CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu Khi đánh giá hiệu quả quản lý tài chính, có một yếu tố quan trọng không thể bỏ qua đó là tình hình quản lý và sử dụng tài sản của doanh nghiệp. Bởi nó là một trong những nhân tố làm tăng giá trị doanh nghiệp. Từ đó, hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu của các nhà quản trị tài chính. Từ yêu cầu thực tế cho răng, trong tình trạng nhiều doanh nghiệp bị mất khả năng thanh toán và hiệu quả quản lý các nguồn lực tài chính chưa được cao.
Ở Việt Nam, đề tài này cung thu hút nhiều thạc si và tiến sĩ. Trong đó có tác giả Phan Hồng Mai trong “Quản lý tài sản tại các công ty cổ phần ngành xây dựng niêm yết ở Việt Nam” – Luận án tiến sĩ kinh tế năm 2012, được lưu tại Đại học Kinh tế quốc dân. Ở đó, tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về tài sản doanh nghiệp bằng các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng. Tác giả đã phân tích thực trạng quản lý và sử dụng tài sản tại 104 Công ty cổ phần trong ngành xây dựng niêm yết tại Việt Nam từ năm 2016 – 2010 thông qua các chỉ tiêu cơ bản: Tiền mặt, nợ phải thu, hàng tồn kho và tài sản cố định.
Từ đó đưa ra khuyến nghị bằng những giải pháp tăng cường quản lý tài sản bằng cách ứng dụng mô hình Miller-Orr vào quản lý ngân quỹ, sử dụng kết hợp phần mềm trong uqanr lý công nợ, hàng tồn kho và tài sản cố định. “Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản của công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà”, Luận văn thạc sĩ 2014 lưu tại Đại học Kinh tế- Đại học Quốc Gia Hà Nội của tác giả Nguyễn Thị Thanh Loan đã chỉ rõ khái niệm, cách phân loại và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản, có sự so sánh các chỉ tiêu của doanh nghiệp với chỉ tiêu ngành, song việc sử dụng các thuật ngữ chưa có sự nhất quán như vốn, tài sản bởi đó là hai phạm trù khác nhau, vốn là biểu hiện bằng tiền của tài sản, hay nói cách khác nó là thước đo giá trị của tài sản. Tuy nhiên, hầu hết các tác giả chưa đưa ra được kinh nghiệm quản lý và sử dụng tài sản của các doanh nghiệp tại Việt Nam hoặc thế giới, để từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho công tác quản lý tài sản của đơn vị. Dựa trên các nghiên cứu hiện tại về hiệu quả sử dụng tài sản, có rất nhiều khaongr trống để học viên lựa chọn đề tài này nhằm hoàn thiện hơn nữa công tác quản lý tài sản cũng như nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản.
Phân tích thực trạng sử dụng tài sản và hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty, từ đó tìm ra nguyên nhân gây ra hạn chế trong công tác quản lý và sử dụng tài sản. Từ đó, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty. Các khái niệm liên quan đến tài sản của doanh nghiệp 1. Doanh thu Trong kinh tế học, doanh thu thường được xác định bằng giá bán nhân với sản lượng.
Doanh thu của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền sẽ thu được do tiêu thụ sản phẩm, cung cấp dịch vụ, hoạt động tài chính và các hoạt động khác của doanh nghiệp. Chi phí Chi phí là một khái niệm cơ bản nhất của bộ môn kế toán, của việc kinh doanh và trong kinh tế học, là các hao phí về nguồn lực để doanh nghiệp đạt được một hoặc những mục tiêu cụ thể. Nói một cách khác, hay theo phân loại của kế toán tài chính thì đó là số tiền phải trả để thực hiện các hoạt động kinh tế như sản xuất, giao dịch,…nhằm mua được các loại hàng hóa, dịch vụ cần thiết cho quá trình sản xuất, kinh doanh 1. Lợi nhuận Trong kinh tế học, là phần tài sản mà nhà đầu tư nhận thêm nhờ đầu tư sau khi đã trừ đi các chi phí liên quan đến đầu tư đó, bao gồm cả chi phí cơ hội; là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí.
Lợi nhuận, trong kế toán, là phần chênh lệch giữa giá bán và chi phí sản xuất. Sự khác nhau giữa định nghĩa ở hai lĩnh vực là quan niệm về chi phí. Trong kế toán, người ta chỉ quan tâm đến các chi phí bằng tiền, mà không kể chi phí cơ hội như trong kinh tế học. Trong kinh tế học, ở trạng thái cạnh tranh hoàn hảo, lợi nhuận sẽ bằng 0.
Chính sự khác nhau này dẫn tới hai khái niệm lợi nhuận: lợi nhuận kinh tế và lợi nhuận kế toán. Lợi nhuận kinh tế lớn hơn 0 khi mà chi phí bình quân nhỏ hơn chi phí biên, cũng tức là nhỏ hơn giá bán. Lợi nhuận kinh tế sẽ bằng 0 khi mà chi phí bình quân bằng chi phí biên, cũng tức là bằng giá bán. Trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo (xét trong dài hạn), lợi nhuận kinh tế thường bằng 0.
Tuy nhiên, lợi nhuận kế toán có thể lớn hơn 0 ngay cả trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo. Một doanh nghiệp trên thị trường muốn tối đa hoá lợi nhuận sẽ chọn mức sản lượng mà tại đó doanh thu biên bằng chi phí biên.Tức là doanh thu có thêm khi bán thêm một đơn vị sản phẩm bằng phần chi phí thêm vào khi làm thêm một đơn vị sản phẩm. Trong cạnh cạnh tranh hoàn hảo, doanh thu biên bằng giá. Ngay cả khi giá thấp hơn chi phí bình quân tối thiểu, lợi nhuận bị âm.
Tại điểm doanh thu biên bằng chi phí biên, doanh nghiệp lỗ ít nhất. Tài sản Tài sản là của cải vật chất dùng vào mục đích sản xuất hoặc tiêu dùng. Khi phân loại tài sản theo chu kỳ sản xuất, ta có tài sản cố định và tài sản lưu động. Còn khi phân loại tài sản theo đặc tính cấu tạo của vật chất, ta có tài sản hữu hình và tài sản vô hình.
Tài sản là một thuật ngữ quen thuộc đối với bất kỳ ai, đó là vấn đề trọng tâm của các quan hệ xã hội nói chung và trong quan hệ pháp luật nói riêng. Tài sản tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau, phong phú và đa dạng, vì vậy đã có rất nhiều quan điểm về tài sản có thể kể đến như: Theo Hội đồng biên soạn Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, “Tài sản là thuật ngữ kế toán kinh doanh chỉ tất cả những gì có giá trị tiền tệ thuộc sở hữu của một cá nhân, một đơn vị hoặc của nhà nước; có thể được dùng để trả nợ, sản xuất ra hàng hoá hay tạo ra lợi nhuận bằng cách nào đó. Một tài sản có ba đặc tính không thể thiếu: lợi nhuận kinh tế có thể xảy ra trong tương lai; do một thực thể hợp pháp kiểm soát; thu được kết quả ngay từ hợp đồng kinh doanh hoặc giao dịch đầu tiên” Thống nhất với quan điểm trên, Bộ Tài chính Việt Nam quy định: “Tài sản là những nguồn lực doanh nghiệp kiểm soát được và dự tính đem lại lợi ích kinh tế trong tương lai cho doanh nghiệp”. Các “nguồn lực” này có thể được biểu hiện dưới hình thái vật chất cụ thể như máy móc, nhà xưởng hoặc không như bản quyền, bằng phát minh, sáng chế.
Khả năng “kiểm soát” của doanh nghiệp đối với tài sản xuất phát từ quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng lâu dài dựa trên các hợp đồng thuê tài chính “Lợi ích kinh tế trong tương lai” của tài sản là tiềm năng làm tăng nguồn tiền và các khoản tương đương tiền của doanh nghiệp hoặc làm giảm bớt các khoản tiền mà doanh nghiệp phải chi ra. Những quy định này tương đồng với chuẩn mực kế toán quốc tế hiện hành. Theo chuẩn mực kế toán số 1- Chuẩn mực chung (ban hành và công bố theo quyết định số 165/2002/QĐ- BTC ngày 31/12/2002 của Bộ trưởng bộ tài chính). Tài sản được biểu hiện dưới hình thái vật chất như nhà xưởng, máy móc, thiết bị, vật tư, 10 hàng hoá hoặc không thể hiện dưới hình thái vật chất như bản quyền, bằng sáng chế nhưng phải thu được lợi ích kinh tế trong tương lai và thuộc quyền kiểm soát của doanh nghiệp, tài sản của doanh nghiệp còn được bao gồm các tài sản không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp nhưng doanh nghiệp kiểm soát được và thu được lợi ích kinh tế trong tương lai, như tài sản thuê tài chính, hoặc có những tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp và thu được lợi ích kinh tế trong tương lai nhưng có thể không được kiểm soát về mặt pháp lý như bí quyết kỹ thuật thu được từ hoạt động triển khai có thể thoả mãn các điều kiện trong định nghĩa về tài sản, khi các bí quyết đó còn giữ được bí mật và doanh nghiệp còn thu được lợi ích kinh Luan van 6 tế.
Tài sản của doanh nghiệp được hình thành từ các giao dịch hoặc sự kiện đã qua như góp vốn, mua sắm, tự sản xuất, được cấp, được biếu tặng. Các giao dịch hoặc các sự kiện dự kiên sẽ phát sinh trong tương lai nhưng không làm tăng tài sản. Như vậy có thể hiểu tài sản của doanh nghiệp là tất cả các nguồn lực có thực, hữu hình hoặc vô hình gồm các vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định, có khả năng mang lại lợi ích cho doanh nghiệp đó. Đặc tính này cũng quyết định tầm quan trọng của tài sản đối với hoạt động sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp.
Một doanh nghiệp lớn hay nhỏ, không thể tồn tại và phát triển lâu dài nếu không có tài sản. Chính vì vậy, cần thực hiện quản lý tài sản để những tài sản đó đem lại lợi ích cao nhất cho chủ sở hữu doanh nghiệp. Tài sản ngắn hạn 1. Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Là những tài sản thuộc quyền sở hữu và quản lý của doanh nghiệp, có thời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi vốn trong một kỳ kinh doanh hoặc trong một năm.
Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp có thể tồn tại dưới hình thái tiền, hiện vật (vật tư, hàng hoá), dưới dạng đầu tư ngắn hạn và các khoản nợ phải thu. Vai trò của tài sản ngắn hạn được thể hiện qua các mặt sau: Đầu tiên, tài sản ngắn hạn không thể thiếu trong cơ cấu tài sản doanh nghiệp: Tài sản ngắn hạn là một bộ phận không thể thiếu trong cơ cấu tài sản của doanh nghiệp.