Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu tổng quan về cây cao su 1.1 Nguồn gốc và sự phân bố cây cao su Cây cao su có tên khoa học là Hevea brasiliensis, một loài cây thân gỗ thuộc họ thầu dau (Euphorbiaceae), có nguồn gốc ở lưu vực sông Amazon (Nam Mỹ), chi Hevea có 10 loài gồm HH brasiliensis, H. spruceana, nhưng chi có loài 77. brasiliensis có năng suất cao nhất nên được trồng phô biến trong sản xuất do có chất lượng mủ tốt nhất và hiệu quả kinh tế cao hơn các loài khác (Webster và Paardekooper, 1989 ; Nguyễn Thị Huệ, 1997). Cây cao su được tìm thấy trong tình trạng hoang đại tại vùng châu thổ sông Amazone (Nam Mỹ) trong một vùng rộng lớn bao gồm các nước: Brazil, Bolivia, Peru, Colombia, Ecuador, Venezuela, Guiyane thuộc Pháp.
trải rộng từ vi tuyến 15° Nam đến vĩ tuyến 6° Bắc và kinh tuyến 46° - 77° Tây.2 Đặc điểm thực vật học cây cao su Cây cao su là loại cây rừng hoang dai có thé sống trên 100 tuổi, thân thắng, cao từ 25 - 40 m, vanh thân có thé lên đến 5 m, tán lá rộng. Hiện nay, cây cao su chủ yếu được trồng là các dòng vô tính được lai tạo và chọn lọc trong nước, được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận và khuyến cáo theo cơ cấu giống được ban hành bởi Tập Doan Công nghiệp Cao su Việt Nam (VRG). Rễ cao su chiếm khoảng 15% trọng lượng toàn cây. Cây cao su có 2 loại rễ là rễ cọc (rễ trụ, rễ cái) và rễ bàng (rễ hấp thụ).
Rễ cọc cắm sâu vào đất giúp cây đứng vững, đồng thời hút nước và muối khoáng ở tầng đất sâu. Rễ bàng phát triển rộng, phần lớn tập trung ở tang canh tác. Sự tăng trưởng của bộ rễ phụ thuộc vào thời gian sinh trưởng của cây. Vỏ cao su: gồm 3 lớp chính là lớp mộc thiêm (da ban), lớp trung bi và lớp nội bì (lớp da lụa).
Lớp mộc thiêm tập hợp các tế bào chết, bảo vệ lớp bên ngoài. Lớp trung 5 bì có chứa một sô mạch mủ. Lớp vỏ mêm có chứa nhiêu mạch mủ, nơi cung câp latex. Mạch mủ xêp nghiêng tính từ phải qua trái tính từ dưới lên làm thành một góc 5° so với đường thang.
Lá cao su là lá kép gồm 3 lá chét với phiến lá nguyên mọc cách và mọc từng tầng. Lá trưởng thành là lá có màu xanh đậm ở mặt trên và nhạt hơn ở mặt dưới lá. Màu sắc, hình dang và kích thước lá thay đôi khác nhau tùy vào từng giống. Cây cao su rung lá hàng năm từ năm thứ 3 trở đi ở những nơi có mùa khô rõ rệt, có đặc tính rụng lá theo mùa hay còn gọi là rụng lá qua đông.
Ở Việt Nam thời gian cao su rụng lá vào khoảng tháng 12 đến tháng 2 năm sau. Tại những vùng có điều kiện thời tiết thuận lợi, hiện tượng rung lá qua đông xảy ra nhanh và diễn ra trong một thời gian ngắn. Ngay khi cây rụng trui lá, lá non bắt đầu xuất hiện và sau | - 1,5 tháng tán lá 6n định. Hoa cao su là hoa đơn tính đồng chu.
Phát hoa hình chùm mọc ở đầu cành sau giai đoạn thay lá hang năm, tỷ lệ 1 hoa cai/60 hoa đực, phan lớn hoa thụ tinh bằng giao phan chéo thông qua trung gian là gió và côn trùng. Quả hình tròn hơi dep, qua nang có 3 ngăn, mỗi ngăn chứa một hạt, hạt cao su có chứa 10 - 15 % dầu nên thời gian bảo quản hạt trước khi gieo tương đối ngắn.3 Yêu cầu khí hậu Cây cao su cần nhiệt độ cao và đều với nhiệt độ thích hợp nhất là từ 25 - 30°C, trên 40°C cây sẽ khô héo, dudi 10°C cây có thể chịu đựng được trong một thời gian ngắn. Biên độ nhiệt ngày và đêm là 7 - 8°C. Nhiệt độ thấp dưới 10°C sẽ ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây và gây trở ngại cho quá trình chảy mủ khi khai thác.
Khi nhiệt độ xuống 4 - 5°C thì cây bắt đầu bị tốn thương vì lạnh, nhiệt độ lạnh kéo dài thì lá bị khô, chéi bị chết dan đến chết toàn bộ cây (Nguyễn Thị Huệ, 2007). - Lượng mưa: Cây cao su có thể trồng ở các vùng có lượng mưa từ 1500 - 2000 mm/năm, không có mùa khô hoặc mùa khô từ thang 1 đến tháng 5, số ngày mưa thích hợp từ 100 - 150 ngày/năm và phân bố đều trong năm. Cây cao su trưởng thành có thể chịu hạn tốt, tuy nhiên vườn cao su non, đặc biệt khi cây mới trồng gặp khô hạn sẽ bị ton thương nghiêm trọng đến sinh trưởng của cây. - Giờ chiếu sáng: Giờ chiếu sáng ảnh hưởng trực tiếp đến cường độ quang hợp của cây cao su.
Ánh sáng đầy đủ giúp cây ít bệnh, tăng trưởng nhanh và năng suất cao. Giờ chiếu sáng được ghi nhận tốt nhất cho cây cao su bình quân là 1. - Gió: Gió nhẹ tốc độ khoảng 1 - 2 m.sˆ có lợi cho cây cao su vì giúp làm vườn cây thông thoáng, hạn chế được bệnh, điều hòa sinh trưởng cho cây. Khi gió có tốc độ > 17,2 ms" cây cao su bị gãy cành, thân (Nguyễn Thị Huệ , 2007).
- Âm độ: Không khí bình quân thích hợp cho sinh trưởng của cây cao su là trên 75%, âm độ không khí còn thê hiện tương quan thuận với dòng chảy mủ khi khai thác.4 Yêu cầu đất đai Cây cao su có thể sinh trưởng trên nhiều loại đất khác nhau, nhưng hiệu quả kinh tế là một vấn đề cần lưu ý để chọn lựa đất phục vụ cho việc nhân rộng vườn cây trên diện tích lớn. Cao trình thích hợp nhất để cao su sinh trưởng và phát triển là 200 m, ở vùng xích đạo có thê trồng đến cao trình 500 - 600 m, ở vị trí 5 - 6° mỗi bên vĩ tuyến có thê trồng cao su ở cao trình 400 m. pH thích hợp cho cây từ 4,5 — 5,5 và giới hạn đất cho trồng cao su là 3,5 — 7,0. Đất trồng cao su lý tưởng có tầng canh tác sâu 2 m (Nguyễn Thị Huệ, 2007; Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam, 2020).2 Dac điểm dòng vô tính RRIV 124 - _ Phố hệ: RRIC 121 x RRIC 115 - Xuat xứ: Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam từ vu lai 1990 với giống bố Mejnhaapj từ Sri Lanka - Phuong pháp chọn tạo: Dòng vô tính chọn lọc từ cây lai hữu tinh có kiểm soát.
- Dac tính nông học: + Sinh trưởng khỏe, tăng trưởng tốt trong giai đoạn khai thác + Thân thắng, phân cành hẹp, tán rất cao. Vỏ nguyên sinh khá dày, vỏ tái sinh rất tốt và sau 3 năm đã dày như vỏ nguyên sinh. - Chống chịu bệnh hại: Nhiễm nhẹ các loại bệnh - Nang suất: Mu nước trang, mủ đông sáng màu. Năng suất cao nhất trong các giống được công nhận trước năm 2006, năng suất có thể đạt gần 4 tắn/ha/năm trong điều kiện có kích thích mủ (Bộ môn giống, Viện Nghiên cứu cao su Việt Nam, 2009) - _ Khuyến cáo: Sản xuất với quy mô vừa ở Miền Đông Nam Bộ, khảo nghiệm ở các vùng khác.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cao su trên thế giới và trong nước s% Thế giới Năm 2008, thị trường tiêu thụ cao su thiên nhiên khoảng 9,84 triệu tan.
Từ năm 1975 đến năm 2007, mức độ tiêu thụ cao su thiên nhiên toàn thé giới tăng đáng kể theo đà phát triển của thế giới và mức sống của xã hội, từ 10,5 triệu tấn năm 1975 lên 22,87 triệu tan năm 2007. Trong đó cao su thiên nhiên từ mức 3,43 triệu tan năm 1975 lên 9,73 triệu tấn năm 2007 và tiếp tục tăng trong năm 2008 với mức tiêu thụ đạt 9,84 triệu tấn. Mức độ tiêu thụ cao su tổng hợp tăng gần 2 lần, từ 7,07 triệu tấn năm 1975 lên 13,15 triệu tan năm 2007. Như vậy, mức độ tiêu thụ cao su tăng trung bình 2,3 %/nam, trong đó sản lượng tiêu thụ của khu vực Châu Á Thái Bình Dương là 54 % (năm 2007) và hàng năm tăng khoảng 7 %.
Năm 2007, Trung Quốc là nước tiêu thụ cao su nhiều nhất với mức tiêu thụ là 5,9 triệu tấn, thứ 2 là Hoa Kỳ tiêu thụ 2,959 triệu tấn, thứ 3 là Nhật Bản tiêu thụ 2,05 triệu tan, thứ 4 là An Độ tiêu thụ 1,141 triệu tan, thứ 5 là Đức tiêu thụ 996 ngàn tan, tiép theo là các nước Brazil, Han Quốc, Nga, Thái Lan, Malaysia,. Các quốc gia dẫn đầu về mức tiêu thụ cao su thiên nhiên bao gồm Trung Quốc (33,5%), Mỹ (9,5%), Ấn Độ (8,7%) và Nhật Bản (6,6%) (Hiệp hội Cao su Việt Nam, 2014). Đến cuối năm 2013, tông sản lượng cao su thiên nhiên thế giới đạt khoảng 12,036 triệu tấn với tỷ lệ tăng trưởng bình quân trong giai đoạn 2009 — 2013 là 5,5%/năm (Hiệp hội Cao su Việt Nam, 2014). Theo Tổ chức Nghiên cứu Cao su Quốc tế ( International Rubber Study Group - IRSG), hiện nay có trên 24 nước trên thế giới sản xuất cao su thiên nhiên với tổng diện tích cây cao su đến cuối năm 2017 ước đạt khoảng 13,5 triệu ha chủ yếu tại Châu Á, kế 6 đến là Châu Phi và Châu Mỹ với tổng sản lượng cao su thiên nhiên ước đạt khoảng 12,88 triệu tan (ANRPC, 2018).Trong số các quốc gia sản xuất cao su thiên nhiên thé giới, Thai Lan dan đầu với sản lượng năm 2017 đạt khoảng 4,429 triệu tan, thứ hai là Indonesia với sản lượng đạt khoảng 3.230 triệu tan, Viét Nam xếp thứ ba với sản lượng đạt khoảng 1.035 triệu tấn, kế tiếp là Trung Quốc với sản lượng đạt khoảng 819 ngàn tan, tiếp theo là An Độ với sản lượng đạt khoảng 740 ngàn tan và Malaysia với sản lượng đạt khoảng 730 ngàn tan s* Trong nước Cao su Việt Nam từ vi trí thứ 8 năm 2005 đã vươn lên đứng thứ 5 năm 2008 với kim ngạch xuất khẩu đạt 1,5893 tỷ USD với sản lượng 662,9 ngàn tan.
Hiện nay Việt Nam đang đứng thứ 6 về diện tích cây cao su, thứ 5 về sản lượng, thứ 3 về năng suất vườn cây, thứ 4 về xuất khẩu (Tran Thị Thúy Hoa, 2008). Chiến lược phát triển cao su của chính phủ đến năm 2020 là mở rộng diện tích đến 860 ngàn — 1 triệu ha, tập trung ở các vùng Duyên hải miền Trung và miền núi phía Bắc, trong đó đòi hỏi bộ giống cao su phải đa dang về mặt di truyền dé thích nghi được với vùng sinh thái đa dạng (Bộ NN & PTNT, 2008). Vì thế, nghiên cứu đa dạng di truyền là rất cần thiết nhằm đáp ứng nhu câu nêu trên. Cuối năm 2007, Việt Nam có hơn 70 đơn vị sản xuất cao su, đạt khối lượng sản phẩm hàng năm từ 500 đến 20.