Chương 1. Cơ sở lý luận về chất lượng nhân lực và nâng cao chất lượng nhân lực trong các tổ chức. Thực trạng chất lượng nhân lực và nâng cao chất lượng nhân lực của Kiểm toán nhà nước. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nhân lực của Kiểm toán nhà nước.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC TRONG CÁC TỔ CHỨC 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Nhân lực và nguồn nhân lực Khái niệm nhân lực: Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về nhân lực. Theo Liên Hợp quốc: Nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước.
Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO): Nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động. Theo Nguyễn Tiệp (2005): Nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động. Khái niệm này chỉ nhân lực với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội. Tuy có những định nghĩa khác nhau tùy theo góc độ tiếp cận, nhưng các định nghĩa về nhân lực đều có đề cập đến các đặc trưng chung và từ cách hiểu về nhân lực ở trên, tác giả đưa ra cách hiểu về nhân lực trong tổ chức như sau: Nhân lực trong tổ chức là toàn bộ lực lượng nhân lực được đặc trưng bởi số lượng, chất lượng và cơ cấu lao động đủ điều kiện tham gia vào hoạt động ở tổ chức đó.
Khái niệm nguồn nhân lực: Việc xem xét nhân tố con người với tư cách là một nguồn lực cơ bản trong sự phát triển kinh tế - xã hội đã dần hình thành khái niệm mới: “nguồn nhân lực” hay “nguồn lực con người”. Nguồn nhân lực được các nhà nghiên cứu đề cập trên góc độ sau: "Nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ vốn nhân lực bao gồm thể lực, trí tuệ, kỹ năng nghề nghiệp mà mỗi cá nhân sở hữu". 7 Nguồn nhân lực là nguồn lực con người, yếu tố quan trọng, năng động nhất của tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội. Nguồn nhân lực có thể xác định cho một quốc gia, vùng lãnh thổ, địa phương (tỉnh, thành phố.) và nó khác với các nguồn lực khác (tài chính, đất đai, công nghệ .) ở chỗ nguồn lực con người với hoạt động sáng tạo, tác động vào thế giới tự nhiên, biến đổi giới tự nhiên và trong quá trình lao động nảy sinh các quan hệ lao động và quan hệ xã hội.
Trước hết với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, ở nghĩa rộng nhất thì nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động, không phân biệt người đó đang được phân bố vào ngành nghề, lĩnh vực, khu vực nào và có thể coi đây là nguồn lực xã hội. Với tư cách là khả năng đảm đương lao động chính của xã hội thì nguồn nhân lực được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động (do pháp luật lao động quy định). Hiện nay, trong lĩnh vực lao động còn có khái niệm "nguồn lao động" là toàn bộ dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động. Do đó, với khái niệm này thì nguồn nhân lực tương đương với khái niệm nguồn lao động.
Nguồn nhân lực thể hiện toàn bộ những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, với cách hiểu này nguồn nhân lực bao gồm những người từ giới hạn dưới của độ tuổi lao động trở lên và có khả năng lao động (ở nước ta hiện nay là những người đủ 15 tuổi trở lên có khả năng lao động). Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đã chỉ ra nguồn nhân lực quốc gia: là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm và tính sáng tạo của con người có quan hệ đến sự phát triển của cá nhân và đất nước. Với quan điểm này, Liên hợp quốc đã chỉ rõ những đặc trưng của nguồn lực mà đó cũng là các tiêu chí đánh giá nguồn nhân lực. 8 Nguồn nhân lực là nguồn lực con người của những tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới.
Quan niệm này xuất phát từ việc coi nguồn nhân lực là nguồn lực với các yếu tố vật chất, tinh thần tạo nên năng lực, sức mạnh phục vụ cho sự phát triển nói chung của các tổ chức. Theo Trần Xuân Cầu, Mai Quốc Chánh (2008): Nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai. Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu, nhất là số lượng, chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội. Nguồn nhân lực được xem xét và đánh giá theo số lượng và chất lượng và cơ cấu: Về số lượng: thể hiện quy mô nguồn nhân lực và tốc độ tăng nguồn nhân lực.
Về chất lượng: thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực, được biểu hiện thông qua thể lực, trí lực, kỹ năng lao động, tinh thần, thái độ, ý thức lao động và phong cách làm việc. Về cơ cấu nguồn nhân lực thông qua các tỷ lệ của từng bộ phận nguồn nhân lực được phân chia theo các tiêu thức chất lượng khác nhau trong tổng nguồn nhân lực như: cơ cấu nguồn nhân lực theo tuổi, theo giới tính, theo trình độ chuyên môn. Từ các quan điểm trên, nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng thì nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động. Theo nghĩa hẹp thì nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, là tổng thể của 9 các yếu tố thể lực, trí lực, kỹ năng lao động, tinh thần, thái độ, ý thức lao động.
Trong phạm vi luận văn, nguồn nhân lực trong tổ chức được hiểu là tổng số cán bộ công chức, viên chức và người lao động có trong danh sách của một tổ chức, làm việc bằng thể lực, trí lực của họ và hoạt động theo chức năng nhiệm vụ của tổ chức. Hay có thể gọi là lực lượng lao động của tổ chức. Nói một cách tổng quát nhất thì: Nguồn nhân lực chính là nguồn lao động của một tổ chức. Chất lượng nhân lực Nhân lực không chỉ được xem xét dưới góc độ số lượng mà còn ở khía cạnh chất lượng.
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về chất lượng nhân lực. Chất lượng nhân lực là mức độ đáp ứng về khả năng làm việc của người lao động với yêu cầu công việc của tổ chức và đảm bảo cho tổ chức thực hiện thắng lợi mực tiêu cũng như thỏa mãn cao nhất nhu cầu của người lao động. Chất lượng nhân lực là trạng thái nhất định của nhân lực, là tố chất, bản chất bên trong của nhân lực, nó luôn có sự vận động và phản ánh trình độ phát triển kinh tế xã hội cũng như mức sống, dân trí của dân cư. Chất lượng nhân lực được thể hiện ở các mặt sau: - Sức khỏe; - Trình độ văn hóa; - Trình độ chuyên môn; - Năng lực thực tế về kỹ năng nghề nghiệp; - Tính năng động xã hội (khả năng sáng tạo công việc, thích ứng, linh hoạt, nhanh nhạy với công việc); - Phẩm chất đạo đức, tác phong, thái độ với công việc và môi trường làm việc; - Hiệu quả hoạt động của nguồn nhân lực; 10 - Thu nhập, mức sống và mức độ thỏa mãn nhu cầu cá nhân của người lao động; Trong điều kiện kinh tế thị trường cạnh tranh cao và hội nhập sâu rộng thì chất lượng nhân lực được coi là chỉ tiêu quan trọng phản ánh trình độ phát triển kinh tế và đời sống của con người trong một xã hội nhất định.
Tại Tuần lễ cấp cao APEC 2017 diễn ra ở thành phố Đà Nẵng mới đây, vấn đề chất lượng nhân lực một lần nữa lại được xới lên như một thách thức không nhỏ đối với nhiều quốc gia trước ngưỡng cửa cuộc cách mạng 4. Với Việt Nam, chất lượng nhân lực được báo động như một rào cản đối với công cuộc đổi mới và cần sớm được thay đổi. Có thể khái quát, vấn đề đào tạo nguồn nhân lực ở nước ta (thông qua hệ thống giáo dục đại học, cao đẳng.) đang bộc lộ nhiều bất cập, nổi lên là quy mô đào tạo ngày càng được mở rộng nhưng không tương xứng với chất lượng đầu ra, chương trình đào tạo chậm được cải tiến, chưa theo kịp sự phát triển chung của xã hội. Chất lượng nhân lực là năng lực hoạt động của nhân lực và phẩm chất đạo đức của nhân lực đó.
Năng lực hoạt động của nhân lực có được thông qua đào tạo, huấn luyện, qua thời gian làm việc được đánh giá bằng học hàm, học vị, cấp bậc công việc và các kỹ năng giải quyết các công việc trong tổ chức. Phẩm chất đạo đức là khả năng dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm và khó có tiêu chí nào làm thước đi để đánh giá phẩm chất đạo đức của nhân lực. Với những cách hiểu khác nhau về chất lượng nhân lực, nhưng nhìn chung lại thì chất lượng hân lực là một khái niệm tổng hợp, bao gồm những nét đặc trưng về trạng thái thể lực, trí lực, đạo đức và phẩm chất. Điều đó thể hiện trạng thái nhất định của nhân lực với tư cách vừa là một khách thể vật chất đặc biệt, vừa là chủ thể của những hoạt động kinh tế và các mối quan hệ xã hội.
Trong đó: 11 - Thể lực của nhân lực chịu ảnh hưởng của mức sống vật chất, sự chăm sóc sức khỏe và rèn luyện của từng cá nhân cụ thể. Một cơ thể khỏe mạnh, thích nghi với môi trường sống thì năng lượng do nó sinh ra sẽ đáp ứng những yêu cầu của một hoạt động cụ thể nào đó. Thể lực có ý nghĩa quan trọng trong việc quyết định năng lực hoạt động của con người nói chung, nguồn nhân lực nói riêng. Phải có thể lực con người mới có thể phát triển trí tuệ và quan hệ của mình trong xã hội.