CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐÈ TÀI 1.Khái quát về CNTT 11. Định nghĩa Có nhiều định nghĩa khác nhau về CNTT. Tuy nhiên, có thé hiểu: "CNTT - tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại nhằm tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội”`.
Các thành phan của CNTT Các thành phần chính của CNTT: Kết cau hạ tầng CNTT, nhân lực CNTT, tổ chức ứng dụng và phát triển CNTT. Vai tro của CNTT Có thé thấy vai trò quan trong của CNTT trong các lĩnh vực sau: QLHCNN, trong giáo dục, dao tạo, sản xuất và kinh doanh. CNTT&TT nếu được ứng dụng hợp lý trong QLNN sẽ mang lại các lợi ich: cắt giảm chi phí, cho phép nhiều dit liệu hơn được chia sẻ giữa các HTTT để có thể phản ứng nhanh, chính xác hơn đối với những yêu cầu; cho phép người dân tiếp cận ở tat cả các bộ, ngành và các cấp chính quyền từ bat kỳ nơi nào theo phương thức thuận tiện, linh hoạt hơn - điện tử một cửa. Các loại dịch vụ này có thể ngăn ngừa quan liêu, sử dụng sai các dịch vụ và lợi ích công, người dân ngày càng tin tưởng vào các dịch vụ thuế và phúc lợi xã hội.” CNTT có thê mang đến cho CPĐT (còn được gọi là chính phủ số, chính phủ làm việc trên Internet, chính phủ trực tuyến.) các lợi ích: Tăng cường sự điều hành có hiệu quả của chính phủ và sự tham gia của người dân; Nâng cao năng suất và tính hiệu quả trong việc đề ra và thực thi các quyết định của các cơ quan của chính phủ; Cung cấp các dịch vụ công cho các doanh nghiệp và ' Theo Nghị quyết số 49/CP ngày 04/08/1993 của Chính phủ về phát triển CNTT, tr.
? Theo Lê Anh Hồng, Vai trò của CNTT&TT trong khu vực công, http://www.vn/portalid/52/tabid/108/catid/3 19/distid/1519_Vai_tro_cua_cong_nghe_thong_tin_va_t ruyen_thong_trong_khu_vuc_cong.html#, ngay cap nhat 12. 10 người dan; tạo môi trường thuận lợi cho các hoạt động kinh doanh; nâng cao chat lượng cuộc sông và giảm bat bình đăng giữa các nhóm xã hội. Trong thực tế, các quốc gia đã triển khai 4 mô hình CPĐT: (1) Mô hình CPĐT hai thành phan: Mô hình này dé giải quyết các van đề giữa chính phủ với người dân (Government to Citizent — G2C) và các van đề giữa chính phủ và doanh nghiệp (Government to Business — G2B). (3) Mô hình CPĐT bốn thành phan: Với những quốc gia có trình độ CNTT thấp thì để xây dựng CPĐT phải qua giai đoạn đưa CNTT, chủ yếu là máy tính điện tử và mạng máy tính vào các hoạt động hành chính của từng cơ quan.
Đây chính là quá trình điện tir hóa các nghiệp vụ và cách thức giải quyết công việc hành chính của từng nhân viên trong bộ máy công quyền được gọi là TMĐT giữa các cơ quan chính phủ và nhân viên của chính các cơ quan đó (Government to Employee — G2E).1: Tương tác giữa các thành phần CPDT trong môi trường số hóa Tương tác chỉnh nhủ voi chính nhủ, giữa các cơ quan chính phủ - G2 Tương tac chỉnh phủ với nhãn viễn, nhan viễn voi nhan viễn — G2E "Tương tác chính phủ trung wong va địa (Nguồn: Trần Văn Hoe (2010), Giáo trình TMĐT căn bản, tr. 314) 11 Theo chúng tôi, khi ứng dụng CNTT, yếu tố quan trọng nhất cần xem xét là nhân lực CNTT chứ không phải các nhân tố thuần kĩ thuật.1 cho thấy mối quan hệ tương tác thống nhất giữa các thành phần của CPĐT trong môi trường số hóa. Sự tương tác thống nhất và hiệu quả chỉ có được khi nhân lực ứng dụng CNTT (nhân viên chính phủ, người dân, doanh nghiệp.) am hiểu lĩnh vực chuyên môn (công việc) của mình và phải có khả năng sử dụng, ứng dụng được CNTT. Ví dụ, nếu triển khai cơ sở tầng CNTT tốt (đường truyền mạng tốt, máy tính, phần mềm tiên tiến.) nhưng nhân viên chính phủ, người dân không ứng dụng được thì chỉ làm lãng phí nguồn lực xã hội.
Cần lưu ý là: *CPĐT không phải là một thực thé mà chỉ là một công cụ, một phương thức làm việc mới để hoạt động cua các CONN đạt hiệu qua cao hon, minh bạch hơn, phục vụ người dan tot hơn”. Việc xây dựng và phát triển các dịch vụ của CPĐT ở Việt Nam đã đạt được một số kết quả. Ví dụ, “Mô hình một cửa cấp huyện” được ứng dụng đầu tiên tại Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2005, sau đó triển khai rộng trên toàn quốc đã mang lại những hiệu quả: giúp cán bộ thụ lý hồ sơ nâng cao năng suất, giảm khối lượng công việc thủ công từ 20% đến 30%; cung cấp thông tin chính xác kịp thời, bất cứ lúc nào, đồng thời giúp việc tra cứu, thống kê báo cáo dé dang hơn”. Tuy nhiên, Hội thao “Chia sẻ kinh nghiệm triển khai mô hình một cửa điện tu cấp huyện khu vực miễn Bắc” đã chỉ ra hạn chế của “một cửa điện tử”.
Quy trình xử lý hồ sơ đã bộc lộ yếu tổ tiêu cực khi các doanh nghiệp, cá nhân năm được ai là người đang giải quyết hồ sơ (cán bộ gây khó khăn) sẽ tranh thủ tìm mọi cách để tiếp xúc, nhờ cậy. Vì vậy, chưa thê giảm thiêu tiêu cực phát sinh so với chuyện tiếp xúc trực tiếp trong giải quyết thủ tục hành chính công như trước kia. Đầu tư cho một cửa điện tử rất tốn kém, lãng phí (nhất là *http://vietnamnet.vn/cntt/2009 1 1/Doi-thoai-truc-tuyen-Trien-khai-Chinh-phu-Dien-tu-tai- VN-87961/: Trích tra lời của ông Nguyễn Minh Hồng, Thứ trưởng Bộ Thông tin & Truyền thông, tại buổi đối thoại trực tuyến về chủ đề "Chính phủ điện tử", cập nhật 23. “Theo Quỳnh Anh, Hiệu qua từ Mô hình một cửa, http://www.vn/articles/tin-tuc/tin-trong- nuoc/2010/05/1219012/hieu-qua-tu-mo-hinh-mot-cua/, ngày cập nhật 10.
12 các địa phương miền núi, địa phương KT - XH còn phát triển chậm. Một số thiết bị, phần mềm còn chưa hiệu qua do chưa phủ hợp với trình độ dân trí. Đa phần người dân chưa biết sử dụng CNTT, không biết cách tra cứu tài liệu trong hệ thống màn hình cảm ứng, không biết xếp hàng điện tử và dùng mã vạch tra cứu kết quả.các địa phương can đẩy mạnh công tác truyén thông, ^ A R xẻ A wk x À z A ? aA a5 tuyên truyén dé người dân hiểu va dan ứng dung một cửa điện tử”. Vì vậy, có thể khăng định lại là NLCNTT là yếu tố quan trọng nhất quyết định sự thành công của việc ứng dụng CNTT.
Có thê thấy rõ hơn các luận điểm này khi phân tích vai trò của CNTT trong GD&DT; trong sản xuất và kinh doanh. Đối với các nước đang phát trién, CNTT&TT mang lại triển vọng nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo NNL. CNTT& TT hỗ trợ cho việc thu nhận kiến thức, tạo ra những cơ hội dé day mạnh hệ thống giáo dục, nâng cao năng lực học tập và tạo lập, mở rộng cơ hội cho người nghèo.” Học mở và học từ xa cung cấp cơ hội học tập khi người học và người dạy cách biệt về thời gian hoặc không gian với sự ứng dụng CNTT&TT dưới các hình thức: (1) Radio và tivi; (2) Hội nghị truyền hình; (3) Máy tính và Internet: E-learning dành cho việc học ở tất cả các cấp độ, chính quy và không quy thông qua hình thức sử dụng Internet, mạng LAN hoặc WAN cho toàn bộ hay chỉ một phần của khóa học. Học kết hợp (Blended Learning) là sự kết hợp giữa hình thức học truyền thống và E-learning.
CNTT&TT cho phép tiếp cận những tài nguyên dao tạo từ xa, với những nguồn tài nguyên con người - những chuyên gia, nhà nghiên cứu trên thế giới. CNTT&TT giúp người học trở thành lực lượng lao động phù hợp trong tương lai, có lợi thế cạnh tranh trong TTLĐ toàn cầu hóa.” CNTT&TT nâng cao Ÿ http://www.vn/Home/Van-hoa-Xa-hoi/Mot-cua-dien-tu-khong-giam-duoc-tieu- cuc/2010/09/2SVMC7432070/View: Lê Minh, Một cửa điện tử không giảm được tiêu cực, ngày cập nhật 29. Tinio (2003), Công nghệ thông tin và truyền thông trong giáo duc, Tr.org/ecohub/resources/CNTT&TT-in.2008 7 Những ki năng của thé ky 21 bao gồm: kiến thức co bản về kĩ thuật số (kiến thức về tinh năng, nhìn, khoa 13 động lực và sự tham gia của người học trên cơ sở lấy người học làm trung tâm. CNTT&TT giúp học tập mang tính đánh giá vì nó cung cấp những công cụ chuẩn xác để đánh giá kết quả học tập một cách khách quan và chặc chẽ hơn để có phương thức điều chỉnh hiệu quả.
Tuy nhiên, tính hiệu qua, chi phi, tính công bang và bền vững là bốn van đề lớn cần xem xét khi sử dụng CNTT&TT trong giáo dục. “Việc ứng dụng CNIT&TT trong giáo dục, khi được thực hiện mà không có sự cân nhắc kĩ ` z R ar. A 2 ~ ~ iw z A +998 càng, có thé dé lại hậu quả hon nữa cho những người kém thuận lọt”. CNTT&TT có lúc thay thế được giáo viên, song không phải lúc nào cũng thay thế được.
Nhiều giáo viên không muốn ứng dụng CNTT&TT do thiết kế phần mềm nghèo nàn, hoài nghỉ về tính hiệu quả của CNTT&TT, thiếu sự hỗ trợ quản lý, tăng thời gian và nỗ lực cần thiết để học CNTT và sử dụng nó, cảm giác mat quyên lực trên lớp học.” Tại Việt Nam, Bộ GD&DT đã có chỉ thị về tăng cường "day mạnh ứng dụng CNTT trong GD&ĐT". Tuy nhiên, việc ứng dụng CNTT van còn nhiều bất cập, chưa đồng bộ. Ngành GD&DT đã triển khai các phần mềm điều hành, quản lý nhưng những ứng dụng này mang tính tự phát, chưa có phần mềm thống nhất về quản lý và hệ thống cơ sở dữ liệu chung cho toàn ngành. Nhân lực ứng dụng CNTT trong các cơ quan quản ly giáo dục va tại các trường vừa thiếu, vừa nhận thức không đồng đều.
Tâm lý ngại thay đổi, trì trệ trong nếp nghĩ của một số giáo viên, lãnh đạo cũng là rào cản lớn. Nhiều trường học có trang bị phòng máy vi tính nhưng thường xuyên đóng cửa. Ở các thành phó, chưa thực hiện được 100% việc dạy và học với giáo án điện 2 iS ` ` RK RK 2 z ` A ` 10 tử; con sô nay còn rat thâp ở các vùng sâu, vùng xa. học, công nghệ, thông tin, văn hóa và nhận biết toàn cầu), tư duy sáng tao, giao tiếp hiệu quả.org/ecohub/resources/CNTT&TT-in.
Tinio (2003), Công nghệ thông tin và truyền thông trong giáo dục, Tr. Tinio (2003), Công nghệ thông tin và truyền thông trong giáo dục, Tr.org/ecohub/resources/CNTT&TT-in.2008 !9 Nhật Dương, Ung dụng CNTT trong giáo duc: di tìm ẩn số bài toán kinh phi, http://www6.asp?NewsId=195042&CatId=71, ngày cập nhật 26.2010 14 Theo kế hoạch, việc kết nối Internet toàn nganh giáo dục sẽ hoàn tat vào tháng 12 năm 2010 và dự kiến, tháng 9 năm 2010 sẽ chính thức khánh thành mang Internet giáo dục dé thu hẹp khoảng cách số giữa các vùng, miền.