Phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương. 6 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LỖI TRONG TRÁCH NHIỆM BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG 1. Trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng 1. Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Trách nhiệm BTTH từ lâu đã được các nhà nghiên cứu tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau qua mỗi thời kỳ lịch sử.
Theo đó, trước khi được hiểu là một loại trách nhiệm pháp lý thì trách nhiệm BTTH được xem xét ở các giai đoạn như sau [8, tr.437]: Giai đoạn thứ nhất, trong thời kỳ cổ đại, khi chính quyền trong xã hội còn chưa được tổ chức một cách vững chãi, các cá nhân, mỗi khi bị xâm phạm vào quyền lợi được tự ý trả thù để trừng phạt đối phương, hoặc bắt đối phương làm nô lệ, hay lấy tài sản của họ. Chế độ này còn được gọi là chế độ tư nhân phục thù. Giai đoạn thứ hai, người gây ra sự tổn hại có thể nộp một số tiền chuộc hay thục kim cho nạn nhân để tránh trả thù. Chế độ này còn được gọi là chế độ thục kim.
Chế độ thục kim đã trải qua hai giai đoạn phát triển: 1) Khi chưa có sự can thiệp của pháp luật, các bên tự thoả thuận với nhau về tiền chuộc, đó là chuộc lỗi tự nguyện; 2) Nhờ sự can thiệp của chính quyền, các bên tranh chấp bắt buộc phải giải quyết tranh chấp bằng cách trả cho nhau số tiền chuộc lỗi theo ngạch giá do pháp luật quy định, đó là chế độ thục kim bắt buộc. Tiền thục kim này có thể coi như vừa là một hình phạt, vừa có tính chất bồi thường thiệt hại. Vào thời kỳ Luật 12 bảng, Cổ luật La Mã mới bắt đầu chuyển từ chế độ tự ý thục kim sang bắt buộc thục kim. Giai đoạn thứ ba, chứng kiến sự phân biệt hai trách nhiệm hình sự và dân sự.
Chính quyền, trước hết, can thiệp để trừng phạt những tội phạm chỉ 7 liên quan đến trật tự xã hội, không liên hệ đến cá nhân. Sự can thiệp này rất cần thiết, vì nếu không có sự thanh trừng của xã hội, những vụ phạm pháp này không được chú ý tới vì không làm hại trực tiếp đến quyền lợi của tư nhân. Sự can thiệp của chính quyền dần dần được nới rộng đến sự phạm pháp liên quan đến quyền lợi của các cá nhân như các vụ ẩu đả, trộm cắp. Về phương diện hình sự, cá nhân mất hết quyền phục thù và chỉ còn quyền xin bồi thường tổn hại của mình về dân sự.
Tuy trong một số trường hợp, Luật La Mã đã tiến tới sự phân biệt hai trách nhiệm hình sự và dân sự, nhưng nhà làm luật chưa quy định được hẳn một nguyên tắc trách nhiệm tổng quát, bắt buộc người gây ra sự tổn thất phải bồi thường thiệt hại bất luận trường hợp nào. Ở Việt Nam, cổ luật cũng không tách biệt trách nhiệm BTTH là một loại trách nhiệm thuộc luật tư và cũng chỉ giải quyết các vấn đề thuộc trật tự công. Vì vậy, các điều luật trong bộ luật cổ như bộ Quốc triều Hình luật của nhà Lê hay Hoàng Việt Luật lệ của Gia Long đều quy định các điều khoản trách nhiệm về luật hình ví dụ: Điều 582 Quốc triều hình luật đã quy định Nếu những súc vật và chó đã húc, đá và cắn người mà cách làm hiệu và ràng buộc không đúng phép – (theo đúng phép vật nào hay húc người thì phải cắt hai sừng, đá người thì phải buộc hai chân, cắn người thì phải cắt hai tai)- hay là chó dại mà không giết thì người chủ phải phạt 60 lượng. Nếu vì cớ trên, có người chết hay bị thương thì phải tội quá thất.
Nếu cố ý thả ra để làm cho người chết hay bị thương thì phải tội kém tội đánh người bị thương hay đánh chết người một bậc. Người được thuê đến để chữa bệnh cho súc vật, hay là người cố trêu trọc những vật kia, mà bị thương hay chết, thì người chủ không phải tội. Tuy nhiên, trong một vài trường hợp đặc biệt, cổ luật Việt Nam cũng 8 quy định sự bồi thường. Đối với trường hợp đánh người bị thương, điều 468 Quốc triều hình luật đã quy định sự nuôi bảo cô.
Thí dụ: đánh bị thương bằng chân tay thì phải nuôi 10 ngày, bằng vật khác thì phải nuôi 20 ngày, bằng thứ có mũi nhọn hay bằng nước sôi, lửa, thì phải nuôi 40 ngày, đánh gãy xương thì phải nuôi 80 ngày…. Nhưng ngoài những trường hợp đặc biệt, Cổ luật Việt Nam không phân biệt rõ rệt hai trách nhiệm hình sự và dân sự và cũng không nêu lên một nguyên tắc tổng quát nào về trách nhiệm dân sự [22]. Trải qua nhiều giai đoạn phát triển của lịch sử lập pháp, hiện nay, trách nhiệm BTTH được hiểu là một loại trách nhiệm dân sự theo đó người có hành vi gây ra thiệt hại cho người khác phải bồi thường những tổn thất mà mình gây ra. Theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại được quy định tại Điều 361 – Thiệt hại do vi phạm nói chung và Chương XX – Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Tuy nhiên, trong cả hai phần này đều không nêu rõ trách nhiệm BTTH mà chỉ nêu lên căn cứ phát sinh trách nhiệm, nguyên tắc bồi thường, năng lực chịu trách nhiệm, thời hạn bồi thường… Bộ luật dân sự 2015 dành một chương riêng quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Mặc dù không đưa ra khái niệm cụ thể về loại trách nhiệm này song qua các quy định liên quan có thể hiểu: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm dân sự mà khi người nào có hành vi vi phạm nghĩa vụ do pháp luật quy định ngoài hợp đồng xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thì phải bồi thường thiệt hại do mình gây ra. Hiện nay, pháp luật Việt Nam quy định chủ yếu về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng đối với hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản của các cá nhân và tổ chức khác. Đặc điểm pháp lý của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Thứ nhất, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm dân sự.
Nếu trách nhiệm BTTH theo hợp đồng bao giờ cũng phát sinh trên cơ sở một hợp đồng có trước thì trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm pháp lý do pháp luật quy định đối với người có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Người có hành vi trái pháp luật, gây thiệt hại cho người khác phải có trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại những tổn thất về mặt vật chất và tinh thần mà người bị thiệt hại phải gánh chịu. Việc bồi thường được thực hiện theo quy định của pháp luật dân sự. Do đó, trách nhiệm BTTH được xác định là một loại trách nhiệm dân sự.
Thứ hai, cơ sở phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm dân sự phát sinh trên cơ sở do pháp luật quy định. Người gây ra thiệt hại nếu thỏa mãn các dấu hiệu về căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng thì phải chịu trách nhiệm bồi thường theo quy định của pháp luật. Theo đó, Điều 584 Bộ luật dân sự 2015 quy định về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng như sau: “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”. Thứ ba, về chủ thể chịu trách nhiệm Thông thường, người có hành vi trái pháp luật, gây thiệt hại cho người khác thì phải chịu trách nhiệm BTTH.
Tuy nhiên, pháp luật dân sự cũng căn cứ vào độ tuổi, khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của từng chủ thể gây thiệt hại mà xem xét về trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho từng đối tượng 10 khác nhau. Do đó, Bộ luật dân sự 2015 quy định, trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng ngoài việc áp dụng đối với người có hành vi trái pháp luật thì còn áp đụng đối với người khác như cha mẹ của người chưa thành niên, người giám hộ đối với người được giám hộ, pháp nhân đối với người của pháp nhân, trường học, bệnh viện, cơ sở dạy nghề… Thứ tư, về mức bồi thường BTTH ngoài hợp đồng nhằm mục đích bù đắp cho người bị thiệt hại những tổn thất về mặt vật chất và tinh thần mà người đó phải gánh chịu do hành vi vi phạm pháp luật của chủ thể gây thiệt hại. Do đó, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị thiệt hại, pháp luật quy định về nguyên tắc người gây thiệt hại (người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại) phải bồi thường toàn bộ thiệt hại thực tế xảy ra một cách nhanh chóng kịp thời. Thiệt hại chỉ có thể được giảm trong một số trường hợp đặc biệt đó là người gây thiệt hại không có lỗi, có lỗi vô ý và thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của họ.
Khái niệm về lỗi và ý nghĩa của lỗi trong việc xác định trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng 1. Khái niệm lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Hiện nay, khái niệm lỗi được xây dựng với nhiều quan điểm. Theo cuốn Từ điển tiếng Việt “Lỗi là điều sai sót, không nên, không phải trong cách xử sự, trong hành động” [20]. Đây là cách hiểu thông thường về lỗi trong đời sống hàng ngày.
Theo quan điểm của Luật gia người pháp Planion cho rằng: “Lỗi là sự vi phạm nghĩa vụ đã sẵn có”. Ở Việt Nam, khái niệm lỗi được xem xét ở nhiều khía cạnh với những quan điểm khác nhau, theo đó có hai quan điểm nổi bật được đa số các chuyên gia pháp lý thừa nhận rộng rãi: Quan điểm 1 cho rằng: Lỗi là trạng thái tâm lý phản ánh thái độ tiêu cực của chủ thể đối với hành vi trái pháp luật của mình cũng như đối với hậu quả của hành vi đó [7]. 11 Quan điểm 2 cho rằng: Thái độ tâm lý của chủ thể đối với hành vi trái pháp luật không phải sau sự kiện thực hiện hành vi mà trong quá trình thực hiện nó, diễn ra đồng thời với quá trình thực hiện nó.