Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ lịch sử "Nghề gốm ở Thành phố Hồ Chí Minh từ thế kỷ XVIII đến nay" do nghiên cứu sinh Phí Ngọc Tuyến thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh năm 2005, dưới sự hướng dẫn khoa học của Nguyễn Công Bình và Đặng Văn Thắng, thuộc chuyên ngành Lịch sử Việt Nam (mã số 5.05.15).

  • Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu: Nghề gốm là một trong những nghề thủ công truyền thống giữ vị trí thiết yếu trong đời sống kinh tế, xã hội và văn hóa của cộng đồng cư dân Nam Bộ. Tại Thành phố Hồ Chí Minh – trung tâm kinh tế, khoa học kỹ thuật và giao lưu văn hóa của cả nước – nghề gốm vừa đóng vai trò giải quyết việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, vừa là bộ phận cấu thành di sản văn hóa dân tộc cả ở khía cạnh vật thể và phi vật thể. Tuy nhiên, các công trình trước đây chỉ tiếp cận nghề gốm ở từng khía cạnh riêng lẻ hoặc theo các lát cắt thời gian ngắn hạn, chưa có công trình sử học nào hệ thống hóa toàn diện lịch sử hình thành, biến đổi và phát triển của nghề gốm tại Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh suốt tiến trình hơn ba thế kỷ.

  • Mục tiêu nghiên cứu:

    1. Phác dựng tiến trình phát triển liên tục của nghề gốm tại vùng đất Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh từ đầu thế kỷ XVIII đến cuối thế kỷ XX trên trục thời gian và không gian cụ thể.
    2. Làm rõ các nhân tố tác động đến nghề gốm: điều kiện tự nhiên, nguyên nhiên liệu, khoa học kỹ thuật, tổ chức quản lý sản xuất, đời sống người thợ, sự tiếp biến mỹ thuật, thị trường tiêu thụ và chính sách của Nhà nước qua từng thời kỳ lịch sử.
    3. Xác lập cơ sở khoa học phục vụ công tác nhận dạng hiện vật, bảo tồn di sản gốm truyền thống, gắn với định hướng chuyển đổi công nghệ và phát triển kinh tế – xã hội của Thành phố.
  • Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

    • Đối tượng nghiên cứu: Nghề làm gốm và sản phẩm gốm tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
    • Phạm vi không gian: Tập trung chủ yếu vào không gian địa lý hành chính tương đương địa phận Thành phố Hồ Chí Minh sau năm 1975 (vùng Sài Gòn – Gia Định, Chợ Lớn), đặt trong mối liên hệ hữu cơ với các trung tâm gốm phụ cận như Biên Hòa (Đồng Nai) và Lái Thiêu (Bình Dương) cùng thị trường tiêu thụ tại Nam Bộ và cả nước.
    • Phạm vi thời gian: Khảo sát từ thế kỷ XVIII đến cuối thế kỷ XX (khoảng 300 năm), có liên hệ tiền đề với giai đoạn tiền – sơ sử và cập nhật một số tư liệu đầu thế kỷ XXI.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả luận án đã phân chia và điểm luận các công trình nghiên cứu trước đó thành hai giai đoạn chính:

  • Giai đoạn trước năm 1975:

    • Thư tịch Hán – Nôm: Đại Nam thực lục ghi nhận Gia Định có 62 ty thợ từ thời chúa Nguyễn, trong đó ty thợ gốm thành lập năm 1791; Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn ghi nhận nhu cầu đồ gốm và nguồn củi gỗ phục vụ lò gạch, ngói; Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức (đầu thế kỷ XIX) mô tả địa danh Lò Gốm, kênh Ruột Ngựa và sự sầm uất của các phố ngói Bến Thành; Đại Nam nhất thống chí; bài Phú cổ Gia Định phong cảnh vịnh (cuối TK XVIII – đầu TK XIX) và Bản đồ tỉnh Gia Định năm 1815 của Trần Văn Học xác định vị trí xóm Lò Gốm.
    • Tác giả thời thuộc Pháp: Derbès (1882) với khảo cứu "Étude sur les industries de terres cuites en Cochinchine" ghi nhận số lượng lò gốm, phân tích 12 mẫu đất sét tại Chợ Lớn (Hòa Lục, Phú Định, Cây Mai, Vĩnh Hội, Liêng Thanh); Péralle (BSEI) mô tả lò gốm Cây Mai, kỹ thuật khuôn xoay và quy trình nung; địa phương chí Monographie de la province de Bien Hoa (1924) và Monographie de la province de Gia Dinh; các thống kê kinh tế năm 1939, 1941 và Niên giám thống kê Việt Nam (1951).
    • Giai đoạn 1954–1975 tại miền Nam: Các khảo cứu tiểu thủ công nghiệp của Trần Hoàn, Trần Viết Trinh; nghiên cứu giới chủ và thợ của Nguyễn Công Bình, Cao Văn Lượng; kỹ thuật vật liệu của Ngô Quang Minh; sách thuật ngữ và khảo tả đồ sứ cổ của Vương Hồng Sển; khảo luận "Sơ thảo lịch sử phát triển thủ công nghiệp Việt Nam" của Phan Gia Bền (1957) phân tích bước chuyển từ tiểu thủ công nghiệp cá thể sang phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa tại trung tâm Sài Gòn – Chợ Lớn.
  • Giai đoạn sau năm 1975:

    • Nghiên cứu kinh tế – lịch sử – dân tộc học: Lê Văn Năm (1988) về thương nghiệp Nam Bộ; Lương Văn Hy và Diệp Đình Hoa (1990) về tiểu thủ công nghiệp gốm Tân Vạn; Vũ Huy Phúc về tiểu thủ công nghiệp cận đại; Võ Công Nguyện về gốm mỹ nghệ Đông Nam Bộ; Huỳnh Thị Ngọc Tuyết (1993) với luận án Phó tiến sĩ về tiểu thủ công nghiệp Sài Gòn – Gia Định 1954–1975; Phạm Đức Dương và Châu Thị Hải về giao lưu văn hóa Việt – Hoa; Nguyễn Minh Giao (2000) về gốm sứ Bình Dương 1986–2000.
    • Khảo cổ học và giám định bảo tàng: Huỳnh Ngọc Trảng và Nguyễn Đại Phúc (1994, 1997) với các chuyên khảo "Gốm Cây Mai Sài Gòn xưa" và "Tượng gốm Đồng Nai – Gia Định"; báo cáo khai quật khảo cổ học lò gốm cổ Hưng Lợi (quận 8) các năm 1997–1998 của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam – TP.HCM (Nguyễn Thị Hậu, Trần Sung, Lại Ngọc Huy); các nghiên cứu khảo cổ của Đặng Văn Thắng về gốm Bến Nghé, tượng gốm chùa Trường Thọ; bài viết phân tích loại hình, hiện vật của Mã Thanh Cao, Nguyễn Thị Thu Trúc, Hoàng Anh Tuấn, Diệp Minh Cường; tổng luận của Trần Khánh Chương (2001) trong "Gốm Việt Nam từ đất nung đến gốm sứ"; các tài liệu kỹ thuật phối liệu, lò nung của Phạm Xuân Yên, Nguyễn Đức Thạch, Trần Kim Thạch và các bản dịch của Nguyễn Văn Thông.
  • Khoảng trống luận án giải quyết: Luận án là công trình tổng hợp đầu tiên xâu chuỗi toàn bộ quá trình vận động của nghề gốm Sài Gòn – TP.HCM từ thời phong kiến, thuộc địa đến thời kỳ Đổi mới, lấp khoảng trống về nguồn sử liệu hệ thống, kết hợp tư liệu thành văn với kết quả khai quật khảo cổ học thực địa và số liệu kinh tế – kỹ thuật đương đại.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

  • Khung phân tích và khái niệm: Luận án tiếp cận nghề gốm dưới góc độ sử học kinh tế – xã hội kết hợp lịch sử văn hóa. Nghề gốm được xem xét như một ngành sản xuất hàng hóa phi nông nghiệp, chịu sự chi phối của quy luật cung cầu thị trường, sự tiến bộ kỹ thuật công nghệ, sự tác động của thể chế chính sách Nhà nước và quá trình tiếp biến văn hóa giữa các cộng đồng cư dân (Việt, Hoa, bản địa Khmer/Mạ/Chăm và văn hóa phương Tây).

  • Phương pháp nghiên cứu:

    1. Phương pháp sử học chuyên ngành: Sử dụng kết hợp phương pháp lịch sử và logic nhằm phục dựng diễn trình phát triển theo trật tự thời gian và bóc tách bản chất kinh tế – xã hội qua từng thời kỳ.
    2. Phương pháp liên ngành: Áp dụng phương pháp điền dã dân tộc học (phỏng vấn nghệ nhân, khảo sát cơ sở sản xuất); phương pháp khảo cổ học lịch sử (tham gia thám sát, khai quật địa tầng, giám định di vật tại lò gốm Hưng Lợi); phương pháp phân loại hình học (phân loại thân gốm, men màu, hoa văn trang trí); phương pháp phân tích hóa – lý mẫu đất sét và xương gốm.
    3. Phương pháp thống kê, so sánh: Xử lý số liệu từ các niên giám thống kê, báo cáo của cơ quan Hải quan và Sở Công nghiệp; so sánh đối chiếu dòng gốm Sài Gòn với các trung tâm lân cận (Biên Hòa, Lái Thiêu) và các lò gốm miền Bắc, miền Trung.
  • Nguồn tư liệu và dữ liệu:

    • Thư tịch Hán – Nôm và địa chí triều Nguyễn; hồ sơ lưu trữ thời Pháp thuộc tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II.
    • Văn kiện, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Nhà nước và chính quyền TP.HCM; báo cáo thống kê chuyên ngành Hải quan và các xí nghiệp gốm.
    • Minh văn chữ Hán in hoặc khắc chìm dưới đáy/thân sản phẩm gốm ghi niên đại, tên lò sản xuất (Cây Mai, Bửu Nguyên, Đồng Hòa...) và họ tên người đặt hàng.
    • Hiện vật gốm lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam – TP.HCM, Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM, Bảo tàng TP.HCM, các bảo tàng tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Long An, Tiền Giang, các cơ sở thờ tự tín ngưỡng (đình, chùa, miếu) và bộ sưu tập tư nhân.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Nghề gốm ở Sài Gòn – Gia Định từ đầu thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX

Chương I phân tích các yếu tố tiền đề và quá trình hình thành nghề gốm tại Sài Gòn – Gia Định dưới thời các chúa Nguyễn và triều Nguyễn:

  • Bối cảnh và điều kiện tự nhiên: Quá trình khẩn hoang của người Việt từ cuối thế kỷ XVI cùng nhóm di thần nhà Minh (1679) và việc xác lập bộ máy hành chính năm 1698 đã hình thành đô thị Bến Nghé – Sài Gòn sầm uất. Sài Gòn sở hữu trữ lượng đất sét khoảng 500 ha phân bố tại Chợ Lớn, Củ Chi, Thủ Đức; hệ thống sông ngòi dài hơn 9.120 km (sông Sài Gòn, sông Đồng Nai, rạch Lò Gốm, rạch Bến Nghé) thuận lợi vận chuyển nguyên vật liệu và củi đốt từ rừng nhiệt đới. Việc đào kênh Ruột Ngựa năm 1772 đã kết nối huyết mạch giao thương giữa Sài Gòn với Tây Nam Bộ.
  • Lực lượng lao động và tổ chức sản xuất: Nhà nước thành lập 62 ty thợ (1791), trong đó có ty thợ lò gốm, thợ gạch, thợ ngói phục vụ xây dựng thành lũy (thành Bát Quái 1790, lũy Bán Bích 1772) và công trình công cộng. Bên cạnh tổ chức nhà nước là hệ thống sản xuất gia đình chuyên nghiệp và bán chuyên nghiệp mang tính chất hàng hóa tự do. Lực lượng sản xuất gồm người Việt, người Hoa (thợ Hẹ chuyên sản xuất lu; thợ Quảng Đông sản xuất siêu, ô, tay cầm; thợ Triều Châu sản xuất chén dĩa) và người bản địa.
  • Kỹ thuật và nguyên liệu: Khai thác đất sét tại chỗ kết hợp cát thạch anh ($SiO_2$), tráng men tro, nung lò bao, lò cóc. Kết quả phân tích thành phần hóa học mẫu gốm và nguyên liệu đất tại di tích lò Hưng Lợi (phường 16, quận 8) cho thấy các chỉ tiêu khoáng chất đặc trưng:
Số TT Ký hiệu mẫu Loại mẫu và vị trí % $SiO_2$ % $Al_2O_3$ % $Fe_2O_3$ % $K_2O$ % $H_2O$
01 97HL-5 Mảnh miệng chậu bông lớn (Hố 4) 69,44 18,68 1,58 1,16 1,44
02 97HL 1 Mảnh miệng lu K1 (97HL, H6b, lò HL1) 64,66 23,23 5,86 1,58 0,25
03 97HL-3 Mảnh siêu (Hố 97HL, H6a, lò HL1) 73,70 20,82 1,62 1,26 0,14
04 Sét nguyên liệu Đất nguyên liệu (Vách lò HL2) 71,06 20,30 1,41 1,51 2,35
05 97HL-2 Đất sét (Hố thám sát 98HL.K1) 62,00 18,49 1,81 1,85 2,57

(Nguồn: Nguyễn Thị Hậu, Trần Sung, Lại Ngọc Huy – Báo cáo khai quật di tích Lò gốm Hưng Lợi, 1998)

  • Sản phẩm và thị trường: Sản phẩm gồm gốm gia dụng (lu, hũ, khạp, nồi, ấm, siêu, tĩn đựng nước mắm/rượu), gốm thờ cúng (lư hương, bát nhang, bình hoa) và gốm xây dựng (gạch, ngói âm dương). Thị trường bao phủ toàn vùng Gia Định và tỏa đi khắp các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long.

Chương II: Nghề gốm ở Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định từ giữa thế kỷ XIX đến năm 1975

Chương II khảo sát sự chuyển biến của nghề gốm trong thời kỳ Pháp thuộc và giai đoạn 1954–1975:

  • Chính sách thuộc địa và biến động không gian: Đô thị hóa và chiến sự thời kỳ đầu Pháp xâm lược khiến khu vực Lò Gốm, Cây Mai dần bị thu hẹp, chuyển dịch một phần lực lượng sản xuất sang Biên Hòa và Lái Thiêu. Chính quyền thuộc địa ban hành các quy định thuế khóa, quản lý công nghiệp tiểu thủ công nhưng đồng thời đẩy mạnh xây dựng đô thị, tạo sức cầu lớn về gạch ngói và vật liệu kiến trúc.
  • Lao động và quy cách tổ chức: Hình thành các nghiệp chủ tư sản bản địa và Hoa kiều; thành lập các cơ sở sản xuất quy mô lớn và công ty cổ phần (như Công ty Sứ Thiên Thanh, Nhà máy gạch ngói Đồng Nai, SATIC). Lực lượng thợ gốm được tăng cường và tổ chức đào tạo bài bản (Trường Mỹ nghệ Biên Hòa thành lập 1903 có sự chuyển giao kỹ thuật từ thợ gốm Cây Mai). Thống kê số lượng thợ gốm ba kỳ năm 1939, 1941 ghi nhận sự dịch chuyển cơ cấu lao động thủ công nghiệp.
  • Cải tiến kỹ thuật và đa dạng hóa sản phẩm: Bổ sung máy móc cơ khí trong khâu nhào trộn đất, ép ngói, sử dụng bao nung sa-mốt, khuôn thạch cao, men màu hóa học công nghiệp và lò nung cải tiến. Sản phẩm gốm Cây Mai đạt trình độ cao về tượng trang trí kiến trúc (tượng rồng, lân, phụng, tượng Nhật – Nguyệt, tượng thần, Phật, gốm men nhiều màu xanh lục, xanh lam, vàng nâu). Giai đoạn 1954–1975, xuất hiện thêm các chủng loại sứ vệ sinh, sứ gia dụng và gạch chịu lửa phục vụ công nghiệp hóa thành thị miền Nam.
  • Thị trường tiêu thụ: Sản phẩm gốm Sài Gòn – Chợ Lớn cạnh tranh trực tiếp với đồ gốm nhập khẩu từ Pháp, Nhật Bản và Trung Quốc, đồng thời mở rộng xuất khẩu sang các nước lân cận trong khu vực Đông Nam Á.

Chương III: Nghề gốm ở Thành phố Hồ Chí Minh từ 1975 đến cuối thế kỷ XX

Chương III trình bày quá trình phục hồi, tái cấu trúc và đổi mới công nghệ của nghề gốm sau ngày thống nhất đất nước:

  • Bối cảnh sau 1975 và tác động của Đổi mới: Giai đoạn 1975–1985, các cơ sở gốm được tổ chức lại theo mô hình quốc doanh và hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp. Sau Đại hội Đảng VI (1986), chính sách Đổi mới cho phép các thành phần kinh tế tư nhân, liên doanh có vốn đầu tư nước ngoài tham gia sản xuất gốm sứ mỹ nghệ xuất khẩu.
  • Hiện đại hóa kỹ thuật và công nghệ: Áp dụng công nghệ nghiền bi, sàng rung, máy ép lọc áp lực trong xử lý phối liệu xương gốm dẻo và gốm mịn; tạo hình bằng máy ép dẻo bán tự động và rót áp lực trong khuôn thạch cao; tráng men tự động; thay thế lò than củi truyền thống bằng lò con thoi (shuttle kiln), lò tuynel và lò nung đốt bằng khí gas công nghiệp (LPG) hoặc điện lực, giúp kiểm soát nhiệt độ chính xác và giảm thiểu tỷ lệ phế phẩm.
  • Sản phẩm và thương mại: Chuyển dịch mạnh mẽ từ gốm gia dụng thô sang gốm mỹ nghệ xuất khẩu, gốm trang trí sân vườn (outdoor pottery), sứ gia dụng cao cấp và sứ cách điện kỹ thuật. Giai đoạn 2000–2004, kim ngạch xuất khẩu gốm qua cảng TP.HCM tăng trưởng đều đặn sang các thị trường châu Âu, Mỹ, Nhật Bản, Đài Loan.
  • Môi trường và giao lưu văn hóa: Việc khai thác đất sét sản xuất gạch ngói và khí thải lò nung (khói bụi, $SO_2$, $CO$) dẫn đến chủ trương quy hoạch di dời các lò gốm gây ô nhiễm ra khỏi nội thành vào các khu công nghiệp tập trung. Gốm TP.HCM tiếp tục là cầu nối giao lưu văn hóa, tích hợp giá trị tạo hình truyền thống vào không gian kiến trúc đương đại.

Kết quả và những đóng góp mới

  • Về mặt lý luận và khoa học lịch sử:

    • Hệ thống hóa toàn diện quá trình hình thành, phát triển của nghề gốm Sài Gòn – TP.HCM trong suốt 300 năm, làm rõ quy luật vận động của một làng nghề – ngành nghề thủ công nghiệp truyền thống trong không gian đô thị hóa.
    • Khẳng định nguồn gốc bản địa kết hợp với dòng di dân của người Việt và người Hoa, xác định nghề gốm Sài Gòn đã mang tính chất sản xuất hàng hóa chuyên nghiệp từ rất sớm (thế kỷ XVIII) chứ không đơn thuần là hoạt động tự cấp tự túc.
    • Làm sáng tỏ vai trò chuyển giao kỹ thuật của thợ gốm Cây Mai (Sài Gòn) đối với sự hình thành và phát triển của các trung tâm gốm Biên Hòa và Lái Thiêu.
  • Về mặt thực tiễn và ứng dụng:

    • Cung cấp khung dữ liệu chuẩn xác về loại hình học, thành phần hóa học, kỹ thuật tạo tác, men màu và niên đại để hỗ trợ công tác giám định, phân loại, lập hồ sơ hiện vật và xây dựng bộ sưu tập gốm Sài Gòn tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam – TP.HCM cùng các bảo tàng phía Nam.
    • Cung cấp luận cứ khoa học phục vụ công tác bảo tồn di sản văn hóa vật thể (bảo tồn di tích lò gốm Hưng Lợi, gốm kiến trúc đình chùa) và phi vật thể (kỹ năng nghề truyền thống).
    • Đề xuất các giải pháp bảo tồn làng nghề gắn với quy hoạch đô thị, chuyển đổi sang công nghệ sạch (lò gas, điện) nhằm giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường và tạo việc làm cho người lao động.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:

    • Nguồn tư liệu Hán – Nôm thời kỳ đầu chúa Nguyễn và triều Nguyễn ghi chép về nghề thủ công còn tản mạn, thiếu vắng các số liệu thống kê định lượng chi tiết về sản lượng và quy mô các xưởng gốm tư nhân.
    • Tác động của chiến tranh, sự đào thải của quá trình đô thị hóa và sự xâm thực tự nhiên đã phá hủy nhiều phế tích lò gốm cổ và làm thất lạc một lượng lớn di vật gốm Sài Gòn.
    • Giới hạn nghiên cứu tập trung sâu vào địa bàn hành chính TP.HCM, phần khảo sát so sánh tại Biên Hòa và Lái Thiêu chủ yếu dừng lại ở mức độ đối chiếu bổ trợ.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:

    • Tiếp tục mở rộng khai quật khảo cổ học tại các điểm di tích nghi có lò gốm cổ tại khu vực quận 5, quận 6, quận 11 và Cần Giờ.
    • Ứng dụng các phương pháp phân tích vật lý – hóa học hiện đại (như nhiệt huỳnh quang, huỳnh quang tia X) để xác định niên đại tuyệt đối và cấu trúc vi mô của các lớp men gốm Cây Mai và Hưng Lợi.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị sử liệu và thực tiễn đối với:

  • Nhà nghiên cứu, giảng viên, sinh viên: Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Khảo cổ học, Dân tộc học, Văn hóa học và Lịch sử Mỹ thuật ứng dụng trong việc tiếp cận nguồn sử liệu về kinh tế thủ công nghiệp đô thị phương Nam.
  • Cán bộ bảo tàng, bảo tồn di tích: Ứng dụng trực tiếp bảng tiêu chí phân loại, bảng phân tích hóa học và danh mục minh văn để giám định, lập phiếu kiểm kê và trưng bày hiện vật gốm Sài Gòn – Gia Định.
  • Cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở khoa học cho Sở Văn hóa – Thông tin, Sở Công nghiệp trong việc quy hoạch bảo tồn làng nghề truyền thống, chuyển đổi công nghệ nung gốm thân thiện với môi trường và định hướng sản phẩm thủ công mỹ nghệ phục vụ du lịch, xuất khẩu.

Câu hỏi thường gặp

1. Địa danh Lò Gốm ở Sài Gòn được ghi nhận sớm nhất trong các nguồn thư tịch và bản đồ nào?
Địa danh Lò Gốm được ghi chép trong sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức (đầu TK XIX) khi mô tả kênh Ruột Ngựa; được nhắc đến trong bài Phú cổ Gia Định phong cảnh vịnh (cuối TK XVIII – đầu TK XIX) qua câu thơ "lạ lùng xóm Lò Gốm / Chơn vò vò, bàn cổ xây trời"; và được định vị cụ thể trên Bản đồ tỉnh Gia Định năm 1815 do Trần Văn Học vẽ.

2. Di tích lò gốm cổ Hưng Lợi (quận 8) trải qua những giai đoạn sản xuất nào theo kết quả khai quật khảo cổ học?
Di tích lò gốm Hưng Lợi hoạt động từ đầu thế kỷ XVIII đến khoảng năm 1940, chia làm 3 giai đoạn:

  • Giai đoạn 1 (đầu TK XVIII – nửa sau TK XVIII): Chuyên sản xuất các loại lu sành nâu chứa nước phục vụ cư dân khẩn hoang.
  • Giai đoạn 2 (cuối TK XVIII – cuối TK XIX): Sản xuất lu và các đồ gia dụng nhẹ lửa (nồi, ấm, siêu, ô có tay cầm).
  • Giai đoạn 3 (cuối TK XIX – khoảng 1940): Sản xuất đồ gốm bán sứ tráng men màu đa dạng kết hợp một số kiểu dáng ảnh hưởng châu Âu.

3. Sự phân công lao động theo nguồn gốc thợ gốm người Hoa tại Sài Gòn xưa diễn ra như thế nào?
Lực lượng thợ gốm người Hoa tại Sài Gòn có sự phân hóa chuyên môn hóa theo từng nhóm phương ngữ:

  • Thợ người Hẹ (Khách Gia): Chuyên sản xuất các loại lu, khạp lớn chứa nước.
  • Thợ người Quảng Đông: Chuyên chế tác siêu, ô, chậu, ấm có tay cầm và tượng gốm trang trí mỹ thuật.
  • Thợ người Tiều (Triều Châu): Chuyên sản xuất bát, đĩa, chén gia dụng.

4. Dưới thời chúa Nguyễn và triều Nguyễn, sản phẩm gốm nào được sử dụng làm đơn vị đo lường thuế sản vật?
Sản phẩm đồ gốm gọi là "tĩn" (dùng đựng chất lỏng như nước mắm, mật ong, rượu) đã được Nhà nước phong kiến triều Nguyễn quy định làm đơn vị đo lường chuẩn khi các địa phương nộp thuế sản vật về cho chính quyền Trung ương.

5. Luận án phân tích bao nhiêu mẫu đất sét tại Chợ Lớn từ tài liệu của Derbès năm 1882?
Luận án dẫn lại nghiên cứu của Derbès (1882) khảo sát 12 mẫu đất sét tại 12 vị trí khác nhau thuộc khu vực Chợ Lớn (như Hòa Lục, Phú Định, Cây Mai, Vĩnh Hội, Liêng Thanh), mô tả rõ màu sắc, độ mịn, độ dẻo và tính chất khoáng học phục vụ làm gạch, ngói và đồ gốm.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Phí Ngọc Tuyến là công trình nghiên cứu lịch sử chuyên sâu, tái hiện toàn diện tiến trình hơn 300 năm hình thành và phát triển của nghề gốm tại Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh. Tác phẩm đã kết hợp nhuần nhuyễn nguồn tư liệu Hán – Nôm, hồ sơ lưu trữ thuộc địa, kết quả khai quật khảo cổ học thực địa và dữ liệu kinh tế – kỹ thuật đương đại để làm rõ bức tranh tổ chức sản xuất, công nghệ tạo tác và thị trường tiêu thụ của nghề gốm qua các thời kỳ. Công trình không chỉ khẳng định vị thế của trung tâm gốm Sài Gòn trong mối liên hệ với gốm Nam Bộ mà còn cung cấp cơ sở khoa học thiết thực cho công tác giám định bảo tàng và hoạch định chính sách bảo tồn làng nghề truyền thống.