm “Để thành công ở trường đại học” (2009) cho rằng sinh viên mới bước vào ngưỡng cửa đại học gặp rất nhiều KKTL khi tham gia vào một nhóm học tập mới: Sốc văn hóa; không thích ứng và hòa nhập với nhóm; ngại giao tiếp với người lạ; căng thẳng với một lượng tri thức lớn; không thiết lập được cách học tập hiệu quả ở bậc đại học [10]. Các tác giả này chủ yếu đưa ra khó khăn học tập ở mặt thái độ, và là những khó khăn chung trong học tập, chưa chỉ ra cụ thể mức độ các khó khăn này.

Các tác giả Murray Evely và Zoe Ganim (2011) là các nhà tâm lí học người Australia, trong cuốn “Làm việc với trẻ có khó khăn trong học tập” (Working with children with learning difficulties) cho rằng: “Trẻ có khó khăn học tập (còn gọi là khuyết tật học tập) gặp nhiều khó khăn trong các lĩnh vực ngôn ngữ hoặc tính toán. Ở Úc có khoảng 16% trẻ có khó khăn học tập, với 3% gặp khó khăn học tập đang diễn ra nghiêm trọng”. Các tác giả cũng đưa ra một vài nguyên nhân dẫn đến KKTL trong học tập: “Các nguyên nhân được biết đến bao gồm di truyền, các vấn đề trong quá trình mang thai và sinh con, hoặc các vấn đề sau khi sinh như suy dinh dưỡng, tiếp xúc với hóa chất, bệnh trẻ em, một tai nạn nghiêm trọng hoặc đang diễn ra chấn thương” [134]. Nghiên cứu của hai tác giả này chủ yếu tập trung tìm hiểu khó khăn học tập của trẻ nhỏ ở lĩnh vực ngôn ngữ, tính toán; các tác giả này lý giải khó khăn học tập của trẻ nhỏ dưới góc độ khiếm khuyết sinh học trong việc lĩnh hội tri thức.

Trong những năm gần đây, các nghiên cứu KKTL trong học tập ở Việt Nam chủ yếu tập trung vào học sinh đầu lớp 1 và sinh viên những năm đầu ở Cao đẳng, Đại học. 10 Các tác giả Nguyễn Xuân Thức, Đào Thị Lan Hương (2007) qua nghiên cứu “Phân tích các biểu hiện khó khăn tâm lí trong hoạt động học tập của sinh viên năm thứ nhất sư phạm” cho rằng SVSP mới nhập học gặp KKTL trong học tập ở mức trung bình, có sự khác biệt KKTL giữa các khoa, sinh viên chuyên ngành tự nhiên gặp KKTL học tập nhiều hơn sinh viên chuyên ngành xã hội. Các biểu hiện khó khăn về nhận thức, cảm xúc và kĩ năng không đồng đều [76]. Nghiên cứu của hai tác giả Đỗ Thị Hạnh Phúc và Triệu Thị Hương (2007) về những KKTL của sinh viên Học viện Cảnh sát nhân dân, được thực hiện trên 315 sinh viên cho thấy: KKTL của sinh viên khá phức tạp, bao gồm những khó khăn đặc trưng về mặt lứa tuổi như giao tiếp, ứng xử, tình bạn, tình yêu và các khó khăn mang tính đặc trưng của môi trường học tập, rèn luyện trong ngành Cảnh sát.

Nghiên cứu còn quan tâm đến cách mà sinh viên ứng phó với những khó khăn này, trong đó có khá nhiều sinh viên lựa chọn cách âm thầm chịu đựng, tự bản thân giải quyết. Từ kết quả nghiên cứu của mình, hai tác giả này đặt ra vấn đề, cần xây dựng một mô hình trợ giúp tâm lý phù hợp cho sinh viên Học viện Cảnh sát [61]. Các tác giả này, tập trung nghiên cứu ở sinh viên ngành cảnh sát, KKTL được nghiên cứu ở nhiều hoạt động khác nhau như học tập, giao tiếp ứng xử, lao động, hoạt động xã hội … chứ không tập trung vào một hoạt động cụ thể nào trong số đó. Chính vì vậy, các biểu hiện KKTL mà nghiên cứu này đưa ra còn chưa chi tiết, rõ ràng ở cả 3 mặt nhận thức, thái độ và hành vi.

Tác giả Đặng Thị Lan (2007) với đề tài “Một số khó khăn tâm lý trong hoạt động học ngoại ngữ của sinh viên những năm đầu ở trường Đại học ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội” cho thấy nhìn chung sinh viên năm đầu của Đại học Ngoại ngữ đều gặp KKTL trong quá trình học ngoại ngữ, sinh viên có học lực khác nhau gặp các KKTL khác nhau, những sinh viên có học lực giỏi và khá gặp KKTL ít hơn sinh viên có học lực trung bình trở xuống [39]. Năm 2015, tác giả này tiếp tục nghiên cứu khó khăn tâm lý trong hoạt động học ngoại ngữ của sinh viên dân tộc thiểu số năm thứ nhất ở Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội, nghiên cứu thực hiện trên 44 sinh viên các dân tộc Nùng, Tày, Mường, Sán Dìu. Kết quả nghiên cứu cho 11 thấy: Sinh viên dân tộc thiểu số năm thứ nhất còn gặp khá nhiều KKTL trong hoạt động học ngoại ngữ, khó khăn về kỹ năng học ngoại ngữ nhiều hơn so với khó khăn về nhận thức và thái độ đối với việc học ngoại ngữ [40]. Các nghiên cứu KKTL trong học tập của tác giả Đặng Thị Lan tập trung chủ yếu vào các khó khăn trong việc học ngoại ngữ, tác giả đã cố gắng làm sáng tỏ mức độ cũng như biểu hiện khó khăn trong học ngoại ngữ của sinh viên ở các mặt nhận thức, thái độ và hành vi.

Trong cuốn sách chuyên khảo về dạy học ở đại học – Tiếp cận khoa học giáo dục và tâm lý học, hai tác giả Đỗ Văn Đoạt và Nguyễn Thị Bích Liên (2017) đã công bố kết quả khảo sát khó khăn tâm lý trong học tập theo học chế tín chỉ và cách ứng phó ở sinh viên Đại học Sư phạm, nghiên cứu cho thấy 100% SVSP có khó khăn trong học tập theo tín chỉ ở các mức độ khác nhau.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ