Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Được xem như một kênh truyền thông mới, sự phát triển bùng nổ của mạng xã hội thu hút nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu.
Hiện nay, trên thế giới mạng xã hội rất phát triển và được ứng dụng rộng rãi. Phương tiện truyền thông xã hội đã chứng minh khả năng của nó, thúc đẩy giao tiếp giữa con người và nhiều ngành công nghiệp dựa trên sức mạnh của phương tiện truyền thông xã hội. Nhưng, có một ngành công nghiệp nói riêng phù hợp nhất để thích ứng với các phương tiện mới - các cơ sở giáo dục đại học. Khi mạng xã hội đã trở thành một trong những phương tiện truyền thông phổ biến nhất trong các trường đại học truyền thống, các trường đại học đang bắt đầu sử dụng những công nghệ này để liên lạc với các sinh viên hiện tại và tương lai [10].
Trung tâm nghiên cứu ứng dụng nghiên cứu ứng dụng (ECAR) của sinh viên đại học và công nghệ thông tin năm 2008 xác định các trang web mạng xã hội là “dịch vụ dựa trên web cho phép cá nhân xây dựng hồ sơ công cộng hoặc bán công trong một hệ thống có giới hạn, trình bày một danh sách những người dùng khác mà họ chia sẻ kết nối, và xem danh sách kết nối của họ và những người khác trong hệ thống [7]. Các phương tiện truyền thông xã hội phổ biến đối với giáo dục, ít nhất là vì những người trẻ tuổi đang theo học tại các trường đại học quen thuộc với các hệ thống này và thường sử dụng chúng thường xuyên hơn. Phương tiện truyền thông xã hội đã được tích hợp vào thực tiễn hàng ngày của nhiều người dùng, được hỗ trợ bởi các trang web, công cụ và mạng khác nhau. Mọi người đều có thể thêm hoặc chỉnh sửa thông tin trên phương tiện truyền thông xã hội, được hỗ trợ bởi các công cụ kỹ thuật số cho phép bạn tạo, thay đổi và xuất bản nội dung [7].
Mạng xã hội trực tuyến có rất nhiều trong đó có Twitter và Facebook là nổi bật. Đó là bất kỳ việc sử dụng công nghệ trực tuyến nào để kết nối mọi người, cho phép họ hợp tác với nhau và hình thành các cộng đồng ảo [13]. 5 Luan van Mạng xã hội có thể trở thành một phần quan trọng của môi trường giáo dục nếu được thực hiện có Trong một nghiên cứu năm 2008, của nhà nghiên cứu Christine Greenhow phát hiện ra rằng mạng xã hội mở rộng khả năng hiểu biết của học sinh để thực hiện những sản phẩm bằng cách thực hành các loại kỹ năng mà chúng ta muốn người học phát triển để thành công [9]. Có ưu và nhược điểm của việc sử dụng mạng xã hội trong môi trường giáo dục đại học.
Mặc dù một số người sử dụng Web 2.0 là những người trẻ tuổi, nhưng để áp dụng các công nghệ xã hội trong lớp học cần phải có kế hoạch cẩn thận vì một số lý do, ví dụ không phải tất cả người bản địa đều muốn có những công nghệ như vậy vì nhiều lý do khác nhau: sự đa dạng về kinh nghiệm, sự quen thuộc, thái độ và sự mong đợi của sinh viên đối với các công nghệ trực tuyến [9]. Với sự phát triển vượt bậc, bùng nổ của mạng xã hội Facebook, các trường đại học trên thế giới với tên gọi là “Văn phòng sinh viên” sử dụng mạng xã hội Facebook như một công cụ để hỗ trợ, thông báo trong các hoạt động rèn luyện, ngoại khóa và hoạt động học tập hàng ngày dành cho sinh viên của mình như các trường đại học Quốc gia Singapore [22], đại học Santo Tomas - Philippines [23], đại học Chatham - Mỹ [24]. Tình hình nghiên cứu trong nước Người học là nhân vật trung tâm của nhà trường, là một trong những đối tượng quan trọng của cơ sở giáo dục. Một trong các yêu cầu bức thiết đặt ra để nâng cao chất lượng đào tạo là giáo dục người học như thế nào để đạt được mục tiêu giáo dục.
Ở Việt Nam, những năm qua đã có một số công trình nghiên cứu về công tác sinh viên, mạng xã hội. Các tác giả Nguyễn Thị Kim Hoa và Nguyễn Lan Nguyên, đã có nghiên cứu về “Tác động của mạng xã hội Facebook đối với sinh viên hiện nay”. Trong nghiên cứu này, các tác giả đã đề cập đến mạng xã hội đặc biệt là mạng xã hội Facebook được nhiều sinh viên sử dụng với mục đích giải trí và đặc biệt là mục đích học tập, trao đổi thông tin học tập. Cũng như tìm hiểu thực trạng sử dụng mạng xã hội cho 6 Luan van mục đích học tập của sinh viên, từ đó đưa ra khuyến nghị nhằm giúp sinh viên sử dụng mạng xã hội một cách có hiệu quả.
Luận văn của học viên Phạm Huyền Trang, (2012), ngành Quản lý giáo dục, với đề tài “Biện pháp quản lý sinh viên của Phòng Công tác học sinh sinh viên tại trường Cao Đẳng Du lịch Hà Nội”. Luận văn này tập trung nghiên cứu về những biện pháp quản lý phù hợp, khoa học hơn nhằm nâng cao chất lượng công quản lý sinh viên vì công tác quản lý sinh viên là một yêu cầu thiết thực cấp bách trong giai đoạn hiện nay nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Luận văn của học viên Bùi Thu Hoài, (2014), ngành báo chí học, với đề tài “Tác động của mạng xã hội đến giới trẻ”. Luận văn đã làm rõ những vấn đề về lý thuyết của mạng xã hội trong giới trẻ, trong đó sinh viên là nhóm tiếp nhận thông tin mạng xã hội nhanh chóng, cũng như những tác động của mạng xã hội đến giới trẻ.
Luận văn nghiên cứu, phân tích, đánh giá tác động của mạng xã hội đến giới trẻ. Luận văn của học viên Phạm Thị Thanh Nga, (2014), ngành quản lý giáo dục, với đề tài “Quản lý công tác sinh viên của Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội trong giai đoạn hiện nay”. Luận văn đã làm rõ những vấn đề về cơ sở lý luận về quản lý công tác sinh viên và những thực trạng quản lý công tác sinh viên, để từ đó xác định các biện pháp quản lý phù hợp hơn. Bên cạnh đó, mạng xã hội Facebook được sử dụng rộng rãi và được xem là một kênh thông tin liên lạc giữa nhà trường và sinh viên tại các trường đại học ở Việt Nam.
Với tính năng lan rộng và được cập nhật thường xuyên của mọi đối tượng, để tận dụng triệt để những tính năng của mạng xã hội Facebook, các trường đại học nói chung và các đơn vị của nhà trường nói riêng đã triển khai ứng dụng mạng xã hội cho các hoạt động liên quan đến sinh viên đặc biệt là công tác sinh viên tại các trường đại học. Thông qua mạng xã hội Facebook, công tác sinh viên ở các trường đại học trong nước triển khai các hoạt động, tư vấn học tập, các hoạt động rèn luyện, ngoại khóa, tuyên truyền giáo dục định hướng cho sinh viên được áp dụng rộng rãi cũng như được sinh viên đón nhận và xem như là một kênh thông tin hữu ích và được công tác sinh viên sử dụng như các trường đại học sau: Phòng 7 Luan van Tuyển sinh và Công tác Sinh viên trường đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh [25], Phòng Công tác Sinh viên trường đại học Kinh tế Đà Nẵng [26], Phòng Công tác Sinh viên trường đại học Khoa học Tự nhiên [27], Phòng Công tác Sinh viên trường đại học Kinh tế Luật [28], Phòng Công tác Sinh viên trường đại học Bách Khoa - Hà Nội [29]. Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu, các bài báo, đề tài nghiên cứu khác được nêu trong tài liệu tham khảo của đề tài. Những nghiên cứu này có các cách tiếp cận khác nhau về công tác sinh viên, mạng xã hội.
Một số khái niệm cơ bản về công tác sinh viên, mạng xã hội 1. Công tác Được gọi là công việc, những hoạt động hay những nhiệm vụ, công việc chuyên môn do cá nhân hay tập thể cùng nhau thực hiện để đạt kết quả. Sinh viên Sinh viên gồm 2 từ: sinh và viên kết hợp. Sinh là người học, viên là người làm việc.
Sinh viên là chỉ những người theo học ở bậc đại học, cao đẳng và phân biệt với học sinh đang theo học ở bậc phổ thông. Quyết định số 1584/GD-ĐT, ngày 27 tháng 7 năm 1993 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành quy chế công tác học sinh, sinh viên trong các trường đào tạo có nêu rõ: “Người đang học trong hệ đại học và cao đẳng gọi là sinh viên” [1]. Trong luận văn khái niệm sinh viên được hiểu là: những người học tập tại các trường đại học không phân biệt lứa tuổi, giới tính và là nhóm xã hội đặc biệt gồm những thanh niên xuất thân từ các tầng lớp xã hội khác nhau đang trong quá trình học tập. Ở đó họ được truyền đạt kiến thức bài bản về một ngành, nghề, chuẩn bị cho công việc sau này của họ.
Họ được xã hội công nhận qua những bằng cấp đạt được trong quá trình học 1. Công tác sinh viên Phòng Công tác sinh viên là đơn vị tổ chức, thực hiện nhiệm vụ, những công việc các hoạt động liên quan sinh viên. 8 Luan van Công tác sinh viên là một trong những nội dung quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo của nhà trường. Muốn phát triển kinh tế - xã hội thì trước hết phải xây dựng và thực hiện tốt chiến lược phát triển toàn diện con người.
Do đó, sự kết hợp giữa nhà trường - gia đình - xã hội là sự kết hợp rất cần thiết, cần có sự liên kết chặt chẽ trong giáo dục sinh viên. Công tác sinh viên ở các cơ sở đào tạo do Phòng hoặc bộ phận sinh viên phục trách, có nhiệm vụ tham mưu và giúp Hiệu trưởng theo dõi, tổng hợp, đề xuất ý kiến trong việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục tư tưởng, tổ chức các hoạt động rèn luyện sinh viên của trường theo các nhiệm vụ quy định. Ngày nay, “Học, học nữa, học mãi” là khẩu hiệu của toàn xã hội và học tập là công việc suốt đời. Các cơ sở đào tạo mở rộng cửa cho tất cả những ai có nguyện vọng và điều kiện không phân biệt lứa tuổi, giới tính, giàu nghèo đều có thể học bằng nhiều con đường, hình thức khác nhau: chính quy, từ xa, tại chức, văn bằng 2.