Chương 1 đã tổng quan các NC trước có liên quan đến chủ đề NC của luận án, làm cơ sở cho việc nhận diện khoảng trống NC và định hướng cho việc xác định mục tiêu NC của đề tài. Trong chương 2 sẽ đề cập đến các thuật ngữ, các khái niệm NC, mô hình NC và các giả thuyết NC. Đây là cơ sở lý thuyết, là nền tảng để tác giả luận giải cho việc đưa vào mô hình các khái niệm NC và đưa ra các giả thuyết liên quan. Đồng thời, chương 2 cũng trình bày mối quan hệ giữa các khái niệm NC, chiều tác động giữa các nhân tố ảnh hưởng đối với nhân tố mục tiêu.
Các khái niệm nghiên cứu 1. HT thông tin kế toán O’Brien và Marakas (2011) cho rằng HTTTKT là HTTT ghi lại và báo cáo về các giao dịch kinh doanh và dòng chảy của các nguồn vốn trong một tổ chức, và kế đến là tạo ra các BCTC. Những báo cáo này sẽ tạo ra thông tin để lập kế hoạch và kiểm soát các hoạt động kinh doanh, cũng như cung cấp thông tin dựa trên cơ sở lịch sử và pháp lý của việc ghi nhận và lưu trữ hồ sơ. HTTTKT chủ yếu được tổ chức dựa trên nền tảng máy tính và được biết đến là những HT lâu đời nhất, sử dụng rộng rãi nhất trong DN.
Considine và cs (2012) đưa ra định nghĩa về HTTTKT là việc ứng dụng công nghệ để thu thập, kiểm tra, sắp xếp, lưu trữ, và báo cáo dữ liệu về các hoạt động của đơn vị. Nói đến công nghệ là ý nói đến công nghệ máy tính và không nhất thiết các HTTTKT phải được tin học hoá nhưng trên thực tế hiện nay hầu như các HT này đều đã được tin học hoá. Nhóm học giả Bodnar và Hopwood (2013) thì nhìn nhận HTTTKT là một tập hợp các nguồn lực, như thiết bị và con người, được thiết kế nhằm chuyển đổi dữ liệu tài chính và những dữ liệu khác thành thông tin. Thông tin này được truyền đạt tới những người có nhu cầu để ra quyết định.
HTTTKT thực hiện việc chuyển đổi này cho dù về cơ bản chúng là các HT xử lý thủ công hay được vi tính hóa. Theo các học giả NC về HTTTKT (Romney và Steinbart, 2018), HTTTKT là HT có nhiệm vụ thu thập, ghi nhận, lưu trữ, và xử lý dữ liệu nhằm cung cấp thông tin cho người ra quyết định. Thành phần của nó gồm có con người, các thủ tục và các hướng dẫn, dữ liệu, phần mềm, hạ tầng CÔNG NGHỆ THÔNG TIN, KSNB và các biện pháp an ninh. Dù các học giả kể trên có những hướng tiếp cận khác nhau về HTTTKT, nhưng nhìn chung có những điểm giống nhau là đều thừa nhận HTTTKT đã bị chi phối bởi CÔNG NGHỆ THÔNG TIN, nó được xem là HT phục vụ cho việc thu thập, ghi nhận, lưu trữ và xử lý dữ liệu đầu vào của các hoạt động hàng ngày trong tổ chức trở thành thông tin có ý nghĩa nhằmcung cấp cho người sử dụng để đưa ra quyết định.
HTTTKT bao gồm con người, các thủ tục và các hướng dẫn, dữ liệu, phần mềm, hạ tầng CÔNG NGHỆ THÔNG TIN (phần cứng, HT mạng, thiết bị, …), KSNB và các biện pháp an ninh. Rủi ro công nghệ thông tin Trong khuôn mẫu rủi ro CÔNG NGHỆ THÔNG TIN dựa trên cơ sở COBIT 2009 được đưa ra bởi ISACA đã định nghĩa “Rủi ro CÔNG NGHỆ THÔNG TIN là rủi ro liên quan đến việc sử dụng, sở hữu, điều hành, tham gia, ảnh hưởng và áp dụng CÔNG NGHỆ THÔNG TIN trong DN. Nó bao gồm các sự kiện và điều kiện liên quan đến CÔNG NGHỆ THÔNG TIN có khả năng ảnh hưởng đến DN. Nó có thể xảy ra với tần số và cường độ không chắc chắn, và nó tạo ra những thách thức trong việc đáp ứng các mục đích và mục tiêu chiến lược”.
(2012) cho rằng rủi ro CÔNG NGHỆ THÔNG TIN được biết đến như là các sự kiện không mong muốn có thể dẫn đến tổn thất gây nguy hiểm cho dữ liệu, quyền riêng tư và sự bảo mật của thông tin cũng như tồn tại của tổ chức và cá nhân. Điều 2, thông tư 09/2020/TT-NHNN quy định về an toàn HTTT trong hoạt động ngân hàng định nghĩa “Rủi ro CÔNG NGHỆ THÔNG TIN là khả năng xảy ra tổn thất khi thực hiện các hoạt động liên quan đến HTTT. Rủi ro CÔNG NGHỆ THÔNG TIN liên quan đến quản lý, sử dụng phần cứng, phần mềm, truyền thông, giao diện HT, vận hành và con người”. Từ khái niệm rủi ro CÔNG NGHỆ THÔNG TIN đã trình bày, rủi ro CÔNG NGHỆ THÔNG TIN là một phần trong các rủi ro mà DN phải đối phó.
Vận dụng các quan điểm trên cho NC này, rủi ro CÔNG NGHỆ THÔNG TIN được biết đến như là một phần của rủi ro trong kinh doanh và liên quan đến việc quản lý, sử dụng phần cứng, phần mềm, dữ liệu, thiết bị, truyền thông, vận hành và con người. Rủi ro CÔNG NGHỆ THÔNG TIN có thể đến từ bên trong hoặc cũng có thể đến từ bên ngoài tổ chức. Hay nói cách khác, những gì có thể gây hại cho việc ứng dụng CÔNG NGHỆ THÔNG TIN vào trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của tổ chức thì cũng được xem là rủi ro CÔNG NGHỆ THÔNG TIN. Khi mà rủi ro CÔNG NGHỆ THÔNG TIN xảy ra thì tất yếu sẽ tác động không tốt đến quá trình thu thập, xử lý, lưu trữ dữ liệu và tạo ra thông tin cần thiết cho việc ra quyết định trong những hoạt động thường ngày của DN.
Rủi ro phần cứng Phần cứng bao gồm bất kỳ máy móc thiết bị nào (hầu hết sử dụng các mạch kỹ thuật số) hỗ trợ các hoạt động đầu vào, xử lý, lưu trữ và đầu ra của một HTTT (Stair và Reynolds, 2010). Phần cứng máy tính đề cập đến HT máy tính có liên quan đến điện, cơ khí và các thành phần quang điện tử, … bao gồm các thiết bị vật lý khác nhau. Các thiết bị vật lý này theo cấu trúc của các yêu cầu HT tạo thành một tổng thể các bộ phận cho phần mềm máy tính vận hành trên đó. Do đó, HT phần cứng được ví như người chuyên chở đã trở thành hoạt động an toàn của HT kế toán trên máy tính.
Đe doạ an toàn HT phần cứng bao gồm nguy hại thiết bị lưu trữ đĩa cứng, chẳng hạn như lỗi bộ vi xử lý máy tính và mất điện,. Thiết bị lưu trữ máy tính là thiết bị lưu trữ quan trọng đối với dữ liệu kế toán trên máy vi tính, chẳng hạn như đĩa cứng máy tính, bộ nhớ ngoài, CD,. Độ ẩm MT quá cao, nhiễu điện từ quá mức, bám bụi, va đập hoặc rung lắc, sẽ làm hỏng đĩa cứng máy tính. Những hậu quả như vậy sẽ làm cho công việc kế toán bị ảnh hưởng nghiêm trọng, dẫn đến công việc kế toán trên máy tính có thể gặp phải nhầm lẫn lớn, và dữ liệu kế toán có thể bị mất vĩnh viễn hoặc thiệt hại tiềm ẩn (Wang và He, 2011).
Trong NC về những mối đe doạ đối với HTTT do Loch và cs (1992) thực hiện cũng chỉ ra sự yếu kém trong kiểm soát phần cứng máy tính, kiểm soát vật chất và các đe doạ đến từ MT như lửa, lũ lụt, mất nguồn điện là những nguyên nhân ảnh hưởng đến HTTT của DN. Tương tự, trong NC khám phá về kiểm soát an toàn HTTTKT trên nền máy tính trong DN đã niêm yết ở Sri Lanka (Rajeshwaran N và Gunawardana K. D, 2008) cũng cho thấy tiếp cận HT máy tính từ các nhân viên hay ảnh hưởng từ MT như nước, khói, bụi cũng là những rủi ro đối với HTTTKT. Một NC khác ở Việt Nam của các tác giả Phan Đức Dũng và Phạm Anh Tuấn (2015) về mối quan hệ giữa HTTTKT HQ đối với việc cung cấp thông tin và năng suất lao động ngành kế toán, chỉ ra hiệu suất sử dụng, tính tương thích và bảo trì có ảnh hưởng đến hoạt động của phần cứng máy tính.
Trong NC này, rủi ro phần cứng là các rủi ro liên quan đến sử dụng phần cứng (các bộ phận cấu thành máy tính, các thiết bị ngoại vi, …) phát sinh trong quá trình vận hành HTTTKT tại DN, ảnh hưởng đến CLHTTTKT và từ đó ảnh hưởng lên kết quả đầu ra của HTTTKT là CLTTKT. Vận dụng vào NC này, nhân tố Rủi ro phần cứng và thang đo rủi ro phần cứng sẽ được kế thừa và điều chỉnh (nếu có) từ các NC của Wang và He (2011); Loch và cs (1992); Rajeshwaran N và Gunawardana K. Rủi ro phần mềm Theo Wang và He (2011), phần mềm máy tính là một HT máy tính gồm các chương trình và tài liệu. Chương trình có nhiệm vụ tính toán về đối tượng và xử lý các quy tắc mô tả, còn tài liệu được dùng để hiểu biết rõ ràng về chương trình.
HT phần mềm được dùng cho HT kế toán trên nền máy tính được chia thành phần mềm hệ điều hành và phần mềm sử dụng trong kế toán. Ứng dụng phần mềm kế toán đòi hỏi phần mềm HT tương ứng để vận hành, còn công việc kế toán trên máy vi tính lại yêu cầu ứng dụng phần mềm kế toán phải hoàn hảo. Vì vậy, để thực thi nhiệm vụ kế toán trên máy vi tính một cách trơn tru đòi hỏi bất kỳ liên kết nào giữa hệ điều hành và các ứng dụng tin học kế toán không xuất hiện những bất thường. Những rủi ro liên quan đến an toàn HT kế toán trên máy vi tính gồm rủi ro phần mềm ứng dụng kế toán và rủi ro phần mềm HT.
Quinn và Strauss (2018) trích dẫn thêm, mặc dù phần cứng và mạng là các thành phần thiết yếu trong việc cho phép HTTTKT hoạt động trơn tru và có mục đích, nhưng không có phần mềm thì nó sẽ không hoạt động. Phần mềm là thuật ngữ mô tả các hướng dẫn kiểm soát hoạt động của phần cứng (Curtis và Cobham, 2005; Quinn và Kristandl, 2014). Phần mềm có thể được phân loại thành hệ điều hành, HT CSDL hoặc phần mềm ứng dụng và nó yêu cầu sử dụng các ngôn ngữ lập trình để thiết kế và tạo ra chúng. Kết quả NC của Wongsim (2013) tại Thái Lan trưng ra bằng chứng các tổ chức nên có sự hiểu biết về những nhân tố ảnh hưởng đến chọn lựa và sử dụng phần mềm và phần cứng trong hỗ trợ điều hành, quản lý chiến lược và ra quyết định khi vận hành HTTTKT của mình.
Khả năng đáp ứng của phần mềm được nhấn mạnh trong NC chỉ ra mối quan hệ và ảnh hưởng của nó đối với CLHTTTKT. Trong khi NC của Rajeshwaran N và Gunawardana K.