Chương 1 LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC VƯỢT KHÓ VÀ NĂNG LỰC VƯỢT KHÓ TRONG HOẠT ĐỘNG SƯ PHẠM CỦA GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan các nghiên cứu về năng lực vượt khó và năng lực vượt khó của giáo viên 1. Các nghiên cứu về năng lực vượt khó Những năm 1990 trở về trước, năng lực trí tuệ (viết tắt là chỉ số IQ) thường được coi là một yếu tố đóng vai trò quyết định sự thành công của mỗi cá nhân. Tuy nhiên, những nghiên cứu sau này đã chứng minh rằng: IQ không phải là yếu tố duy nhất quyết định sự thành công của mỗi cá nhân.
Năm 1995, trong tác phẩm “Trí tuệ cảm xúc”, Goleman D.J đã chứng minh: “nhiều người có chỉ số IQ cao, nhưng chưa hẳn đã thành công, do khả năng kiểm soát cảm xúc không tốt. Vì vậy, bên cạnh IQ, cần có trí tuệ cảm xúc (Emotional Interlligence –EQ)” [127]. Thậm chí trong nhiều trường hợp EQ quan trọng hơn IQ [128]. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng chỉ số vượt khó (AQ) mới là yếu tố quyết định sự thành công của con người.
Những nghiên cứu về năng lực vượt khó trước đây đa phần được thực hiện hiện thông qua nghiên cứu chỉ số vượt khó và được nghiên cứu theo các hướng sau: 1. Nghiên cứu về khái niệm năng lực vượt khó Những nghiên cứu về NL vượt khó được thực hiện thông qua nghiên cứu về chỉ số vượt khó (Adversity quotient) được bắt đầu bởi nhà tâm lí học người Mỹ Stoltz P.G và cộng sự với những nghiên cứu công phu. Đặc biệt nhất và gây chú ý nhất là cuốn: Năng lực vượt khó: biến trở ngại thành cơ hội của Stoltz P. Nghiên cứu đã đề cập đến khái niệm chỉ số vượt khó là khả năng của con người trong việc đối mặt và vượt qua khó khăn, trở ngại và thách thức trong cuộc sống.
Cuốn sách cũng trình bày một số công cụ và phương pháp tăng cường chỉ số vượt khó của một người, giúp họ chuyển đổi các trở ngại thành cơ hội, nó cung cấp các kỹ năng và chiến lược để thay đổi cách tiếp cận với khó khăn, nhìn nhận chúng như một cơ hội để phát triển và thành công.G cũng nhấn mạnh rằng chỉ số vượt khó cũng chính là một chỉ báo về 4 mức độ cao thấp của bản lĩnh sống: Đối diện khó khăn; 10 Xoay chuyển cục diện; Vượt lên nghịch cảnh; Tìm được lối ra. Nghiên cứu làm tiền đề cho một loạt các nghiên cứu về chỉ số vượt khó được thực hiện [191]. Phoolka S & Kaur N (2012) với tựa đề: Chỉ số vượt khó, một mô hình mới để khám phá đã đưa ra định nghĩa về chỉ số vượt khó như sau: “Chỉ số vượt khó là yếu tố dự đoán sự thành công của một người khi đối mặt với nghịch cảnh, cách anh ta ứng xử trong một tình huống khó khăn, cách anh ta kiểm soát tình hình, anh ta có thể tìm ra nguồn gốc chính xác của vấn đề hay không, liệu anh ta có làm chủ được mình trong tình huống đó hay không, anh ấy có cố gắng hạn chế ảnh hưởng của khó khăn không và anh ấy lạc quan đến mức nào rằng khó khăn cuối cùng sẽ kết thúc” [180; tr.R (2012) nghiên cứu mối quan hệ giữa khó khăn và ý định gian lận trong giờ học toán của học sinh trên vương quốc Kendal. AQ được hiểu là khả năng nỗ lực phấn đấu khi cá nhân gặp khó khăn để đạt được thành công [185].G (2015), định nghĩa khả năng vượt khó bằng cụm từ khả năng phục hồi, nó là xu hướng lấy lại tinh thần sau khó khăn hoặc những trở ngại cho phép mọi người nhìn nhận một cách lạc quan về các tình huống khó khăn [109; tr.
Trong một nghiên cứu khác Juwita H. Nghiên cứu về cấu trúc năng lực vượt khó *Nghiên cứu cấu trúc năng lực vượt khó gồm bốn thành tố Trong các nghiên cứu của mình, Stoltz P.G (2015) [63]) đã đề xuất mô hình cấu trúc năng lực vượt khó gồm 4 thành phần, gọi là mô hình CORE: (Control- C: yếu tố kiểm soát -với câu hỏi: Bạn kiểm soát đến đâu trong một sự kiện bất lợi? Yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến sức 11 mạnh và khả năng tác động của cá nhân và nó có ảnh hưởng đến tất cả các đại lượng khác của năng lực vượt khó; Origin và Ownership - O: yếu tố nguồn gốc và trách nhiệm – với câu hỏi: Ai hay cái gì là nguồn gốc của khó khăn? Tôi nhận trách nhiệm về kết quả của khó khăn này ở mức độ nào?; Reach - R: yếu tố phạm vi tiếp cận / vươn tới - Khó khăn này sẽ ảnh hưởng đến các lĩnh vực khác trong cuộc sống ở mức nào?; Endurance - E: độ bền – Khó khăn sẽ kéo dài bao lâu? Tôi chịu đựng được khó khăn trong bao lâu? Mô hình cấu trúc CORE của Stoltz P.G đã tạo tiền đề cho một số nghiên cứu khác khi cùng nghiên cứu về cấu trúc NL vượt khó. Chẳng hạn, nghiên cứu của Phoolka S & Kaur N (2012) [180], các tác giả đã gọi tên các thành phần trong NL vượt khó đó là khả năng kiểm soát tình hình (C); cách tìm ra nguồn gốc chính xác của vấn đề (O); khả năng hạn chế ảnh hưởng của khó khăn (R); khả năng lạc quan rằng khó khăn sẽ kết thúc (E). Mặc dù trong nghiên cứu của Phoolka S & Kaur N tên gọi các NL thành phần có thể khác về từ ngữ nhưng về bản chất cũng đồng nhất với các NL thành phần trong mô hình CORE.
Nghiên cứu của Shen, Chao – Ying (2014), trên cơ sở tổng hợp các nghiên cứu của nhiều tác giả để đưa ra quan niệm cấu trúc NL vượt khó theo mô hình CORE. Trong đó C: biểu thị khả năng kiểm soát. Tác giả đặt ra câu hỏi: Làm thế nào để cá nhân nhận thức được khả năng kiểm soát khó khăn và sự thất vọng của chính mình? Tác giả cho rằng: điều quan trọng của kiểm soát là nhận thức về khả năng tự chủ. O2: biểu thị nguồn gốc và quyền sở hữu.
Với câu hỏi ai hoặc cái gì gây ra nghịch cảnh? Cá nhân nên chịu trách nhiệm gì khi xảy ra nghịch cảnh? R: biểu thị phạm vi tiếp cận và đại diện cho ảnh hưởng của nghịch cảnh đến các lĩnh vực khác của cá nhân. Tác giả cũng đưa ra cảnh báo: “Nếu khó khăn và sự thất vọng xâm chiếm cuộc sống cá nhân, những cảm xúc tiêu cực và gánh nặng sẽ tăng lên; tuy nhiên, những quan điểm lệch lạc do thất vọng gây ra có thể khiến cá nhân không thể thực hiện những hành động cần thiết, từ đó ảnh hưởng đến cuộc sống của họ”. E biểu thị sự bền bỉ ở 2 khía cạnh: “Khó khăn sẽ kéo dài bao lâu trong mỗi cá nhân?” hoặc “Nguyên nhân của khó khăn sẽ kéo dài bao lâu?” Lời giải thích biện luận trước sự bền bỉ của khó khăn và nguyên nhân gây ra khó khăn là “Các cá nhân sẽ cho rằng họ thiếu khả năng (nguyên nhân thường trực) hoặc do họ thiếu nỗ lực 12 (nguyên nhân tạm thời)” [198]. Nghiên cứu của Khairazani A.M (2018) cũng coi NL vượt khó bao gồm 4 thành tố trong mô hình CORE và cụ thể hóa 4 thành tố đó như sau: NL kiểm soát; quyền sở hữu; phạm vi tiếp cận, hướng tới; độ bền.
Trong nghiên cứu này, các tác giả cho rằng: NL kiểm soát (control) được xác định thông qua 3 khía cạnh chính: (1) khả năng tự nhận thức để có thể xử lý và ứng phó với các tình huống khó khăn trong kiểm soát; (2) khả năng tin tưởng một cách tích cực và (3) khả năng phục hồi/khắc phục sau khi trải qua thử thách hoặc thất bại. Yếu tố quyền sở hữu bắt nguồn từ hai thành phần (1) khả năng giải thích nguyên nhân của thách thức mà cá nhân phải đối mặt, sự thừa nhận hậu quả của tình huống; (2) khả năng thừa nhận sự tồn tại của những thách thức. Phạm vi tiếp cận, hướng tới bao gồm: (1) khả năng xác định những thách thức phải đối diện, không ảnh hưởng tới những mặt khác của cuộc sống; (2) khả năng hạn chế những thách thức để không bị ảnh hưởng bởi các vấn đề khác trong cuộc sống; (3) khả năng làm việc ngay lập tức để vượt qua những thách thức. Độ bền bao gồm: (1) khả năng dự đoán độ dài của thử thách; (2) khả năng dự đoán khoảng thời gian mà thử thách sẽ kết thúc trong cuộc sống và (3) khả năng của cá nhân tìm kiếm ra những giải pháp để giải quyết những thách thức [142].
Một số nghiên cứu của Trần Thị Kim Huệ (2018) [36, tr. 859 – 866], của Nguyễn Thị Diễm Hằng (2018) [31, tr.44]; của Lê Minh Nguyệt và cộng sự (2023) [60] cũng xây dựng cấu trúc NL vượt khó trong nghiên cứu của mình dựa trên cấu trúc 4 thành tố như các nghiên cứu trước. *Mô hình cấu trúc năng lực vượt khó gồm 3 thành tố Kobasa S.R (2002) phát triển thêm lý thuyết về khả năng vượt khó trên cơ sở tập trung vào 3 yếu tố: Cam kết, kiểm soát, thách thức. Tác giả cho rằng khả năng vượt khó không chỉ là một đặc điểm tính cách mà còn là kỹ năng có thể được rèn luyện qua các trải nghiệm khó khăn [159].
Một số tác giả tiếp tục sử dụng mô hình cấu trúc khả năng vượt khó với 3 thành tố trong các nghiên cứu của mình [20], [104]. Như vậy, khi nghiên cứu về cấu trúc NL vượt khó, chúng tôi tìm thấy 2 mô hình cấu trúc (Mô hình cấu trúc 3 thành tố và mô hình cấu trúc 4 thành tố). Hai mô hình cấu trúc NL vượt khó này có sự tương đồng với nhau đó là: Cả hai mô hình đều có thành tố kiểm soát, thành tố cam kết (mô hình 3 thành tố) hay trách nhiệm giải quyết khó khăn (trong mô hình 4 thành tố). Tuy nhiên điểm khác nhau trong mô hình cấu trúc 3 thành tố có đề cập đến năng lực đối mặt với thách thức trong khi ở mô hình 4 thành tố lại nhấn mạnh sự nhận thức của cá nhân về phạm vi ảnh hưởng của khó khăn.
Mô hình 4 thành tố có đề cập thêm thành tố độ bền (NL bền bỉ, chịu đựng khó khăn) mà ở mô hình 3 thành tố không nhắc tới. Chúng tôi đánh giá cao cả hai mô hình cấu trúc này và nhận thấy ở mô hình cấu trúc 4 thành tố (Viết tắt: CORE) có ưu điểm là đầy đủ hơn.