phần mở đầu, phần kết luận và phụ lục, bố cục của khóa luận đƣợc chia ra làm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề chung Trong chƣơng này, chúng tôi sẽ trình bày tổng quan những vấn đề lý 7 thuyết chung để làm tiền đề cho luận văn nghiên cứu nhƣ: khái niệm lập luận, lý lẽ chung trong lập luận, các phƣơng thức lập luận hiệu quả, khái quát về báo Nhân Dân và xã luận. Chƣơng 2: Các dạng lý lẽ trong văn bản xã luận báo Nhân Dân Trong chƣơng 2, chúng tôi tiến hành thống kê, phân loại lập luận thành các dạng lý lẽ và phân tích chúng để thấy đƣợc đặc điểm của từng loại lý lẽ đƣợc sử dụng trong mỗi lập luận. Chƣơng 3: Các phƣơng thức lập luận trong văn bản xã luận báo Nhân Dân Trong chƣơng 3, chúng tôi đƣa ra mô hình hóa chuẩn cũng nhƣ các biến thể đa dạng của một số phƣơng thức lập luận và phân tích một số cách nâng cao hiệu quả lập luận. 8 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.
Khái niệm lập luận Nói có lý lẽ, nói đúng và nói thuyết phục là nhu cầu mà ai cũng quan tâm tìm hiểu. Trong cuộc sống xƣa cũng nhƣ nay, ngành nghề nào, lĩnh vực nào cũng cần tới lập luận và lý lẽ. Con ngƣời dùng đến lập luận để giải thích, chứng minh cho điều gì đó; dùng lập luận để thuyết phục ai đó tin vào ý kiến của mình hay dùng lập luận để trình bày, bác bỏ một vấn đề nào đó… Hiện nay, từ “lập luận” xuất hiện thƣờng xuyên và ngày càng nhiều trong đời sống hàng ngày cũng nhƣ trên báo chí, từ gia đình tới nhà trƣờng, tới xã hội… Nguyễn Đức Dân trong Ngữ dụng học tập 1 cho rằng: “Lập luận là một hoạt động ngôn từ. Bằng công cụ ngôn ngữ, người nói đưa ra những lý lẽ nhằm dẫn dắt người nghe đến một hệ thống xác tín nào đó: rút ra một (/một số) kết luận hay chấp nhận một (/một số) kết luận nào đó” [11, tr.
Đỗ Hữu Châu trong Đại cương ngôn ngữ học tập 2 định nghĩa nhƣ sau: “Lập luận là đưa ra những lý lẽ nhằm dẫn dắt người nghe đến một kết luận hay chấp nhận một kết luận nào đấy mà người nói muốn đạt tới” [7, tr. Nhìn chung, hai tác giả gần nhƣ có sự thống nhất trong định nghĩa lập luận. Xét ví dụ sau: Ví dụ 1: 90 năm qua, MTTQ Việt Nam ngày càng nêu cao vai trò, trách nhiệm đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, không ngừng đổi mới nội dung và phương thức hoạt động nhằm tăng cường, củng cố liên minh chính trị, xây dựng và củng cố vững chắc đại đoàn kết toàn dân tộc; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; thực hiện dân chủ, giám sát và phản biện xã hội; đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng 9 phí, tham gia xây dựng Ðảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh. Một trong những điểm nhấn quan trọng của MTTQ các cấp là luôn nỗ lực đoàn kết, tăng cường đồng thuận xã hội, thúc đẩy tinh thần thi đua sáng tạo, phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Thời gian qua, nhất là trong thời điểm đất nước gặp khó khăn khi dịch Covid-19 xuất hiện, tái bùng phát, các cơn bão, lũ lụt liên tiếp xuất hiện, gây ra những hậu quả nặng nề, MTTQ đã phát huy sâu rộng vai trò, trách nhiệm của mình đối với nhân dân, đối với Tổ quốc bằng những hoạt động cụ thể, thiết thực. Bên cạnh đó, đời sống, lao động, sản xuất của người nghèo, người cận nghèo, của đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, vùng sâu, vùng xa tiếp tục được MTTQ các cấp quan tâm thông qua những chương trình hỗ trợ, đồng hành đạt hiệu quả cao. Nhờ vậy, vai trò, vị thế, uy tín của MTTQ Việt Nam không ngừng được củng cố, khẳng định. (18-11-2020) Trong ví dụ trên, tác giả khẳng định “vai trò, vị thế, uy tín của MTTQ Việt Nam không ngừng đƣợc củng cố, khẳng định”.
Để làm rõ kết luận này, tác giả đƣa ra các lý lẽ về: vai trò, trách nhiệm của MTTQ đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, không ngừng đổi mới nội dung và phƣơng thức hoạt động nhằm tăng cƣờng, củng cố liên minh chính trị, xây dựng và củng cố vững chắc đại đoàn kết toàn dân tộc; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; thực hiện dân chủ, giám sát và phản biện xã hội; đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tham gia xây dựng Ðảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh trong lịch sử 90 năm; luôn nỗ lực đoàn kết, tăng cƣờng đồng thuận xã hội, thúc đẩy tinh thần thi đua sáng tạo, phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; MTTQ đã phát huy sâu rộng vai trò, trách nhiệm của mình đối với nhân dân, đối với Tổ quốc bằng những hoạt động cụ thể, thiết thực trong thời điểm đại dịch Covid -19 xuất hiện tại đất nƣớc và chăm lo đời sống, lao động, sản xuất của ngƣời nghèo, ngƣời cận nghèo, của đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, vùng sâu, vùng xa thông qua những chƣơng trình hỗ 1 trợ, đồng hành đạt hiệu quả cao. Các lý lẽ đƣa ra làm tăng sức thuyết phục cho kết luận của lập luận. Từ những tổng hợp trên, chúng tôi chọn quan điểm về khái niệm lập luận làm chỗ đứng để nghiên cứu về lập luận: “Lập luận là một hoạt động ngôn từ. Bằng công cụ ngôn ngữ, người nói đưa ra những lý lẽ nhằm dẫn dắt người nghe đến một hệ thống xác tín nào đó: rút ra một (/một số) kết luận hay chấp nhận một (/một số) kết luận nào đó” [11, tr.165] Để đi sâu hơn vào khái niệm này, cần phân tích các phƣơng diện khác nhau của nó 1.
Sự lập luận theo diễn từ chuẩn và sự lập luận trong ngôn ngữ Sự lập luận là một hành vi ngôn ngữ - hành động lập luận. Hành động lập luận trƣớc hết đƣợc chia thành hai kiểu: sự lập luận theo diễn từ chuẩn và sự lập luận trong ngôn ngữ. Sự lập luận theo diễn từ chuẩn Là loại lập luận dựa vào các sự kiện, các cứ liệu có liên hệ với nhau một cách logic xác định và những quy tắc suy diễn logic. Lập luận kiểu này thƣờng đƣợc dùng trong các ngành khoa học tự nhiên.
Ví dụ 2: Nếu hai tam giác có các cặp cạnh tương ứng bằng nhau thì chúng bằng nhau. Ở đây ta có sự kiện: tam giác ABC và A‟B‟C‟ có: AB=A”B‟, BC=B‟C‟, AC=A‟C‟; điều này sẽ tất yếu dẫn đến kết luận: tam giác ABC=A‟B‟C‟ Lập luận trên luôn luôn đúng, không có gì phải bàn cãi, sự lập luận nhƣ vậy đƣợc gọi là sự lập luận theo diễn từ chuẩn mực. Sự lập luận trong ngôn ngữ 1 Khác với lập luận theo diễn từ chuẩn, lập luận trong ngôn ngữ không dựa vào mối liên hệ logic để suy diễn một cách logic mà nó dựa vào sự định hƣớng ngôn ngữ, nhằm dẫn dắt ngƣời nghe đi đến một kết luận nào đấy. Trong lý thuyết lập luận, có những quy tắc ngôn từ lập luận.
Những quy tắc ngôn từ đó là những biểu thức ngôn ngữ định hƣớng cho một kết luận hay định hƣớng cho một lập luận. Ví dụ 3: (1) Anh này có bằng B tiếng Anh. (2) Anh này có bằng B tiếng Anh thôi. (3) Do vậy, đủ tiêu chuẩn vào công ty A.
(4) Do vậy, không đủ tiêu chuẩn vào công ty A. So với câu miêu tả định lƣợng (1) (bằng cấp mức độ B), câu (2) có thêm từ “thôi” vào cuối câu. Câu (1) miêu tả định lƣợng nên có thể kết hợp với câu (3) và cũng có thể kết hợp với câu (4) mà ý nghĩa logic của mỗi câu vẫn không thay đổi. Câu (2) khác câu (1) ở từ “thôi” đƣợc thêm vào cuối câu.
Vì từ “thôi” có nét nghĩa ít nên câu (2) chỉ còn khả năng kết hợp với câu (4) theo hƣớng phủ định mà không thể kết hợp với câu (3). (5a) Anh này có bằng B tiếng Anh thôi. Do vậy không đủ tiêu chuẩn vào công ty A. (5b) Anh này có bằng B tiếng Anh thôi.
Do vậy đủ tiêu chuẩn vào công ty A. Điều này có nghĩa là từ thôi đã tạo ra một định hƣớng nghĩa âm (tiêu cực) cho câu (2) khiến nó chỉ có thể kết hợp với câu mang ý nghĩa phủ định nhƣ câu (4). Nhƣ vậy, một phát ngôn ngoài nghĩa văn bản còn có tiềm năng ngữ nghĩa tạo ra chuỗi liên kết với các phát ngôn khác. Theo nghĩa này, “lập luận trong ngôn ngữ là một hoạt động - một thao 1 tác ngôn ngữ, qua đó người nói đưa ra một hay một số phát ngôn làm luận cứ mà cấu trúc ngôn ngữ và nội dung của chúng đưa người nghe tới những chuỗi liên kết dẫn tới một kết luận nào đó” [11, tr.
Sự khác nhau về phương pháp của hai loại lập luận 1. Lập luận khoa học Loại lập luận này sẽ dùng phƣơng pháp suy luận hình thức, theo những khuôn mẫu suy luận chặt chẽ trong logic toán hay trong các khoa học chính xác. Ở đấy, chân lí đƣợc khẳng định qua các tiền đề và các quy tắc suy diễn theo một ngôn ngữ hình thức, nhân tạo và phổ quát cho mọi nơi, mọi lúc. Dù mọi ngƣời dùng các ngôn ngữ tự nhiên khác nhau cũng đều lập luận nhƣ thế Ví dụ 4: ta có một lập luận kiểu “tam đoạn luận” của Aristote, một logic hình thức cổ điển nhƣ sau (ví dụ dẫn theo Jacques Moeshler, có tính khôi hài): Tất cả các nhà ngôn ngữ học đều tâm thần.
(Mà) Ông X là nhà ngôn ngữ học. (Vậy) Ông X bị tâm thần. Tuy nhiên đối với phƣơng pháp suy luận hình thức, có một điều quan trọng là “một sự lập luận có chặt chẽ và chính xác hay không, tùy thuộc vào nó xuất phát từ những tiền đề đúng hay sai và sự suy diễn có hợp quy tắc hay không” [6, tr. Lập luận thuyết phục Phƣơng pháp ở loại lập luận thuyết phục đƣợc gọi là “logic không hình thức”.
Sự lập luận ở đây theo những tri thức, lý lẽ, nền tảng đạo lí, phong tục, tập quán, nhân sinh quan… của một xã hội, một dân tộc, đƣợc hầu hết các cá thể trong xã hội đó tôn trọng và tuân thủ. Tuy nhiên không nên đồng nhất thuyết phục và lập luận. Không phải cứ lập luận là thuyết phục đƣợc ngƣời tiếp nhận. Aristote nói tới ba yếu tố phải 1 đạt đƣợc để lời nói của mình thuyết phục ngƣời nghe.
Đó là: (1) Yếu tố lý lẽ.