ĐẶT VẤN ĐỀ Cây đậu tương [Glicinemax (L) Merill] là cây công nghiệp quen thuộc ở nước ta và các nước trên thế giới. Vì mọi bộ phận cây đậu tương đều có giá trị nhất định đối với con người như mang lại lợi ích kinh tế, dinh dưỡng và cải tạo đất. Các loại thức ăn được chế biến từ đậu tương rất giàu đạm (40 - 45%), có thể thay thế cho thịt do protein của đậu tương chứa đủ các axit, amin quí không thay thế rõ nhiều vitamin thích hợp với ăn kiêng, ăn chay không kém gì các thực phẩm cao cấp khác, không bị ảnh hưởng bởi các chất hoá học, các loại phụ gia nhân tạo cũng như quá trình biến đổi gen (hay còn gọi là thực phẩm chuyển gen (GM) gây ra (Norman AG, 1967) [49]. Hạt đậu tương còn chứa một lượng dầu rất lớn 12 -24 % đứng đầu trong các loại chất béo có hoạt tính sinh học cao, gluxit 31,1% và nhiều chất khoáng, vitamin.
Các acid béo omega -3 (anpha linoneic) trong đậu tương có tác dụng bảo vệ tim mạch, giúp máu lưu thông tốt, tim đập đều hơn. Đây cũng là tiền thân của chất DHA (Deco sahexaenic acid) chiếm 1/4 lượng chất béo chứa trong não; Vì vậy, những thực phẩm chế biến từ hạt đậu tương rất tốt cho việc phát triển trí não của trẻ em. Ngoài ra acid omega - 3 và DHA còn được ghi nhận giảm triệu chứng của bệnh viêm ruột, giảm chứng tiền sản giật ở phụ nữ. Các acid béo không no trong hạt đậu tương cùng với protein có khả năng kết hợp với cholesterol tạo thành lipo protein có tỉ trọng cao HDL - C (High Desnity) vận chuyển cholesterol từ các tổ chức mô về gan để chuyển hoá làm giảm lượng cholesterol chung, làm tăng lượng cholesterol có lợi và làm giảm lượng cholesterol có hại.
Ngoài 2 thành phần chính là lipit và protein, hạt đậu tương 1 còn chứa các chất khoáng, vi lượng, các loại hoomon tự nhiên (phytoestroen), phitattanin và sơ hoà tan có tác dụng phòng chống ung thư, ức chế hay làm giảm quá trình nhả đường của máu, làm tăng quá trình cung cấp năng lượng cho cơ thể, (http:// viwipedia. Cây đậu tương không chỉ cung cấp dinh dưỡng cho con người và còn có tác dụng về mặt y học. Hạt đậu tương cũng như các phụ phẩm của nó, đặc biệt là khô dầu, đậu tương ngày nay được đánh giá rất cao trong công nghiệp làm thức ăn gia súc chiếm 60% toàn bộ giá trị đạm (Phạm Văn Thiều, 1998) [31]. Ngoài ra cây đậu tương còn góp phần luân canh cải tạo đất rất tốt.
Vì vậy, đậu tương còn là một trong các cây họ đậu có khả năng cố định niơ khí quyển thông qua nốt sần ở rễ. Rễ đậu tương ăn sâu, phân nhánh nhiều làm cho đất tơi xốp. Thân, lá đậu tương có thể làm phân xanh, một ha trồng đậu tương để lại trong đất 40 - 70% kg đạm / năm tương đương 300 - 400 kg đạm sun phát. Do vậy, cây đậu tương còn là cây trồng tốt cho nhiều cây trồng vụ sau (Nguyễn Thế Côn, 1992) [3].
Cây đậu tương không kén đất, có thời gian sinh trưởng ngắn đến trung bình, nên dễ dàng đưa vào hệ thống luân canh tăng vụ như trồng xen, trồng gối vụ và có thể trồng được nhiều chân đất khác nhau, tận dụng được đất đai, sức lao động, làm tăng thu nhập cho người lao động, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về sản phẩm đậu tương ở trong nước tiến tới xuất khẩu. Để tăng sản lượng cây trồng trong nông nghiệp nói chung và cây đậu tương nói riêng, mỗi quốc gia đều có thể áp dụng các biện pháp như: Tăng diện tích thông qua khai hoang, tăng vụ, thâm canh (K. Ở nước ta, diện tích đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp do nhu cầu công nghiệp hoá, cho nên việc tăng diện tích đất canh tác về lâu dài sẽ bị hạn chế; Vì vậy, việc tăng vụ chỉ đến mức giới hạn nhất định. Do đó, để tăng năng 2 suất và sản lượng đậu tương cũng như chất lượng sản phẩm, chúng ta cần dùng biện pháp kĩ thuật thâm canh được áp dụng một cách triệt để.
Ở tỉnh Hà Tây, có điều kiện sinh thái, đất đai, tinh thần lao động và sự cần cù, chăm chỉ của người dân, đã không ngừng làm tăng diện tích và sản lượng đậu tương, đặc biệt là cây đậu tương đông trong công thức luân canh 3 vụ (2 lúa - 1 đậu tương) nhờ gieo vãi trên diện tích lớn, đã làm cho nhiều cánh đồng đạt giá trị 50 triệu đông / ha. Tuy nhiên thực tiễn sản xuất nông nghiệp, sản lượng đậu tương còn thấp ở nhiều nơi. Nguyên nhân, là do chưa sử dụng bộ giống thích hợp với điều kiện ở địa phương và việc bón phân hoá học nhiều năm cho mọi loại cây trồng đã dẫn đến việc thiếu hụt các nguyên tố vi lượng trong đất, làm cho cây đậu tương có năng suất thấp và dễ dàng bị nhiễm bệnh hại. Để khắc phục hiện tượng trên, trong thâm canh, người ta khuyến cáo nên bón phân hữu cơ hoặc phân đa yếu tố có vi lượng (giá thành cao) hoặc phân vi lượng thông qua lá.
Đối với phân bón lá hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại phân bón lá cần được nghiên cứu về hiệu lực của chúng trên cây đậu tương nên chúng tôi thực hiện đề tài: "Ảnh hưởng của một số chế phẩm dinh dưỡng qua lá đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng của đậu tương giống DT84, DT12 trồng vụ thu đông và vụ xuân hè trên đất Chương Mỹ - Hà Tây " 1. MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI. Mục đích Trên cơ sở tìm hiệu lực của một số chế phẩm dinh dưỡng qua lá đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng của hạt đậu tương mà đề xuất kĩ thuật sử dụng dinh dưỡng qua lá góp phần xây dựng quy trình thâm canh cây đậu tương trên đất Chương Mỹ - Hà Tây.2 Yêu cầu của đề tài - Điều tra thực trạng sản xuất đậu tương, hàng hoá ở huyện Chương Mỹ. - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số chế phẩm dinh dưỡng đến sinh trưởng, phát triển, năng suất, chất lượng của đậu tương giống DT84 trồng ở vụ thu đông và vụ xuân hè.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số chế phẩm dinh dưỡng đến sinh trưởng, phát triển, năng suất, chất lượng của đậu tương giống DT12 trồng ở vụ thu đông và vụ xuân hè. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI. Ý nghĩa khoa học của đề tài - Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học về ảnh hưởng của một số chế phẩm dinh dưỡng qua lá đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng cây đậu tương. - Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo khoa học về cây đậu tương, phục vụ cho công tác giảng dạy và nghiên cứu về cây đậu tương.
Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần bổ sung vào việc xây dựng quy trình kĩ thuật thâm cây đậu tương năng suất cao tại huyện Chương Mỹ - Hà Tây cũng như những vùng sinh thái tương tự ở Việt Nam. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. YÊU CẦU SINH THÁI CỦA CÂY ĐẬU TƯƠNG 2. Nhiệt độ Cây đậu tương có nguồn gốc ôn đới, nhưng không phải là cây chịu rét.
Tổng tích ôn của cây đậu tương biến động từ 1700 oC đến 2700oC. Nhiệt độ thích hợp cho đậu tương mọc nhanh vào khoảng 30 oC. Phạm vi nhiệt độ tối thiểu và tối đa ở thời kỳ mọc là 10 o - 40oC. Trên 40oC hạt không mọc được và dưới 10oC sự vươn dài của trục dưới lá mầm bị ảnh hưởng đáng kể.
Nhiệt độ cho hạt nảy mầm tốt nhất trong phạm vi 18 - 26 oC, trên 30oC hạt nảy mầm nhanh nhưng mầm yếu. Thời kì cây con từ lá đơn đến 3 lá kép, đậu tương chịu rét khá hơn ngô, ở thời kì lá đơn có thể chịu được nhiệt độ dưới 0oC, lá kép phát triển ở nhiệt độ trên12oC. Nhiệt độ thích hợp cho sự sinh trưởng là từ 22 oC - 27o C. Nhiệt độ thấp sẽ ảnh hưởng xấu đến ra hoa kết quả.
Nhiệt độ ở 10 oC ngăn cản sự phân hoá mầm, hoa, nhiệt độ ở dưới 18oC, tỷ lệ đậu quả thấp. Nhiệt độ cao hơn 39oC ảnh hưởng xấu đến tốc độ hình thành đốt, cây đậu tương sẽ phát triển lóng và phân hoá hoa. Nhiệt độ thích hợp nhất của lá đậu tương trong vụ hè từ 25oC - 40o C. Trong các thời kì sinh trưởng, phát triển cuối cùng, nếu nhiệt độ quá thấp, hạt khó chín, chín không đều, tỷ lệ nước cao và chất lượng của (Nguyễn Thế Côn, 1992) [3] 5 2.
Ánh sáng Ánh sáng là yếu tố ảnh hưởng sâu sắc đến hình thái cây đậu tương; Ánh sáng là yếu tố quyết định sự quang hợp của lá, sự cố định Nitơ (N 2) ở nốt sần, từ đó ảnh hưởng đến sản lượng chất khô của cây và năng suất hạt. Đậu tương là cây ngắn ngày điển hình. Tác động của ánh sáng ngày ngắn mạnh nhất vào các thời kì sinh trưởng trước khi ra hoa. Ánh sáng ngày ngắn vào thời kì trên làm cho cây rút ngắn được thời kì sinh trưởng, chiều cao cây giảm, số đốt ít và độ dài đốt giảm.
Độ ẩm Nhu cầu nước của cây đậu tương thay đổi theo điều kiện khí hậu, nên kĩ thuật trồng trọt và thời gian sinh trưởng của cây đậu tương cũng đòi hỏi về độ ẩm nhất định. Ở thời kì đậu tương mọc, đất phải đủ ẩm để hạt mọc đều, nếu khô hạn kéo dài thì hạt thối. Trong thời kì nảy mầm, lượng nước cần hút bằng 100 - 150 % trọng lượng khô của hạt giống. Nhu cầu nước của đậu tương tăng dần khi cây lớn lên.
Sự mất nước do thoát nước trong ngày thường nhiều hơn lượng nước cây hút vào do rễ. Những ngày có nhiệt độ cao, gió khô làm cây héo tạm thời có thể làm giảm hoạt động đồng hoá và ảnh hưởng tới năng suất hạt, chiều cao cây, số đốt, đường kính thân, số hoa, tỷ lệ đậu quả, số hạt, trọng lượng hạt đều tương quan thuận với độ ẩm đất. Thời kì quả mẩy, đậu tương cần nhiều nước nhất, hạn lúc này làm giảm năng suất rõ rệt. Hạn vào thời kì ra hoa và bắt đầu có quả, gây rụng hoa, trọng lượng hạt giảm (Norman A.
Đất và các chất dinh dưỡng. Cây đậu tương không yêu cầu nghiêm ngặt về đất trồng trọt. Nói 6 chung loại đất nào trồng cũng được, đối với đất trồng hoa màu đều trồng được đậu tương.