Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về xuất khẩu và đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu Chương 3: Phân tích thực trạng hoạt động xuất khẩu chè của công ty thương mại Hương Trà sang thị trường EU Chương 4: Định hướng phát triển và đề xuất các giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu chè sang thị trường EU của công ty thương mại Hương Trà. 4 Luan van CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU VÀ HOẠT ĐỘNG ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU 2.1 Một số vấn đề lý thuyết về hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp 2.1 Khái niệm về hoạt động xuất khẩu Thương mại quốc tế nói chung và xuất khẩu hàng hóa nói riêng là quá trình trao đổi hàng hóa giữa các nước thông qua mua bán nhằm mục đích tối đa hóa lợi nhuận. Trao đổi hàng hóa là một hình thức của các mối quan hệ kinh tế xã hội và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau giữa những người sản xuất kinh doanh hàng hóa riêng biệt giữa các quốc gia. Xuất khẩu là lĩnh vực quan trọng nhằm tạo điều kiện cho các nước tham gia vào phân công lao động quốc tế, phát triển kinh tế và làm giàu cho đất nước.
Ngày nay, xuất khẩu không chỉ mang ý nghĩa đơn thuần là buôn bán mà là sự phụ thuộc tất yếu giữa các quốc gia vào phân công lao động quốc tế. Vì vậy, phải coi trọng xuất khẩu cũng như xem thương mại quốc tế như một tiền đề, một nhân tố phát triển kinh tế trong nước,trên cơ sở lựa chọn một cách tối ưu sự phân công lao động và chuyên môn hóa quốc tế. Xuất khẩu là một bộ phận của hoạt động ngoại thương trong đó hàng hóa và dịch vụ được bán, cung cấp cho nước ngoài nhằm thu ngoại tệ. Đây là hoạt động kinh doanh buôn bán trên phạm vi quốc tế, nó không chỉ là hành vi buôn bán đơn lẻ mà là cả một hệ thống các quan hệ mua bán phức tạp có tổ chức bên trong và bên ngoài nhằm mục đích lợi nhuận, thúc đẩy hàng hóa sản xuất phát triển, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, ổn định và nâng cao mức sống của nhân dân.
Mặt khác hoạt động này đem lại hiệu quả đột biến nhưng có thể lại gây ra thiệt hại vì nó phải đối đầu với một hệ thống kinh tế khác từ bên ngoài mà các chủ thể trong nước tham gia xuất khẩu không dễ dàng khống chế được. Hoạt động xuất khẩu được diễn ra trong mọi lĩnh vực, mọi điều kiện kinh tế, từ xuất khẩu hàng hóa tiêu dùng đến xuất khẩu tư liệu sản xuất, từ máy móc thiết bị đến các máy móc công nghệ kỹ thuật cao, từ hàng hóa hữu hình đến hàng hóa vô hình, tất cả đều nhằm mục tiêu đem lại lợi ích cho các quốc gia tham gia. 5 Luan van Hoạt động này diễn ra rất rộng về mặt không gian và thời gian. Nó có thể diễn ra trong một ngày hay kéo dài hàng năm; có thể diễn ra trên phạm vi lãnh thổ của một hay nhiều quốc gia khác nhau.
Như vậy, hoạt động xuât khẩu phát triển chắc chắn sẽ góp phần to lớn trong sự đi lên của đất nước, hội nhập cùng vào nền kinh tế thế giới.2 Các lý thuyết về xuất khẩu.1 Lý thuyết của trường phái trọng thương. Lý thuyết trọng thương là nền tảng cho các tư duy kinh tế vào khoảng những năm 1450 đến năm 1650. Lý thuyết này cho rằng sự phồn vinh của một quốc gia được đo bằng lượng tài sản mà quốc gia đó cất giữ và thường được tính bằng vàng. Theo lý thuyết này, chính phủ nên xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu và nếu thành công họ sẽ nhận được giá trị thặng dư mậu dịch tính theo vàng từ các nước khác.
Để một nước có thặng dư mậu dịch thì: + Thặng dư ( mậu dịch) thường mại phải được thực hiện tốt bở các công ty buôn bán độc quyền của nhà nước, hoạt động nhập khẩu bị hạn chế và hoạt động xuất khẩu được trợ cấp. + Các cường quốc thực dân luôn cố tìm cách đạt được thặng dư mậu dịch với các thuộc địa của họ. Họ coi đây như là một phương tiện khác để có thu nhập. Đồng thời để thực hiện điều này không chỉ bằng cách giữ độc quyền thương mại thực dân mà còn ngăn cản các nước thuộc địa sản xuất.
Do đó mà các nước thuộc địa phải xuất khẩu nguyên liệu thô, với giá trị kém hơn nhưng lại nhập khẩu những sản phẩm có giá trị cao. Lý thuyết trọng thương mang lại lợi ích cho các cường quốc thực dân, vì thế chính sách ngoại thương của trường phái này theo hướng: _ Giá trị xuất khẩu càng nhiều càng tốt, nghĩa là không những số lượng hàng hóa xuất khẩu phải nhiều mà còn phải ưu tiên xuất khảu những hàng hóa có giá trị cao. Đồng thời đánh giá thấp việc xuất khẩu nguyên liệu và cố sử dụng nguyên liệu để sản xuất trong nước rồi đem xuất khẩu sản phẩm. _ Giữ nhập khẩu ở mức độ tối thiểu, dành ưu tiên cho nhập khẩu nguyên liệu, hạn chế hoặc cấm nhập khẩu thành phẩm nhất là hàng xa xỉ.
6 Luan van _ Khuyến khích chở hàng hoá bằng tàu của nước mình vì như vây vừa bán được hàng, vừa tận dụng được cả món lợi khác như: cước vận tải, phí bảo hiểm. Ảnh hưởng của thuyết trọng thương đã bị mờ nhạt đi sau năm 1650. Lúc này các cường quốc thực dân thường hạn chế sự phát triển công nghiệp của các nước thuộc địa của họ, nhưng các thủ đoạn hợp pháp vẫn buộc chặt chẽ quan hệ thương mại của các nước thuộc địa với chính quốc. Tuy nhiên, quan điểm “ Nội thương là hệ thống ống dẫn, ngoại thương là máy bơm.
Muốn tăng của cải phải có ngoại thương nhập dẫn của cải qua nội thương” cho đến nay vẫn được các quốc gia khai thác và phát triển một cách tối ưu nhất.2 Lý thuyết của Adam Smith Khác với trường phái trọng thương, Adam Smith cho rằng: “ sự giàu có của mỗi quốc gia phụ thuộc vào số hàng hóa và dịch vụ có sẵn hơn là phụ thuộc vào vàng”. Theo Adam Smith, nếu thương mại không bị hạn chế theo nguyên tắc phân công thì các quốc gia có lợi ích từ thương mại quốc tế-nghĩa là mỗi quốc gia có lợi thế về mặt điều kiện tự nhiên hay do trình độ sản xuất phát triển cao sẽ sản xuất ra những sản phẩm mà mình có lợi thế với chi phí thấp hơn so với các nước khác. Ông phê phán sự phi lý của lý thuyết trọng thương và chứng minh rằng: mậu dịch sẽ giúp cả hai bên đều gia tăng tài sản. Theo ông, nếu mỗi quốc gia đều chuyên môn hóa vào những ngành sản xuất mà họ có lợi thế tuyệt đối, thì họ có thể sản xuất được những sản phẩm có chi phí thấp hơn so với nước khác để xuất khẩu, đồng thời lại nhập khẩu những hàng hóa mà nước này không sản xuất được hoặc sản xuất được nhưng có chi phí cao hơn giá nhập khẩu.
Nhờ sự chuyên môn hóa các nước có thể gia tăng hiệu quả của mình bởi vì người lao động sẽ lành nghề hơn so công việc được lặp lại nhiều lần, họ không mất thời gian trong việc chuyển sản xuất sản phẩm này sang sản phẩm khác, do làm một công việc lâu dài nên người lao động có nhiều kinh nghiệm, sáng kiến và phương pháp làm việc tốt hơn. “ Mặc dù Adam Smith cho rằng, thị trường chính là nơi quyết định nhưng ông vẫn nghĩ lợi thế của một nước có thể là do lợi thế tự nhiên hay do nỗ lực cả 7 Luan van nước đó. Lợi thế tự nhiên liên quan đến các điều kiện tự nhiên và khí hậu. Lợi thế do nỗ lực là lợi thế có thể có được do sự phát triển của kỹ thuật và sự lành nghề”.
Lợi thế tuyệt đối so sánh số lượng của một loại sản phẩm được sản xuất ra ở hai nước khác nhau với cùng một điều kiện sản xuất. Giả sử Việt Nam có lợi thế tuyệt đối so với Hàn Quốc về sản xuất gạo, trong khi đó Hàn Quốc có lợi thế tuyệt đối về sản xuất vải. Đó là lợi thế tuyệt đối tương hỗ, trong trường hợp nếu mỗi nước chuyên môn hóa loại sản phẩm mà nước đó có lợi thế tuyệt đối thì tổng sản phẩm của cả hai nước có thể tăng lên. Lý thuyết của David Ricardo.
Theo lý thuyết này, nếu một quốc gia có hiệu quả thấp hơn so với các quốc gia khác trong việc sản xuất tất cả các loại sản phẩm thì quốc gia đó vẫn có thể tham gia vào thương mại quốc tế để tạo ra lợi ích. Nói cách khác trong điểm bất lợi vẫn có những điểm thuận lợi để khai thác khi tham gia vào hoạt động xuất khẩu, những quốc gia có hiệu quả thấp trong việc sản xuất ra các loại hàng hóa sẽ có thể chuyên môn hóa sản xuất hàng hóa ít bất lợi nhất để trao đổi với các quốc gia khác và nhập về những hàng hóa mà việc sản xuất ra nó gặp nhiều khó khăn và bất lợi. Từ đó tiết kiệm được nguồn lực của mình và thúc đẩy sản xuất trong nước. Ta có thể giải thích rõ điều này thông qua ví dụ sau: Giả sử 2 quốc gia Việt Nam và Mỹ có năng lực sản xuất vải và máy tính như sau: Quốc gia Mỹ Việt Nam Mặt Hàng Vải ( m/1 giờ công) 4 2 Máy tính ( cái/ giờ công) 6 1 Ta thấy cả hai quốc gia đều sản xuất hai mặt hàng vải và máy tính.
Tuy nhiên, nếu phân tích cụ thể thì ta sẽ thấy năng suất lao động của ngành chế tạo máy tính của mỹ gấp 6 lần của Việt Nam, trong khi đó ngành dệt chỉ gấp 2 lần. Như vậy, 8 Luan van giữa chế tạo máy tính và sản xuất vảo thì Mỹ có lợi thế tương đối trong việc sản xuất máy tính còn Việt Nam có lợi thế tương đối trong việc sản xuất vải. Theo quy luật của lợi thế so sánh hai quốc gia sẽ cùng có lợi nếu mỗi quốc gia chuyên môn hóa sản xuất loại sản phẩm mình có lợi thế so sánh hơn sau đó tiến hành trao đổi một phần sản phẩm cho nhau. Giả sử tỉ lệ trao đổi là 6 máy tính lấy 6m vải thì Mỹ vẫn có lợi 2m vải, tức là đã tiết kiệm được ½ giờ công, còn Việt Nam tiết kiệm được 3 giờ công do có lợi 3 máy tính.
Như vậy qua ví dụ trên ta thấy được lợi ích của việc trao đổi sản phẩm giữa các quốc gia thông qua việc xuất nhập khẩu hàng hóa.