Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về lộ trình áp dụng chỉ số SII đánh hoạt động đổi mới ở Việt Nam Trong chƣơng này Luận án tổng hợp và đánh giá các công trình nghiên cứu quan trọng liên quan đến Luận án nhƣ: công trình liên quan đánh giá hoạt động đổi mới thông qua các cuộc điều tra thống kê và công trình nghiên cứu sử dụng chỉ số tổng hợp tại Việt Nam (Tốc độ đổi mới công nghệ, thiết bị, ICT.); Nghiên cứu chỉ số liên quan đến đánh giá hoạt động đổi mới của quốc 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tế (GCI, GII, SII, TAI và KEI); công trình nghiên cứu về lộ trình tại Việt Nam có liên quan đến Luận án. Trên cơ sở nghiên cứu của chƣơng này Luận án rút ra đƣợc những khoảng trống mà các công trình đã nghiên cứu chƣa đƣợc giải quyết và những vấn đề Luận án cần hoàn thiện. Chương 2: Cơ sở khoa học về lộ trình áp dụng chỉ số đổi mới - SII đánh giá hoạt động đổi mới Chƣơng này Luận án tập hợp các lý luận có liên quan đến chỉ số, chỉ số tổng hợp, đổi mới, các yêu tố liên quan đến đổi mới, lộ trình, lộ trình chính sách, mô hình đánh giá khoa học, công nghệ và đổi mới; từ các cơ sở lý thuyết này và những nhận xét rút ra qua kết quả tổng hợp và đánh giá các nghiên cứu ở chƣơng 1 để định hƣớng cho việc thiết kế nghiên cứu Luận án ở hai chƣơng tiếp theo. Chương 3: Hiện trạng áp dụng chỉ số đổi mới vào đánh giá hoạt động đổi mới tại Việt Nam hiện nay Đây là chƣơng trọng tâm của Luận án, chƣơng này đƣợc trình bày theo các nội dung chính nhƣ sau: - Hiện trạng các yếu tố tác động đến điều kiện đánh giá hoạt động đổi mới của Việt Nam - Hiện trạng triển khai đánh giá hoạt động đổi mới ở Việt Nam thông qua phƣơng pháp điều tra, khảo sát và sử dụng chỉ số tổng hợp - Lựa chọn chỉ số đánh giá hoạt động đổi mới cho Việt Nam Chương 4: Lộ trình áp dụng chỉ số đổi mới - SII đánh giá hoạt động đổi mới ở Việt Nam Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của ba chƣơng trƣớc, trong chƣơng này Luận án trình bày cách tiếp cận, căn cứ, điều kiện và đề xuất xây dựng lộ trình áp dụng chỉ số SII đánh giá hoạt động đổi mới của Việt Nam, ngoài ra Luận án đề xuất các giải pháp triển khai lộ trình áp dụng VN-SII.
21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU LỘ TRÌNH ÁP DỤNG CHỈ SỐ ĐỔI MỚI - SII ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM Đánh giá liên quan đến hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới hiện tại thông thƣờng bao gồm hai phƣơng pháp chủ yếu là: Thống kê (thông qua kết quả tổng hợp, phân tích tính toán các số liệu điều tra, khảo sát, báo cáo thống kê) và sử dụng chỉ số tổng hợp (thông qua khung chỉ số, trên cơ sở tính các chỉ số thành phần). Luận án tập trung nghiên cứu tổng quan về đánh giá hoạt động đổi mới tại Việt Nam và nghiên cứu phƣơng pháp sử dụng chỉ số tổng hợp đánh giá liên quan đến hoạt động đổi mới và lộ trình áp dụng các chỉ số này để lựa chọn một chỉ số đánh giá hoạt động đổi mới cho Việt Nam. CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG ĐỔI MỚI TẠI VIỆT NAM THÔNG QUA ĐIỀU TRA THỐNG KÊ (1) Nghiên cứu của Tổng cục Thống kê liên quan đến đánh giá đổi mới với chỉ tiêu về đầu tƣ cho khoa học, công nghệ và đổi mới; trong năm 2002 và năm 2005 Tổng cục Thống kê tổ chức hai cuộc điều tra mẫu doanh nghiệp đầu tƣ cho khoa học, công nghệ và đổi mới thuộc ngành sản xuất công nghiệp: trong đó, Năm 2002 điều tra 1227 doanh nghiệp trong đó có 181 doanh nghiệp đầu tƣ cho khoa học, công nghệ và đổi mới chiếm tỷ lệ là 6,14%.580 doanh nghiệp [1] trong đó có 293 doanh nghiệp đầu tƣ cho khoa học, công nghệ và đổi mới chiếm 3,86%; (2) Nghiên cứu của Hồ Đức Việt [48] liên quan đến đánh giá hoạt động đổi mới đƣợc thể hiện trong Đề tài Độc lập cấp Nhà nƣớc năm 2003, mã số ĐTĐL 2003/22 “Nghiên cứu luận cứ khoa học cho các chính sách và giải pháp để xây dựng và phát triển thị trường công nghệ ở Việt Nam trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Trong Đề tài nghiên cứu của tác giả có nội dung đánh giá hoạt động đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu: (i) Chiến lƣợc đổi mới công nghệ có 40,8% doanh nghiệp thực hiện; (ii) Doanh 22 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghiệp thực hiện đầu tƣ cho đổi mới công nghệ chiếm 57,1%; (iii) Xây dựng dự án đầu tƣ đổi mới công nghệ có 55,1% doanh nghiệp; (iiii) Các biện pháp đổi mới công nghệ của doanh nghiệp nhƣ: Tự cải tiến công nghệ, thiết bị 18,4%, Liên kết đổi mới công nghệ 14,3%, Mua công nghệ nƣớc ngoài 14,3%.
Với kết quả đánh giá hoạt động đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp điều tra là một trong những căn cứ để tác giả đề xuất chính sách và giải pháp phát triển thị trƣờng công nghệ ở Việt Nam trong nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa. (3) Nghiên cứu của Tổ chức Swiss Contact (Thụy Sỹ) và GTZ (Đức) năm 2006 về đánh giá hoạt động đổi mới trong doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu nhƣ: tỷ lệ kinh phí đầu tƣ cho đổi mới công nghệ, thiết bị so với doanh thu và những hoạt động về đổi mới công nghệ, thiết bị; đây là cuộc điều tra với quy mô mẫu 1.200 doanh nghiệp [102]; Kết quả của nghiên cứu cho biết kinh phí dành cho đổi mới công nghệ của doanh nghiệp là rất thấp chỉ bằng 0,1% doanh thu hàng năm của doanh nghiệp đƣợc dành cho đổi mới công nghệ, thiết bị. (4) Nghiên cứu của Chƣơng trình phát triển Liên hợp quốc - UNDP và Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ƣơng - CIEM năm 2003, trong khuôn khổ của Dự án VIE/01/025 do Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ƣơng chủ trì, Công ty Vision & Associates thực hiện nội dung “Khảo sát về đổi mới công nghệ tại các doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam” trong hai ngành Hóa chất và Dệt may tại hai thành phố Hà Nội và Hồ Chí Minh [13] với các chỉ tiêu đánh giá đổi mới công nghệ nhƣ: nhu cầu và hình thức đổi mới công nghệ của doanh nghiệp, tỷ lệ doanh nghiệp tiến hành đổi mới công nghệ, đầu tƣ tài chính cho đổi mới công nghệ. Kết quả khảo sát của Dự án đƣa ra các phát hiện chính nhƣ: (i) Trình độ công nghệ của các doanh nghiệp: Trình độ công nghệ, máy móc thiết bị của các doanh nghiệp đạt mức trung bình tiên tiến.
(ii) Thái độ/hành vi đối với hoạt động đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp: Hầu hết các doanh nghiệp đƣợc phỏng vấn đã nhận thức đƣợc vai trò quan trọng của công nghệ trong việc nâng cao năng suất, nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế nhƣ hiện nay và có thái độ tƣơng đối tích cực khi đánh giá sự cần 23 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thiết phải đổi mới công nghệ. (iii) Các yếu tố tác động đến đổi mới công nghệ của doanh nghiệp: Quá trình đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp chịu tác động của nhiều nhân tố, tuy nhiên những nhân tố có tác động mang tính quyết định đến quá trình đổi mới công nghệ của doanh nghiệp chính là những nhân tố xuất phát từ nhu cầu của doanh nghiệp, từ thực tế sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nói một cách khác, đây chính là những sức ép trực tiếp đối với doanh nghiệp. (iv) Nguồn gốc của ý tƣởng đổi mới, phƣơng thức thực hiện đổi mới công nghệ, cách thức nghiên cứu thị trƣờng của doanh nghiệp: Hầu hết các doanh nghiệp hiện nay chủ yếu tiến hành đổi mới là do nhu cầu nảy sinh trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp khi đã trở nên quá cấp thiết và bức bách. Đây không những là nguồn gốc chính của các hoạt động đổi mới công nghệ của doanh nghiệp mà còn là động lực có tác động thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới công nghệ lớn nhất.
(5) Nghiên cứu của Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Hồ Chí Minh, năm 2008, thông qua Đề án “Đổi mới công nghệ công nghiệp sản xuất phục vụ chuyển dịch cơ cấu công nghiệp trên địa bàn TP.HCM” nhằm đánh giá đổi mới công nghệ thuộc bốn ngành công nghiệp mũi nhọn của thành phố là: (i) Cơ khí – chế tạo máy; (ii) Điện tử – công nghệ thông tin; (iii) Hóa chất; (iv) Chế biến lƣơng thực - thực phẩm [104], với các chỉ tiêu đánh giá đổi mới công nghệ: Tỷ lệ đầu tƣ cho đổi mới công nghệ trên tổng vốn đầu tƣ hằng năm của các doanh nghiệp thành phố, các chỉ tiêu về trình độ công nghệ các ngành công nghiệp chủ lực của thành phố. Kết quả của nghiên cứu này cho biết: (i) Nhìn chung, doanh nghiệp đã nhận thức đƣợc tầm quan trọng của ĐMCN đến phát triển của doanh nghiệp, các doanh nghiệp đã có những hoạt động ĐMCN ở các mức độ khác nhau. Nhƣng do lúng túng về chiến lƣợc dài hạn, thiếu chiến lƣợc cạnh tranh lâu dài dựa trên cơ sở ĐMCN nên các hoạt động đổi mới mang tính tự thân nhiều hơn. Doanh nghiệp khi nhận thấy năng suất thấp, chất lƣợng sản phẩm chƣa đạt nhƣ mong muốn hoặc cần phải thay đổi nâng cấp thiết bị để đáp ứng mục tiêu trên.v… thì tiến hành ĐMCN.
(ii) Sự hỗ trợ của Nhà nƣớc đối với quá trình ĐMCN của doanh nghiệp hiện nay còn chƣa đem lại hiệu quả đột phá nhƣ mong 24 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Doanh nghiệp dƣờng nhƣ còn đứng ngoài cuộc trong các cơ chế khuyến khích và ƣu đãi của Nhà nƣớc. (iii) Mối quan hệ giữa các tổ chức nghiên cứu R&D trong nƣớc với các doanh nghiệp còn mờ nhạt. Các doanh nghiệp thƣờng tự tổ chức lấy hoạt động ĐMCN và chỉ nhằm tới những cải tiến nhỏ vì họ không đủ năng lực thực hiện nghiên cứu lớn và dài hơi xét về mặt nhân lực cũng nhƣ chi phí cần thiết.
Cuộc điều tra thu thập đƣợc dữ liệu của 630 doanh nghiệp bao gồm các loại hình doanh nghiệp, đại diện cho các vùng kinh tế quan trọng và hoạt động trên mọi lĩnh vực của nền kinh tế Việt Nam.