Nghiên cứu liên kết dọc giữa MNC và doanh nghiệp Việt Nam: Case study Samsung

Tài liệu nghiên cứu Liên kết dọc giữa tập đoàn đa quốc gia với doanh nghiệp trong nước ở việt nam nghiên cứu trường hợp, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Chuyên ngành

Kinh Tế Phát Triển

Tác giả

Nguyễn Thu Hà

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2014

111
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và Ý nghĩa của Liên kết Dọc Samsung Doanh nghiệp Việt Nam

Liên kết dọc là mối quan hệ hợp tác giữa tập đoàn đa quốc gia Samsung với các doanh nghiệp Việt Nam theo chiều sâu của chuỗi giá trị. Đây là quá trình tích hợp các hoạt động từ nguyên liệu thô đến sản phẩm cuối cùng, tạo ra những lợi ích kinh tế đáng kể. Samsung Electronics Việt Nam đã xây dựng mạng lưới cung cấp rộng rãi, kết nối với hàng trăm nhà cung cấp nội địa. Sự liên kết này giúp chuyển giao công nghệ, nâng cao kỹ năng sản xuất, và tạo việc làm cho lao động Việt Nam. Ý nghĩa của liên kết dọc không chỉ dừng lại ở doanh nghiệp riêng lẻ mà còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh toàn bộ ngành công nghiệp điện tử Việt Nam trên thị trường quốc tế.

1.1. Định nghĩa Liên kết Dọc trong Chuỗi Cung ứng

Liên kết dọc bao gồm liên kết ngược chiều (Samsung mua nguyên liệu từ nhà cung cấp Việt) và liên kết xuôi chiều (Samsung cung cấp sản phẩm cho các đại lý phân phối). Mô hình này tạo tổng giá trị gia tăng cao hơn so với sản xuất độc lập. Các doanh nghiệp cung cấp học hỏi từ Samsung về tiêu chuẩn chất lượng, công nghệ sản xuất hiện đại, và quản lý chuỗi cung ứng chuyên nghiệp.

1.2. Tác động Kinh tế của Liên kết Samsung tại Việt Nam

Samsung là tập đoàn đa quốc gia hàng đầu với đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) lớn nhất tại Việt Nam. Liên kết kinh tế này tạo ra hàng chục nghìn việc làm trực tiếp và gián tiếp. Doanh nghiệp nội địa nhận được đơn hàng ổn định, cải thiện doanh thu và lợi nhuận. Sự liên kết với Samsung giúp nâng cao độ tin cậy quốc tế của các nhà cung cấp Việt Nam.

II. Thực Trạng Liên kết Dọc Ngược và Xuôi chiều của Samsung

Nghiên cứu từ Trường Đại học Kinh tế Quốc dân cho thấy Samsung Electronics Việt Namhệ thống liên kết dọc khá phát triển. Về liên kết ngược chiều, Samsung hợp tác với hơn 200 nhà cung cấp nội địa cung cấp linh kiện, vật liệu thô, và dịch vụ hỗ trợ. Tỷ lệ nội địa hóa của Samsung đạt khoảng 30-40% vào giai đoạn 2010-2013, thể hiện mức độ phụ thuộc vào nguồn cung cấp trong nước. Về liên kết xuôi chiều, Samsung phân phối sản phẩm thông qua các đại lý bán lẻ Việt, các trung tâm bảo hành, và dịch vụ hậu mãi. Mô hình liên kết này không chỉ tạo lợi ích cho Samsung mà còn phân tán giá trị sản xuất đến các doanh nghiệp Việt Nam trên toàn chuỗi giá trị.

2.1. Liên kết Ngược chiều Cung cấp Nguyên liệu và Linh kiện

Samsung cung cấp danh sách nhà cung cấp được chứng nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc tế. Các doanh nghiệp Việt Nam phải tuân thủ tiêu chuẩn TCVN, ISO và các yêu cầu khắt khe về môi trường. Liên kết ngược giúp nâng cao năng lực sản xuấtkhả năng xuất khẩu của các nhà cung cấp Việt Nam.

2.2. Liên kết Xuôi chiều Phân phối và Bán lẻ Sản phẩm

Samsung xây dựng mạng lưới bán lẻ rộng rãi tại Việt Nam thông qua các đối tác phân phối địa phương. Các cửa hàng bán lẻ, trung tâm bảo hành cung cấp dịch vụ sau bán hàng chuyên nghiệp. Liên kết xuôi tạo cơ hội kinh doanh cho các doanh nghiệp Việt trong lĩnh vực logistics, bán lẻ và dịch vụ.

III. Các Nhân Tố Ảnh hưởng đến Liên kết Dọc Samsung

Năng lực liên kết dọc của Samsung phụ thuộc vào nhiều nhân tố kinh tế, chính trị và xã hội. Chính sách hỗ trợ của Chính phủ Việt Nam như khu công nghiệp FDI, ưu đãi thuế, và hỗ trợ đào tạo nhân lực tạo điều kiện thuận lợi. Hành vi và chiến lược của Samsung trong việc chọn lựa và phát triển nhà cung cấp nội địa là yếu tố quan trọng. Điều kiện yếu tố sản xuất bao gồm chi phí lao động, năng lực kỹ thuật, và cơ sở hạ tầng của Việt Nam ảnh hưởng trực tiếp. Nhu cầu tiêu dùng trong nước và tại các thị trường xuất khẩu quyết định quy mô sản xuất của Samsung. Cuối cùng, ngành công nghiệp liên quan như thép, nhựa, hóa chất, và logistics đóng vai trò hỗ trợ quan trọng.

3.1. Yếu tố Chính sách và Hỗ trợ Nhà nước

Chính phủ Việt Nam thực hiện chính sách mở cửa FDI và xây dựng khu công nghiệp hiện đại. Các ưu đãi về thuế, giảm thuế suất nhập khẩu linh kiện, và hỗ trợ đào tạo lao động tạo môi trường kinh doanh thuận lợi. Các cam kết trong WTO, ASEAN giúp ổn định chính sách kinh tế dài hạn.

3.2. Điều kiện Yếu tố Sản xuất và Nhu cầu Tiêu dùng

Chi phí lao động của Việt Nam thấp hơn Thái Lan, Malaysia, nhưng năng lực kỹ thuật còn hạn chế. Cơ sở hạ tầng giao thông, điện, nước ở các khu công nghiệp khá phát triển. Nhu cầu tiêu dùng lớn của thị trường Việt Nam và thị trường xuất khẩu châu Á, châu Âu, Mỹ là động lực mở rộng liên kết dọc.

IV. Giải Pháp và Kiến Nghị Tăng Cường Liên Kết Dọc

Để tăng cường liên kết dọc giữa Samsung và doanh nghiệp Việt Nam, cần có giải pháp đồng bộ từ nhiều phía. Chính phủ Việt Nam cần tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao chất lượng giáo dục kỹ thuật, và phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật cao. Các doanh nghiệp trong nước phải tự nâng cao năng lực sản xuất, đạt chứng chỉ chất lượng quốc tế, và tập trung vào lĩnh vực chuyên biệt. Samsung cần tăng cường chuyển giao công nghệ, đầu tư vào R&D tại Việt Nam, và phát triển các nhà cung cấp nội địa thành nhà thầu cấp 1 chuyên nghiệp. Hợp tác giữa ba bên: chính phủ, doanh nghiệp Việt, và tập đoàn Samsung sẽ tạo synergy mạnh mẽ, nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường toàn cầu.

4.1. Giải Pháp từ Chính Phủ Việt Nam

Chính phủ nên xây dựng quỹ tài chính hỗ trợ cho nhà cung cấp Việt đạt tiêu chuẩn quốc tế. Tăng cường đào tạo kỹ sư, công nhân với kỹ năng kỹ thuật cao. Giảm chi phí logistics, năng lượng thông qua đầu tư cơ sở hạ tầng. Ưu đãi thuế cho các doanh nghiệp liên kết với FDI trên dài hạn.

4.2. Giải Pháp từ Doanh Nghiệp Nội địa và Samsung

Doanh nghiệp Việt Nam cần đầu tư vào R&D, tập trung hóa sản xuất theo lĩnh vực chuyên biệt. Samsung nên tăng cường: chuyển giao công nghệ, hỗ trợ kỹ thuật dài hạn, xây dựng trung tâm đào tạo cho nhà cung cấp nội địa. Tăng tỷ lệ nội địa hóa từ 30-40% lên 50% trở lên.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

28/12/2025
Liên kết dọc giữa tập đoàn đa quốc gia với doanh nghiệp trong nước ở việt nam nghiên cứu trường hợp samsung

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LIÊN KẾT DỌC CỦA TẬP ĐOÀN ĐA QUỐC GIA VỚI DOANH NGHIỆP TRONG NƯỚC 1.1 Tổng quan về tập đoàn đa quốc gia 1.1 Khái niệm về tập đoàn đa quốc gia Tập đoàn đa quốc gia (MNC) hay công ty xuyên quốc gia (TNC) được quan niệm không thống nhất giữa các học giả. Các học giả Mỹ căn cứ vào phạm vi kiểm soát và quản lý các hoạt động sản xuất cho rằng, tập đoàn đa quốc gia phải là các công ty có phạm vi kiểm soát và quản lý các hoạt động sản xuất ít nhất từ hai nước trở lên. Một số học giả khác lại cho rằng tập đoàn đa quốc gia phải có quy mô tài sản đạt trên mức 100 triệu USD (Vernon, 1971). Lại có quan điểm cho rằng, tập đoàn đa quốc gia phải là các công ty được xếp hạng trong danh sách 500 công ty lớn nhất thế giới về tài sản được công bố hàng năm (Harvard Business school, 1974).

Cũng có học giả định nghĩa tập đoàn đa quốc gia dựa trên tiêu chuẩn về số lao động sử dụng ở nước ngoài hay tỷ lệ tài sản ở nước ngoài trên tổng giá trị tài sản của công ty (Jenkins, 1987) Một số học giả lại cho rằng, tập đoàn đa quốc gia là công ty lớn bao gồm nhiều công ty nhỏ hay thực thể kinh tế. Những thực thể này có thể thuộc quyền sở hữu cá nhân, nhà nước hay sở hữu hỗn hợp được thành lập ở nhiều nước khác nhau và có mối liên hệ chặt chẽ. Chúng ảnh hưởng đến hoạt động của nhau và đặc biệt cùng có chung mục đích và nguồn vốn kinh doanh. Trong các tập đoàn đa quốc gia, mức độ tự chủ của các thực thể rất khác nhau, phụ thuộc vào hình thức liên kết và lĩnh vực hoạt động của chúng.

Gần đây, hội nghị của Liên Hợp Quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD) đã đưa ra định nghĩa như sau: tập đoàn đa quốc gia bao gồm các công ty mẹ và các công ty con của chúng ở các nước trên thế giới. Công ty mẹ là công ty 10 kiểm soát toàn bộ tài sản của chúng ở nước sở tại hơn là ở nước ngoài. Công ty con là công ty hoạt động dưới sự quản lý của công ty mẹ ở nước ngoài. Như vậy, từ các định nghĩa của các học giả nêu trên, có thể khái quát chung về tập đoàn đa quốc gia như sau: Tập đoàn đa quốc gia là một công ty kiểm soát tài sản của các công ty đặt tại nhiều nước không kể nước mẹ đẻ của họ, trong đó có các chi nhánh sản xuất ở nước ngoài đóng góp lợi nhuận là chủ yếu.2 Tác động của tập đoàn đa quốc gia đối với nền kinh tế nước sở tại Trong thời đại toàn cầu hóa, các tập đoàn đa quốc gia trở thành nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất đối với các nước đang phát triển.

Tuy nhiên, sự tham gia của các MNCs không chỉ đơn thuần là nhập khẩu vốn mà nó còn có ý nghĩa nhiều hơn đối với nước chủ nhà, đặc biệt là các nước đang phát triển. Các tác động của MNCs đối với nền kinh tế nước sở tại được phân tích thông qua các tác động chủ yếu sau: 1.1 Tác động lan truyền công nghệ Như đã biết, MNCs thực hiện một phần lớn các nghiên cứu và phát triển (R&D) tư nhân trên thế giới, đồng thời tạo ra, sở hữu và kiểm soát hầu hầu hết công nghệ tiên tiến trên thế giới. Đặc biệt, nếu như đầu tư sản xuất và lao động của các MNC được trải rộng trên phạm vi toàn cầu thì hoạt động R&D và công nghệ của MNCs lại chỉ tập trung ở một số ít các quốc gia có điều kiện phát triển. Như vậy, các MNC là nguồn công nghệ quan trọng nhất đối với hầu hết các nền kinh tế, đặc biệt là nền kinh tế đang phát triển.

Tác động lan truyền công nghệ của MNCs sang các nền kinh tế khác được thể hiện thông qua bảng sau: 11 Bảng 1. Lan truyền công nghệ trên thế giới: loại hình giao dịch và vai trò của MNCs Vai trò của MNCs Loại hình giao dịch Chủ Động Thụ Động Chính thức Liên doanh, cấp License Thương mại hàng hóa Tạp chí thương mại, trao Không chính thức Các liên kết đổi khoa học Nguồn: Hiệu chỉnh từ Fransman (1985) Có rất nhiều ý kiến về vai trò của MNCs trong chuyển giao công nghệ quốc tế. Tuy nhiên, hiện nay nhìn chung các ý kiến cho rằng kênh có ý nghĩa nhất giúp lan truyền công nghệ tiên tiến là các tác động bên ngoài hay “ngoại tác lan truyền” của đầu tư trực tiếp nước ngoài được thực hiện bởi MNCs (Blomstrum, 1989). Nhìn chung, ngoại tác lan truyền công nghệ từ MNCs sang nước sở tại được thực hiện thông qua 4 kênh chủ yếu đó là: - Liên kết giữa các MNC và doanh nghiệp trong nước: công nghệ được lan truyền thông qua các công ty thành viên nước ngoài của MNC liên kết với nhà cung cấp và khách hàng trong nước của nó.

- Đào tạo nhân viên trong nước tại các công ty thành viên nước ngoài của MNC: việc chuyển giao công nghệ từ công ty mẹ sang công ty con của MNC không chỉ hàm chứa việc chuyển giao máy móc, trang thiết bị, quyền sử dụng bằng sáng chế, cán bộ quản lý, kỹ thuật người nước ngoài mà còn được thể hiện thông qua việc đào tạo nhân viên trong nước của các công ty thành viên. Chuyển giao công nghệ của MNC thông qua kênh đào tạo nhân viên đặc biệt có ý nghĩa đối với các quốc gia đang phát triển khi mà nền giáo dục công tại các nước này còn tương đối yếu kém so với các nước khác.2 Tác động thương mại Để thâm nhập thị trường nước ngoài và trở thành một nhà xuất khẩu thành công, một công ty phải là một nhà sản xuất có đủ năng lực, có khả năng quản lý được các hoạt động tiếp thị quốc tế, phân phối và cung cấp các dịch vụ của mình – những công việc đòi hỏi chi phí cố định cao. Điều đó làm cho các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt các doanh nghiệp tại các nước đang phát triển không có đủ nguồn lực để đón nhận những cơ hội và thách thức khi xâm nhập vào thị trường quốc tế. Trong khi đó, các MNC lại có đầy đủ các lợi thế khi thực hiện hoạt động thương mại quốc tế với mạng lưới các công ty thành viên trên toàn cầu, hiểu biết đầy đủ về thị trường quốc tế và nguồn vốn lớn đủ để chi trả cho chi phí cố định cao.

Tác động của MNC đến hoạt động thương mại của nước chủ nhà có thể là tác động trực tiếp hoặc tác động gián tiếp. Nhìn chung, các nghiên cứu đều chỉ ra rằng, MNC làm cho hoạt động xuất khẩu của nước sở tại gia tăng, đặc biệt tại các nước đang phát triển.3 Tác động của cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh Các nghiên cứu đưa ra giả thuyết cho rằng, MNC có thể cải thiện hiệu quả công nghiệp và phân bổ nguồn lực ở những nước chủ nhà bằng cách tham gia vào các ngành công nghiệp – nơi mà rào cản gia nhập ngành cao. Việc tham gia của MNC vào các ngành độc quyền có khả năng làm tăng mức độ cạnh tranh trong ngành, buộc các doanh nghiệp trong nước phải nâng cao hiệu quả để đảm bảo duy trì được lợi nhuận. Tuy nhiên, MNC cũng có thể tác động làm phá sản các doanh nghiệp trong nước do không có khả năng cạnh tranh và sự thay thế độc quyền bởi MNC là có khả năng xảy ra.

Song các nghiên cứu thực nghiệm thực hiện ở các nước có nền kinh tế phát triển đã chỉ ra rằng: có mối quan hệ đồng biến giữa sự tham gia và hiện diện của nước ngoài với mức độ tập trung của người bán trong những ngành công nghiệp của nước chủ nhà (Dunning, 1993 và Caves, 1996). Tuy nhiên, đối với các nước đang 13 phát triển, các nghiên cứu chưa chỉ ra được một cách thuyết phục về tác động của MNC đối với cạnh tranh ở chủ nhà. Nhưng Lall đã đưa ra giả thuyết đáng tin cho rằng, đối với các nước đang phát triển, MNC thúc đẩy quá trình tập trung tự nhiên. Điều này được lý giải là do sự yếu kém của đối thủ cạnh tranh trong nước dẫn đến MNC dễ dàng chiếm lĩnh được thị trường.2 Các lý thuyết và mô hình đánh giá liên kết dọc của tập đoàn đa quốc gia với doanh nghiệp trong nước 1.1 Khái niệm về liên kết dọc của NMCs với doanh nghiệp trong nước Như đã phân tích ở trên, các doanh nghiệp FDI ít nhiều đều có tác động tới các doanh nghiệp trong nước.

MNCs có thể góp phần cải tiến công nghệ của các nhà cung cấp nội địa hiện có hoặc các nhà cung cấp tiềm năng thông qua việc hỗ trợ kỹ thuật. Việc gia tăng các MNC góp phần mang lại lợi ích cho các nhà cung cấp địa phương nếu như nó làm gia tăng nhu cầu về đầu vào nội địa. Tác động của MNCs đối với doanh nghiệp nước sở tại được thực hiện thông qua mối liên kết giữa các MNCs với doanh nghiệp trong nước. Mối liên kết giữa MNCs và doanh nghiệp trong nước có thể là mối liên kết theo chiều dọc hoặc mối liên kết theo chiều ngang.

- Liên kết theo chiều dọc: là mối liên kết giữa các doanh nghiệp mà sản phẩm của doanh nghiệp này được sử dụng làm đầu vào cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp khác. Như vây, liên kết dọc sẽ bao gồm liên kết với các doanh nghiệp phía thượng nguồn (tức là các doanh nghiệp cung cấp đầu vào cho quá trình sản xuất) và các doanh nghiệp phía hạ nguồn (tức là các doanh nghiệp tiêu thụ đầu ra của quá trình sản xuất). - Liên kết theo chiều ngang: là liên kết giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất một loại sản phẩm nào đó. 14 Như vậy, liên kết dọc giữa MNCs với doanh nghiệp trong nước có thể hiểu là mối quan hệ giữa các MNC với các nhà cung cấp nội địa và các doanh nghiệp tiêu thụ địa phương trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của MNCs.2 Các hình thức liên kết dọc của MNCs với doanh nghiệp trong nước Liên kết dọc giữa các MNC và doanh nghiệp trong nước bao gồm hai loại hình cơ bản đó là: mối liên kết đối với các doanh nghiệp phía thượng nguồn (liên kết dọc ngược chiều) và mối liên kết với các doanh nghiệp phía hạ nguồn (liên kết dọc xuôi chiều) 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ