Lợi ích kinh tế của công nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại miền đông nam bộ hiện nay

Nghiên cứu lợi ích kinh tế của công nhân làm việc tại các doanh nghiệp FDI ở khu vực Đông Nam Bộ. Phân tích tác động, thực trạng và giải pháp nâng cao đời sống.

Chuyên ngành

Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài khoa học cấp bộ

2007

463
1
0

Phí lưu trữ

75 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Lợi Ích Kinh Tế Công Nhân FDI Đông Nam Bộ

Trong mọi xã hội, lợi ích kinh tế đóng vai trò là động lực khách quan thúc đẩy hoạt động của các giai cấp và cá nhân. Lợi ích kinh tế xuất hiện, vận động và phát triển dựa trên điều kiện vật chất và nhu cầu của con người. Đây là mối lợi kinh tế mà cá nhân, tập thể hoặc xã hội hướng tới trong các mối quan hệ kinh tế, thúc đẩy hành động chống lại những cản trở. Cơ sở của lợi ích kinh tế là quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất. Việc thực hiện lợi ích cá nhân cần gắn liền với lợi ích tập thể và xã hội, hướng đến phát triển kinh tế-xã hội. Lợi ích cá nhân bao gồm yếu tố tự nhiên, xã hội và lịch sử, thể hiện qua sự quan tâm đến nhu cầu vật chất và tinh thần. Lợi ích trở thành động lực cơ bản của mọi hành động. Trong bối cảnh kinh tế thị trường, khi sức lao động trở thành hàng hóa, người lao động ngày càng ý thức sâu sắc về lợi ích của mình.

C.Mác đã chỉ ra mối quan hệ giữa người chủ và người làm thuê trong nền kinh tế hàng hóa. Khi lợi ích của người lao động tăng lên, lợi nhuận của người chủ có thể giảm, nhưng đồng thời, khi quyền lợi của họ được đảm bảo, họ sẽ tích cực và tạo ra năng suất cao hơn, từ đó tăng lợi ích cho cả hai bên. Nghiên cứu thực trạng thực hiện lợi ích của công nhân trong doanh nghiệp FDIĐông Nam Bộ năm 2007 là cần thiết để góp phần điều chỉnh và hoàn thiện cơ chế thực hiện lợi ích của công nhân.

1.1. Bản chất của Lợi Ích Kinh Tế trong Xã Hội

Lợi ích đóng vai trò quan trọng trong sự vận động của lịch sử. Hegel đề cao ý nghĩa giải quyết vấn đề kết hợp lợi ích chung và riêng, cho rằng Nhà nước mạnh khi lợi ích riêng của công dân thống nhất với lợi ích chung. Ăng-ghen phê phán quan điểm duy tâm về vai trò Nhà nước. Hai ông cho rằng lợi ích liên kết các thành viên xã hội. Quan điểm này chỉ ra rằng cần xem xét bản chất giai cấp của nhà nước và điều kiện lịch sử xã hội để hiểu đúng về lợi ích.

1.2. Ảnh Hưởng của FDI đến Lợi Ích Kinh Tế Công Nhân

Trong doanh nghiệp FDI, quan hệ lao động dựa trên sự tách rời giữa sức lao động và tư liệu sản xuất. Việc thu hút vốn đầu tư và kinh nghiệm của tư bản nước ngoài tạo ra việc làm và thúc đẩy phát triển kinh tế. Trong chừng mực nhất định, thừa nhận quan hệ bóc lột sức lao động, nhưng đây là hình thức bóc lột cần thiết, mang lại lợi ích cho quốc gia và người công nhân trong thời kỳ quá độ. Để kinh tế phát triển và đảm bảo lợi ích của công nhân, cần thực hiện đúng đắn mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và người công nhân trong khuôn khổ pháp luật.

II. Thách Thức Thực Trạng Lợi Ích Công Nhân FDI Năm 2007

Mặc dù doanh nghiệp FDI đóng góp vào tăng trưởng kinh tế và tạo việc làm, vẫn còn nhiều thách thức trong việc đảm bảo lợi ích kinh tế cho công nhânĐông Nam Bộ năm 2007. Mức lương công nhân trong một số doanh nghiệp FDI chưa đáp ứng đủ nhu cầu sống tối thiểu. Điều kiện làm việc còn nhiều hạn chế, tiềm ẩn rủi ro về an toàn lao động và sức khỏe nghề nghiệp. Chính sách lao động chưa thực sự bảo vệ quyền lợi của công nhân, đặc biệt là trong các vấn đề như bảo hiểm xã hội, thời gian làm việc và nghỉ ngơi. Sự chênh lệch về thu nhậpphúc lợi xã hội giữa công nhân Việt Nam và lao động nước ngoài trong doanh nghiệp FDI gây ra bất bình đẳng. Cần có những giải pháp đồng bộ để giải quyết những thách thức này, đảm bảo lợi ích kinh tế chính đáng cho công nhân và thúc đẩy sự phát triển bền vững của doanh nghiệp FDI.

2.1. Khó khăn trong Đảm Bảo Mức Lương và Thu Nhập Ổn Định

Một số doanh nghiệp FDI trả mức lương thấp cho công nhân, không đủ trang trải chi phí sinh hoạt cơ bản. Tình trạng làm thêm giờ nhiều, tăng ca liên tục gây ảnh hưởng đến sức khỏe và đời sống của công nhân. Cơ chế tăng lương chưa rõ ràng, thiếu minh bạch, gây ra sự bất mãn trong công nhân. Cần có sự can thiệp của các cơ quan chức năng để đảm bảo mức lương công nhân phù hợp với năng lực và đóng góp của họ.

2.2. Vấn Đề về Điều Kiện Làm Việc và An Toàn Lao Động

Điều kiện làm việc trong một số doanh nghiệp FDI chưa đảm bảo tiêu chuẩn về vệ sinh, ánh sáng và thông gió. Thiếu trang thiết bị bảo hộ lao động hoặc trang thiết bị không đạt chất lượng gây nguy hiểm cho công nhân. Tình trạng tai nạn lao động xảy ra thường xuyên, gây thiệt hại về sức khỏe và tính mạng của công nhân. Cần tăng cường kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm các vi phạm về an toàn lao động.

III. Giải Pháp Nâng Cao Thu Nhập Công Nhân FDI Cách Nào

Để nâng cao thu nhập công nhân FDIĐông Nam Bộ năm 2007, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết, cần hoàn thiện chính sách lao động, tăng cường vai trò của công đoàn trong việc bảo vệ quyền lợi của công nhân. Mức lương tối thiểu cần được điều chỉnh phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội và đảm bảo đời sống công nhân. Các doanh nghiệp FDI cần xây dựng cơ chế trả lương công bằng, minh bạch, dựa trên năng lực và hiệu quả làm việc của công nhân. Cần khuyến khích các doanh nghiệp FDI đầu tư vào đào tạo, nâng cao kỹ năng nghề nghiệp cho công nhân, giúp họ có cơ hội thăng tiến và tăng thu nhập.

3.1. Vai Trò của Chính Sách Lao Động và Công Đoàn

Chính sách lao động cần được sửa đổi, bổ sung để phù hợp với tình hình mới, bảo vệ tốt hơn quyền lợi của công nhân. Công đoàn cần tăng cường hoạt động, đại diện cho công nhân trong các cuộc đàm phán với doanh nghiệp, bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của họ. Cần có cơ chế giám sát hiệu quả việc thực hiện chính sách lao động và giải quyết kịp thời các tranh chấp lao động.

3.2. Đào Tạo và Nâng Cao Kỹ Năng cho Công Nhân

Các doanh nghiệp FDI nên đầu tư vào đào tạo, nâng cao kỹ năng nghề nghiệp cho công nhân, giúp họ có kiến thức và kỹ năng đáp ứng yêu cầu công việc. Cần có sự phối hợp giữa doanh nghiệp, các cơ sở đào tạo và nhà nước trong việc xây dựng chương trình đào tạo phù hợp với nhu cầu thị trường lao động. Việc nâng cao kỹ năng nghề nghiệp sẽ giúp công nhân có cơ hội tìm được việc làm tốt hơn và tăng thu nhập.

IV. Cải Thiện Đời Sống Phúc Lợi Xã Hội Cho Công Nhân FDI

Ngoài việc tăng thu nhập, cần chú trọng cải thiện phúc lợi xã hội cho công nhân FDIĐông Nam Bộ. Các doanh nghiệp FDI cần thực hiện đầy đủ các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho công nhân. Cần có chính sách hỗ trợ nhà ở cho công nhân, đặc biệt là công nhân có hoàn cảnh khó khăn. Các doanh nghiệp nên xây dựng các thiết chế văn hóa, thể thao, tạo điều kiện cho công nhân vui chơi, giải trí sau giờ làm việc. Cần quan tâm đến đời sống tinh thần của công nhân, giúp họ hòa nhập vào cộng đồng và có cuộc sống hạnh phúc.

4.1. Bảo Đảm Các Chế Độ Bảo Hiểm và An Sinh Xã Hội

Việc thực hiện đầy đủ các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp là trách nhiệm của các doanh nghiệp FDI và là quyền lợi của công nhân. Cần tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chế độ bảo hiểm, xử lý nghiêm các vi phạm. Các cơ quan chức năng cần có chính sách hỗ trợ công nhân tham gia bảo hiểm tự nguyện.

4.2. Hỗ Trợ Nhà Ở và Các Thiết Chế Văn Hóa

Vấn đề nhà ở là một trong những khó khăn lớn của công nhân, đặc biệt là công nhân từ các tỉnh, thành phố khác đến làm việc. Cần có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp xây dựng nhà ở cho công nhân hoặc hỗ trợ công nhân thuê nhà ở. Các thiết chế văn hóa, thể thao sẽ giúp công nhân giải tỏa căng thẳng, tái tạo sức lao động và nâng cao đời sống tinh thần.

V. Nghiên Cứu Năm 2007 Kết Quả Bài Học về Lợi Ích

Nghiên cứu năm 2007 về lợi ích kinh tế của công nhân trong doanh nghiệp FDIĐông Nam Bộ cung cấp cái nhìn sâu sắc về thực trạng và những vấn đề đặt ra. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù doanh nghiệp FDI góp phần tạo việc làm và tăng thu nhập, nhưng vẫn còn nhiều tồn tại trong việc đảm bảo lợi ích cho công nhân. Bài học rút ra từ nghiên cứu là cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà nước, doanh nghiệp và công đoàn trong việc xây dựng chính sách lao động, thực hiện các chế độ phúc lợi xã hội và giải quyết các tranh chấp lao động. Cần tiếp tục nghiên cứu, đánh giá để có những giải pháp phù hợp với tình hình mới.

5.1. Phân Tích Kết Quả Nghiên Cứu năm 2007

Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng mức lương công nhân trong doanh nghiệp FDI chưa đáp ứng đủ nhu cầu sống tối thiểu, điều kiện làm việc còn nhiều hạn chế. Chính sách lao động chưa thực sự bảo vệ quyền lợi của công nhân. Cần phân tích sâu hơn các yếu tố ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của công nhân để có những giải pháp hiệu quả.

5.2. Bài Học Kinh Nghiệm và Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo

Bài học rút ra từ nghiên cứu là cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên liên quan trong việc đảm bảo lợi ích cho công nhân. Cần tiếp tục nghiên cứu về tác động kinh tế của doanh nghiệp FDI đến đời sống công nhân, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng.

VI. Tương Lai Phát Triển Bền Vững và Lợi Ích Công Nhân FDI

Để phát triển bền vững, cần đảm bảo lợi ích kinh tế của công nhân FDI gắn liền với sự phát triển của doanh nghiệp và toàn xã hội. Cần xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ, tạo động lực cho công nhân hăng say lao động, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Cần khuyến khích các doanh nghiệp FDI áp dụng các tiêu chuẩn lao động quốc tế, bảo vệ môi trường và có trách nhiệm xã hội. Chỉ khi đó, doanh nghiệp FDI mới thực sự đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của Đông Nam Bộ và Việt Nam.

6.1. Xây Dựng Quan Hệ Lao Động Hài Hòa và Ổn Định

Quan hệ lao động hài hòa và ổn định là yếu tố quan trọng để đảm bảo sự phát triển bền vững của doanh nghiệp FDI. Cần xây dựng cơ chế đối thoại, thương lượng giữa doanh nghiệpcông nhân để giải quyết các vấn đề phát sinh. Các tranh chấp lao động cần được giải quyết kịp thời, công bằng, trên cơ sở pháp luật.

6.2. Trách Nhiệm Xã Hội và Tiêu Chuẩn Lao Động Quốc Tế

Các doanh nghiệp FDI cần có trách nhiệm xã hội, góp phần vào sự phát triển cộng đồng. Việc áp dụng các tiêu chuẩn lao động quốc tế sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao uy tín, thu hút lao động và tạo lợi thế cạnh tranh. Cần khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào các hoạt động xã hội, bảo vệ môi trường và phát triển cộng đồng.

12/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 LỢI ÍCH KINH TẾ VÀ QUAN HỆ LỢI ÍCH TRONG DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI. Quan niệm về lợi ích và lợi ích kinh tế 1. Quan niệm về lợi ích Trong xã hội và đặc biệt là trong nền sản xuất xã hội, tất cả mọi người đều quan tâm đến những nhu cầu và lợi ích. Các tác động của lợi ích biểu hiện ở khắp mọi nơi, mọi lĩnh vực.

Việc sử dụng có ý thức “các công cụ đòn bẩy kinh tế” - thực chất là các lợi ích kinh tế trong việc quản lý trực tiếp, giúp chúng ta một phương tiện tác động rất tinh tế và hết sức mạnh mẽ đối với sản xuất- kinh doanh và phát triển kinh tế- xã hội. Dưới sự tác động của lợi ích, thái độ của con người đối với thế giới xung quanh có được tính hướng đích. Lợi ích là động lực bên trong làm chuyển động các hành vi của con người. Việc phân tích một cách toàn diện hiện tượng lợi ích đưa ra cơ sở, khả năng cho việc giải thích các nguyên nhân thực sự của các khát vọng cuộc sống của con người và động cơ hành vi của con người.

Nhiều nhà triết học Pháp thế kỷ 18 coi lợi ích là động lực quan trọng nhất của hành vi con người. Tuy nhiên họ chưa lý giải được cái gì sinh ra lợi ích của con người và sinh ra sự xung đột hay “kết hợp hi hịa” giữa các lợi ích. Kant coi lợi ích là cái nhờ nó lý trí trở thành thực tiễn, tức trở thành nguyên nhân xác định ý chí. Do đó, người ta chỉ nói về thực thễ(con người) có lý trí, rằng con người đó thể hiện lợi ích đối với cái gì đó; những người bị mất lý trí chỉ có động lực cảm giác.

Như vậy mọi người trong các hành vi của mình trước hết tuân theo các lợi ích đạo đức, các lợi ích bổn phận. Hêghel sử dụng một cách rộng rãi phạm trù lợi ích để phân tích hành vi của con người, để làm sáng tỏ các sức mạnh, động lực của sự phát triển xã 9 hội. Vì lợi ích đóng vai trò quan trọng trong sự vận động của lịch sử, cho nên ông đề cao ý nghĩa của việc giải quyết vấn đề về sự kết hợp các lợi ích chung và các lợi ích riêng. Ông cho rằng, Nhà nước sẽ tiện lợi và tự mình sẽ rất mạnh, nếu như lợi ích riêng của công dân được thống nhất với lợi ích chung, nếu như lợi ích này được thỏa mãn và thực hiện trong lợi ích khác.

Dù có những mâu thuẫn nhất định, nhưng lý luận của Hêghel về lợi ích đánh dấu một bước phát triển lớn trong việc giải quyết vấn đề đó. Ang- ghen đánh giá cao quan niệm về kết hợp lợi ích của Hêghel nhưng phê phán một cách gay gắt quan điểm cho rằng Nhà nước điều hòa các thành viên của xã hội dân sự lại với nhau trên lập trường duy tâm về xã hội vì “bỏ qua” bản chất giai cấp của nhà nước và những điều kiện thực tiễn lịch sử xã hội. Hai ông cho rằng, chính lợi ích là cái liên kết các thành viên của xã hội thị dân lại với nhau. Lợi ích là thuộc tính tất yếu của con người và nó gắn kết các thành viên xã hội dân sự lại với nhau1.

Trong điều kiện của nhà nước bóc lột, thuộc tính đó có thể thể hiện và thể hiện ở “hình thức xa lạ” là nhà nước và hệ tư tưởng của nhà nước do bản chất giai cấp và định hướng chính trị của mình làm sai lệch nội dung hiện thực và mối tương quan giữa các lợi ích, do vậy làm mờ đi mối quan hệ thực tế giữa mọi người được hình thành trên cơ sở của các quan hệ sản xuất tồn tại trong xã hội. Ăng-ghen còn phân biệt tư tưởng với lợi ích và làm sáng tỏ mối quan hệ hiện thực giữa chúng: “ một khi tư tưởng tách rời “ lợi ích” thì nhất định nó sẽ tự làm nhục nó”2. Xuất phát từ luận điểm đó các ông đi đến kết luận rằng tư tưởng chỉ là sự phản ánh lợi ích giai cấp và sức mạnh của tư tưởng tùy thuộc vào việc nó gắn liền sâu sắc đến mức nào với các lợi ích, ở mức độ như thế nào phản ánh lợi ích chung.Toàn tập,T2,Nxb. 126 10 Lợi ích thể hiện với tư cách là sức mạnh động lực của những thay đổi xã hội.

Chúng được hình thành trên cơ sở của các quan hệ sản xuất, trao đổi và phân phối của cải vật chất tồn tại trong xã hội đó và do vậy chúng được thay đổi cùng với những thay đổi của các quan hệ đó. Các quan hệ kinh tế của từng xã hội được biểu hiện trước hết dưới tư cách là các lợi ích. Những luận điểm lý luận của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lênin về lợi ích, về ý nghĩa và vai trò của lợi ích trong sự phát triển xã hội là cơ sở phương pháp luận cho việc nghiên cứu và nhận thức nó. Ở giai đoạn phát triển hiện nay, lợi ích là một trong những vấn đề có ý nghĩa rất lớn đối với hoạt động của con người cụ thể, đối với tập thể và đối với các chủ thể xã hội khác nhau.

Trong lĩnh vực chính trị kinh tế học có nhiều công trình nghiên cứu về lợi ích. Tuy vậy ở đây vẫn không có sự thống nhất trong quan điểm. Quan điểm thứ nhất phủ định tính chất khách quan của các lợi ích. Cho rằng lợi ích là sự phản ánh trong ý thức của mọi người các nhu cầu phát triển khách quan của họ gắn liền với các điều kiện của tồn tại xã hội hoặc lợi ích kinh tế là hành vi hoạt động của ý thức thuộc lĩnh vực quan hệ ý chí hay theo bản chất của mình lợi ích kinh tế là yếu tố tâm lý, là sự phản ánh tư tưởng của cá nhân (của xã hội ) về hệ thống các quan hệ sản xuất khách quan kích thích cá nhân thực hiện những hành vi nhất định.

Quan điểm thứ hai, khi coi lợi ích là phạm trù khách quan đồng thời khẳng định rằng chủ thể mang lợi ích là con người và do vậy quá trình thực hiện các lợi ích chỉ có thể được tiến hành trong trường hợp nhận thức được chúng. Do đó, họ cho rằng lợi ích là sự thống nhất của cái khách quan và cái chủ quan có cơ sở khách quan nhất định. Nhưng lợi ích tùy thuộc rất nhiều vào người mang lợi ích – con người. Lợi ích không tồn tại ở bên ngoài con người, bên ngoài giai cấp, bên ngoài ý thức của con người.

Ở ý nghĩa này, lợi 11 ích được thể hiện ở hình thức chủ quan. Tuy vậy, lợi ích không phải phạm trù chủ quan. Không phải là hiện tượng ngẫu nhiên mặc dù lợi ích được thể hiện ở hình thức chủ quan, bởi vì nội dung và nguồn gốc của lợi ích là khách quan. Khi thừa nhận lợi ích là hình thức biểu hiện của các quan hệ kinh tế, những người theo quan điểm này còn khẳng định rằng hình thức đó được tạo ra bởi ý thức, bởi chức năng phản ánh của con người và do đó thuộc tính phản ánh tùy thuộc cả vào ý thức lẫn vào kinh nghiệm kinh tế –xã hội của chủ thể kinh doanh và của những người khác tham gia các quá trình kinh tế.

Do đó, trong bản chất phức tạp của các lợi ích kinh tế cùng với thuộc tính khách quan có cả thuộc tính chủ quan. Trong lĩnh vực xã hội học cũng có nhiều ý kiến khác nhau về thực chất và bản chất của lợi ích. Quan điểm chiếm ưu thế nhất là quan điểm cho rằng lợi ích có cơ sở khách quan. Một số tác giả cho rằng lợi ích là hiện tượng của trật tự chủ quan.

Số tác giả khác lại quan niệm rằng lợi ích là sự thống nhất biện chứng của cái khách quan và cái chủ quan; cái khách quan là địa vị của chủ thể, còn cái chủ quan là sức mạnh động lực tư tưởng : sự mong muốn, khát vọng, động cơ của hoạt động. Theo quan niệm này thì sức mạnh động lực tư tưởng là yếu tố cần thiết của lợi ích. Do đó, con người vận động bằng các lợi ích của mình, đồng thời có thể hoạt động trái với lợi ích vì lợi ích là cái tồn tại khách quan có thể được nhận thức đúng có thể không được nhận thức( tự mâu thuẫn, không logic)1. Trong cuốn “ Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Vấn đề nguồn gốc và động lực”, tác giả Lê Hữu Tầng có một sự trình bày khá sâu sắc về vấn đề lợi ích. Theo ông: phương tiện thõa mãn nhu cầu, đối với chủ thể hành động chính là lợi ích. Vậy lợi ích gắn bó hết sức chặt chẽ với nhu cầu …. Lợi ích không trùng với nhu cầu nhưng nó cũng không hoàn toàn tách biệt với 1 PGS.

TS Luật học Võ Khánh Vinh. Lợi ích xã hội và pháp luật. Lợi ích là cái đáp ứng nhu cầu và vì lẽ đó nó chỉ có nghĩa là lợi ích khi được đặt trong mối quan hệ với nhu cầu … Xét về mặt bản chất, lợi ích chính là mối quan hệ- quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng của thế giới bên ngoài với nhu cầu của chủ thể; còn về mặt nội dung, lợi ích là cái thõa mãn nhu cầu, đáp ứng lại nhu cầu … Nhu cầu quyết định đối với chủ thể lợi ích, do đó nó là cơ sở của lợi ích, còn lợi ích ngược lại, xuất phát từ nhu cầu, dựa tên nhu cầu, là sự thể hiện của nhu cầu. Tính chất động lực của nhu cầu được thực hiện không phải một cách trực tiếp, mà thông qua khâu lợi ích, còn lợi ích là khâu trực tiếp hơn cả trong việc làm hình thành động cơ tư tưởng thúc đẩy con người ta hành động nhằm giành lấy cái thỏa mãn nhu cầu … Cùng với nhu cầu, lợi ích là một trong những động lực cực kỳ quan trọng trực tiếp thúc đẩy hành động của con người và thông qua đó gây nên những biến đổi trong tiến trình vận động của lịch sử1.

Trên quan niệm triết học, tiến sỹ Nguyễn Linh Khiếu cho rằng: quan hệ lợi ích là mối quan hệ xã hội khách quan giữa các chủ thể có cùng nhu cầu và cùng đối tượng thỏa mãn nhu cầu như nhau trong việc thực hiện nhu cầu ấy … Đối tượng của quan hệ lợi ích chính là lợi ích của các chủ thể tham gia quan hệ này. Vì thế cũng có thể nói lợi ích là cái đáp ứng nhu cầu … Cố nhiên, không phải quan hệ nhu cầu nào cũng làm nảy sinh quan hệ lợi ích.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ