Chương 1: Giới thiệu về lý do hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn. Chương 2: Trình bày cơ sở lý thuyết và những nghiên cứu liên quan đến ứng dụng mạng xã hội cho việc nâng cao chất lượng dạy và học. Chương 3: Trình bày mô hình đánh giá lợi ích mạng xã hội Facebook trong giáo dục Chương 4: Phân tích dữ liệu và trình bày kết quả phân tích dữ liệu. Chương 5: Tóm tắt kết quả nghiên cứu, các đóng góp về khoa học và thực tiễn, và hạn chế của đề tài, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.
8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NHỮNG NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2. Nghiên cứu về phương pháp học chủ động (Active learning) Active learning: là phương pháp dạy học mà sự phấn đấu phụ thuộc trực tiếp vào sự tham gia của người học. Mô hình dạy học tập trung vào trách nhiệm của người học. Học chủ động chuyển học viên từ học như một người nghe thụ động sang một thành phần tham gia chủ động, nó giúp cho học viên hiểu những chủ đề thông qua nghiên cứu, tham gia và phân tích dữ liệu để xử lý và nhận thức vấn đề.
Học tập tích cực như một cách tiếp cận để giảng dạy, trong đó học sinh tham gia vào các tài liệu để tự đọc, viết, nói, nghe và phản chiếu. Học tập tích cực đứng ngược với các phương pháp giảng dạy “ tiêu chuẩn”, trong đó giáo viên hầu hết nói chuyện và học sinh lắng nghe một cách thụ động. Học sinh và nhu cầu học tập của họ là trung tâm của việc học tích cực. Có nhiều chiến lược giảng dạy có thể sử dụng để gắn kết sự học tập của học viên và chương trình học bao gồm việc: thảo luận nhóm, giải quyết vấn đề, trường hợp điển hình, nhập vai, viết nhật ký và những nhóm học tập có cấu trúc.
Lợi ích của việc học tập chủ động bao gồm cải thiện tư duy phản biện, tăng cường lưu giữ và truyền tải thông tin mới, động cơ thúc đẩy và nâng cao kỹ năng giao tiếp. Học tập chủ động thừa nhận rằng con người học tốt nhất từ trải nghiệm. Khái niệm về học tập chủ động không phải là mới. Những trải nghiệm của sinh viên được lặp lại trong tư duy phản biện hiện đại về giáo dục đại học, việc học của sinh viên được thực hiện thông qua việc tham gia vào quá trình học tập.
Sinh viên sẽ không học được nhiều khi chỉ ngồi trong lớp và nghe giảng viên giảng bài, học thuộc lòng bài tập và trả lời câu hỏi. Họ phải nói về những gì họ đang học, viết về nó, liên hệ nó với những trải nghiệm trong quá khứ và áp dụng nó vào cuộc sống hàng ngày của chính họ. Bransford và các đồng nghiệp của ông đã liên kết học tập chủ động với các khái niệm về siêu nhận thức (metacognition). Theo [1] thì siêu nhận thức đề cập đến khả năng của con người khi dự đoán và theo dõi việc học của chính mình.
“Thực hành giảng dạy phù hợp 9 với một hướng tiếp cận siêu nhận thức trong học tập bao gồm những thực hành tập trung tạo ý nghĩ, tự đánh giá, và phản ánh về những việc đã làm và những điều cần cải thiện. Thực tế này đã được chứng minh là sẽ làm tăng mức độ chuyển việc học tập của sinh viên thành những thiết lập và sự kiện mới. Những hoạt động lớp học với chiến lược siêu nhận thức thì rất đa dạng và tùy thuộc vào từng chủ đề. Trong khi nhiều giảng viên đã học được các cách thiết lập bài giảng truyền thống, họ đã áp dụng hướng tiếp cận siêu nhận thức trong học tập của chính học viên trong khi học tập tại ký túc xá hoặc thư viện.
Học tập chủ động thừa nhận lợi ích của sự dịch chuyển thực hành siêu nhận thức vào thời gian giảng dạy thực tế. Tiền đề đằng sau học tập chủ động là trí nhớ và sự hiểu biết của con người tăng theo cấp số nhân với sự tham gia tích cực hơn. Hình 2-1 mô tả năng lực tiếp thu của học viên qua các phương pháp dạy học khác nhau. Hình 2-1: Tháp học tập [2] Có rất nhiều nghiên cứu liên quan đến Học chủ động trong đó [3,4] đề xuất yêu cầu về học chủ động như sau: 1.
Có mục đích: sự liên quan của các nhiệm vụ với mối quan tâm của học sinh. Phản ánh: phản ánh của sinh viên về ý nghĩa của những gì được học. Đàm phán: đàm phán các mục tiêu và phương pháp học tập giữa học sinh và giáo viên. Phản biện: học sinh đánh giá cao cách thức và phương tiện học tập các nội dung khác nhau.
Phức hợp: học sinh so sánh với nhiệm vụ phức tạp tồn tại trong thực tế đời sống và làm các phân tích phản ánh. Định hướng tình huống: sự cần thiết của tình huống được xem là để thiết lập các nhiệm vụ học tập. Tham gia: nhiệm vụ thực tế đời sống được phản ánh trong các hoạt động tiến hành cho việc học tập. Học chủ động đòi hỏi môi trường học tập thích hợp thông qua việc thực hiện các chiến lược đúng đắn.
Đặc tính của môi trường học tập theo [5] là: 1. Phù hợp với chiến lược tạo dựng và phát triển từ triết lý truyền thống. Thúc đẩy nghiên cứu học tập dựa trên thông qua nghiên cứu và có chứa nội dung học thuật đích thực. Khích lệ kỹ năng lãnh đạo của học sinh thông qua các hoạt động tự phát triển.
Tạo bầu không khí thích hợp cho việc học tập hợp tác để xây dựng cộng đồng học tập kiến thức. Nuôi dưỡng một môi trường năng động, thông qua học tập liên ngành và các hoạt động tạo cao cấp cho kinh nghiệm học tập tốt hơn. Tích hợp kiến thức với những người mới phải chịu sự cấu phong phú về kiến thức giữa các sinh viên. Nhiệm vụ dựa trên nâng cao hiệu quả bằng cách cho học sinh là một ý nghĩa thực tế của vấn đề đã học trong lớp học.
Trong phương pháp học chủ động thì vai trò của giảng viên là tạo ra cơ hội học tập, khuyến khích niềm đam mê của học viên thông qua các hoạt động đa dạng để kích thích học viên tìm tòi, khám phá, phân tích, tổng hợp. Có rất nhiều phương pháp học chủ động khác nhau, mỗi phương pháp đều có ưu và nhược điểm nhất định, tùy vào từng mục tiêu của giảng viên, tùy vào mô hình lớp học, ngành học, môn học mà áp dụng cho hiệu quả. Nghiên cứu ứng dụng mạng xã hội trong môi trường giáo dục Ban đầu mạng xã hội không được thiết kế cho mục đích giáo dục nhưng lại có tiềm năng rất lớn cho việc giảng dạy và học tập vì những tính năng độc đáo và dễ dàng phát hiện. Các tiện ích của mạng xã hội trong học tập nằm ở chất lượng phản ánh, cơ chế 11 phản hồi và các mô hình hợp tác trong học tập, dù thường là theo cách không chính thức.
Mạng xã hội (social networking sites) như Facebook, Twitter hay MySpace, đang trở nên ngày càng phổ biến. Điều này mang đến nhiều cơ hội cho giáo viên và học sinh trong việc sử dụng các trang này vào giảng dạy và học tập. Theo định nghĩa của Boyd và Ellison [6] các trang mạng xã hội là các dịch vụ dựa trên web (web-based services) cho phép các cá nhân thực hiện các thao tác như: Xây dựng hồ sơ công khai hoặc bán công khai trên một hệ thống có giới hạn. Công khai danh sách những người dùng khác với những người họ có mối quan hệ.
Xem và đi qua danh sách kết nối của họ và những kết nối do người dùng khác tạo ra trong hệ thống. Mạng xã hội rất năng động và người dùng có thể sử dụng các ứng dụng như đăng tải nội dung tự tạo hay trao đổi tin nhắn cá nhân, tìm kiếm bạn bè cũ, kết bạn mới, tạo ra mạng lưới bạn bè và xem thông tin mới hay cập nhật hoạt động. Hiện tại có hai dạng tổ chức xây dựng lớp học và nhóm học tập phổ biến đó là: Facebook Group: là một nhóm các thành viên kết nối, chia sẻ và thậm chí cộng tác về một chủ đề hoặc ý tưởng nào đó. Những tính năng cốt lõi của Facebook Group là có khả năng “ chỉ mời” hoặc giới hạn những không gian, những đặc tính của nhóm.
Ví dụ: Nhóm Quản trị mạng và bảo mật - nhóm này là một nhóm kín cho những thành viên là các sinh viên, kĩ sư ngành Mạng máy tính. Ngoài ra, các nhóm đóng còn có khả năng mời những bạn sinh viên tham gia vào các khóa học kín và bí mật; tuy nhiên cũng có những nhóm mở và chào đón tất cả mọi người cùng tham gia. Facebook Page: tương phản với Facebook group, nó được tập trung để tổ chức xung quanh những chủ đề hoặc ý tưởng. Facebook Page cho phép các thực thể như các nhân vật công chúng hay các đơn vị truyền thông.
Nếu giảng viên đang cần xây dựng một chủ đề nào đó và cần sự hiện diện một cách rộng khắp thì Facebook page là một lựa chọn tốt. Sinh viên chỉ cần nhấn nút “like” trang học tập đó cho đến khi kết thúc môn học. Những sinh viên thích trang cần được nhắc nhở thường xuyên, theo dõi luồng trên Facebook page để đảm bảo rằng 12 họ đang được cập nhật những thông tin, thông báo mới nhất và không bị bỏ lỡ thông tin nào. Hình 2-2: So sánh tính năng giữa Facebook Page và Group[7] Ở Việt Nam, mạng xã hội phổ biến nhất là Facebook.
Theo kết quả nghiên cứu của Công ty nghiên cứu thị trường Epinion (Đan Mạch) thực hiện tháng 4/2014, Việt Nam có gần 25 triệu người đang sử dụng mạng xã hội Facebook trong số 36 triệu người dùng Internet. Nghiên cứu cũng cho thấy 97% trong số trên 1.000 người Việt từ độ tuổi 18 trở lên được phỏng vấn trực tuyến có tài khoản Facebook để kết nối với bạn bè, người thân, chia sẻ kinh nghiệm, thông tin và tiếp thị kinh doanh. Từ những khái niệm dẫn chứng về học tập chủ động có thể thấy rằng MXH Facebook có thể đáp ứng tốt cho việc giảng dạy và học tập. Như hình 2-3, 2-4 là các ví dụ về ứng dụng Facebook cho việc hỗ trợ học tập và dạy học.
13 Hình 2-3: Giảng dạy theo dạng Facebook Page [8] Hình 2-4: Nhóm thảo luận chuyên đề [9] 14 2.