Luận văn thạc sĩ về lãnh đạo xóa đói giảm nghèo huyện Đoan Hùng, Phú Thọ từ năm 1997 đến năm 2012

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ussh đảng bộ huyện đoan hùng phú thọ lãnh đạo thực hiện xóa đói giảm nghèo từ năm 1997 đến năm 2012, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2014

120
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: ĐẢNG BỘ HUYỆN ĐOAN HÙNG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TỪ GIAI ĐOẠN 1997-2005

1.1. Khái quát điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của huyện Đoan Hùng và chủ trương xóa đói giảm nghèo của Đảng

1.1.1. Khái quát điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của huyện Đoan Hùng

1.1.2. Đặc điểm tự nhiên của huyện Đoan Hùng

1.1.3. Điều kiện kinh tế - xã hội của huyện Đoan Hùng

1.2. Chủ trương xóa đói giảm nghèo của Đảng

1.2.1. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ và phương hướng nhiệm vụ của Đảng bộ huyện Đoan Hùng về thực hiện xóa đói giảm nghèo giai đoạn 1997 - 2005

1.2.2. Quá trình chỉ đạo thực hiện xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ huyện Đoan Hùng giai đoạn 1997-2005

1.2.2.1. Thực hiện các dự án nhằm xóa đói giảm nghèo
1.2.2.2. Thực hiện các chính sách hỗ trợ trong chương trình mục tiêu Quốc gia xóa đói giảm nghèo
1.2.2.3. Tạo việc làm mới, giảm tỷ lệ thất nghiệp cho người lao động, nâng cao chất lượng lao động; đào tạo cán bộ làm công tác xóa đói giảm nghèo và tăng cường cán bộ cho xã đặc biệt khó khăn
1.2.2.4. Kết quả thực hiện xóa đói giảm nghèo giai đoạn 1997-2005

2. CHƯƠNG 2: ĐẢNG BỘ HUYỆN ĐOAN HÙNG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2012

2.1. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ và phương hướng nhiệm vụ của Đảng bộ huyện Đoan Hùng về xóa đói giảm nghèo từ năm 2006 đến năm 2012

2.1.1. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ

2.1.2. Phương hướng nhiệm vụ của Đảng bộ huyện Đoan Hùng

2.2. Quá trình chỉ đạo thực hiện xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ huyện Đoan Hùng từ năm 2006 đến năm 2012

2.2.1. Thực hiện chương trình 135 của chính phủ

2.2.2. Thực hiện các chính sách hỗ trợ trong chương trình mục tiêu Quốc gia về xóa đói giảm nghèo

2.2.3. Tạo việc làm mới, giảm tỷ lệ thất nghiệp cho người lao động, nâng cao chất lượng lao động; đào tạo cán bộ làm công tác xóa đói giảm nghèo và tăng cường cán bộ cho xã đặc biệt khó khăn

2.2.4. Phát huy vai trò của các đoàn thể nhân dân trong công tác xóa đói giảm nghèo

2.2.5. Kết quả thực hiện xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ huyện từ năm 2006 đến năm 2012

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM

3.1. Một số nhận xét

3.2. Về hạn chế

3.3. Một số kinh nghiệm

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về lãnh đạo xóa đói giảm nghèo huyện Đoan Hùng 1997 2012

Huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ, đã trải qua nhiều thách thức trong công tác xóa đói giảm nghèo từ năm 1997 đến 2012. Trong giai đoạn này, Đảng bộ huyện đã triển khai nhiều chính sách và chương trình nhằm nâng cao đời sống cho người dân. Những nỗ lực này không chỉ giúp cải thiện tình hình kinh tế mà còn tạo ra sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của cộng đồng về chương trình xóa đói giảm nghèo.

1.1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội huyện Đoan Hùng

Huyện Đoan Hùng có địa hình phức tạp với nhiều đồi núi và cánh đồng. Điều này ảnh hưởng đến khả năng phát triển kinh tế và thực hiện các chương trình xóa đói giảm nghèo. Tình hình kinh tế xã hội tại đây còn nhiều khó khăn, với tỷ lệ hộ nghèo cao và cơ sở hạ tầng chưa phát triển đồng bộ.

1.2. Chủ trương của Đảng bộ huyện về xóa đói giảm nghèo

Chủ trương của Đảng bộ huyện Đoan Hùng trong giai đoạn này tập trung vào việc thực hiện các chính sách hỗ trợ cho người nghèo, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống. Các chương trình được triển khai đồng bộ, từ hỗ trợ tài chính đến đào tạo nghề cho người dân.

II. Những thách thức trong công tác xóa đói giảm nghèo tại Đoan Hùng

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, nhưng công tác xóa đói giảm nghèo tại huyện Đoan Hùng vẫn gặp phải nhiều thách thức. Tình trạng nghèo đói vẫn còn phổ biến, đặc biệt là ở các xã vùng sâu, vùng xa. Việc tiếp cận các nguồn lực và chính sách hỗ trợ còn hạn chế, dẫn đến hiệu quả chưa đạt được như mong muốn.

2.1. Tình hình kinh tế khó khăn

Kinh tế huyện Đoan Hùng chủ yếu dựa vào nông nghiệp, nhưng sản xuất nông nghiệp còn manh mún và thiếu bền vững. Điều này làm cho người dân khó khăn trong việc thoát nghèo và cải thiện đời sống.

2.2. Thiếu nguồn lực và chính sách hỗ trợ

Nhiều hộ nghèo chưa tiếp cận được các chương trình hỗ trợ tài chính và đào tạo nghề. Điều này dẫn đến việc họ không thể nâng cao kỹ năng và cải thiện thu nhập, làm cho công tác xóa đói giảm nghèo gặp nhiều khó khăn.

III. Phương pháp và giải pháp chính trong xóa đói giảm nghèo

Để đạt được mục tiêu xóa đói giảm nghèo, huyện Đoan Hùng đã áp dụng nhiều phương pháp và giải pháp khác nhau. Các chương trình được thiết kế phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, nhằm tối ưu hóa hiệu quả và tạo ra sự chuyển biến tích cực trong đời sống người dân.

3.1. Thực hiện các dự án hỗ trợ nông dân

Huyện đã triển khai nhiều dự án hỗ trợ nông dân, bao gồm cung cấp giống cây trồng, vật nuôi và hỗ trợ kỹ thuật. Những dự án này giúp nâng cao năng suất và thu nhập cho người dân, từ đó góp phần vào công tác xóa đói giảm nghèo.

3.2. Đào tạo nghề và tạo việc làm

Đào tạo nghề cho người dân là một trong những giải pháp quan trọng. Huyện đã tổ chức nhiều khóa đào tạo nghề, giúp người dân có thêm kỹ năng và cơ hội việc làm, từ đó nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống.

IV. Kết quả đạt được trong công tác xóa đói giảm nghèo

Trong giai đoạn 1997-2012, huyện Đoan Hùng đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong công tác xóa đói giảm nghèo. Tỷ lệ hộ nghèo đã giảm đáng kể, đời sống vật chất và tinh thần của người dân được cải thiện rõ rệt. Những thành tựu này là kết quả của sự nỗ lực không ngừng của Đảng bộ và nhân dân huyện.

4.1. Giảm tỷ lệ hộ nghèo

Tỷ lệ hộ nghèo tại huyện Đoan Hùng đã giảm từ 30% xuống còn 15% trong giai đoạn này. Điều này cho thấy sự hiệu quả của các chương trình hỗ trợ và chính sách của Đảng bộ huyện.

4.2. Cải thiện đời sống vật chất và tinh thần

Người dân đã có điều kiện sống tốt hơn, với thu nhập bình quân đầu người tăng lên. Các hoạt động văn hóa, giáo dục cũng được chú trọng, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho công tác xóa đói giảm nghèo

Công tác xóa đói giảm nghèo tại huyện Đoan Hùng trong giai đoạn 1997-2012 đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua. Hướng đi tương lai cần tập trung vào việc phát huy sức mạnh cộng đồng và tăng cường sự tham gia của người dân trong các chương trình phát triển.

5.1. Tăng cường sự tham gia của cộng đồng

Cần khuyến khích người dân tham gia vào các chương trình phát triển, từ đó tạo ra sự đồng thuận và trách nhiệm trong công tác xóa đói giảm nghèo.

5.2. Đẩy mạnh hợp tác với các tổ chức xã hội

Huyện cần tăng cường hợp tác với các tổ chức xã hội và doanh nghiệp để huy động nguồn lực và kinh nghiệm trong công tác xóa đói giảm nghèo.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh đảng bộ huyện đoan hùng phú thọ lãnh đạo thực hiện xóa đói giảm nghèo từ năm 1997 đến năm 2012

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 ĐẢNG BỘ HUYỆN ĐOAN HÙNG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TỪ GIAI ĐOẠN 1997-2005.1 Khái quát điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của huyện Đoan Hùng và chủ trương xóa đói giảm nghèo của Đảng .1 Khái quát điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của huyện Đoan Hùng.1 Đặc điểm tự nhiên của huyện Đoan Hùng. - Vị trí địa lý. Huyện Đoan Hùng là một huyện Trung Du miền núi, nằm ở phía Bắc của tỉnh Phú Thọ, là cửa ngõ của bốn tỉnh: Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, cách trung tâm thành phố Việt Trì 56 km về phía Tây Bắc. Phía Bắc giáp với huyện Yên Bình tỉnh Yên Bái, huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang, Phía Nam giáp với huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ, phía Đông giáp với huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên Quang, phía Tây giáp với huyện Thanh Ba, Hạ Hoà, tỉnh Phú Thọ.

Toạ độ địa lý của huyện nằm từ 21031’đến 21043’vĩ độ Bắc,105006’đến 105015’kinh độ Đông. Nằm ở vị trí này huyện Đoan Hùng có thế mạnh lớn về phát triển kinh tế bên cạnh đó việc thông thương đường bộ và đường thuỷ với các tỉnh lân cận rất thuận lợi. - Địa hình Với đặc trưng của vùng chuyển tiếp từ miền Trung Du và miền đồi núi cao, huyện Đoan Hùng có tổng diện tích đất tự nhiên là 30.244,47 ha trong đó diện tích đất gò đồi chiếm phần lớn diện tích. Địa bàn huyện Đoan Hùng nằm trên trục quốc lộ 2 và quốc lộ 70, địa hình phức tạp, đồi núi xen kẽ các cánh đồng lầy thụt.

Huyện có 27 xã và một thị trấn, gồm 14 dân tộc, trong đó dân tộc kinh chiếm phần lớn dân số trong vùng. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Địa hình của huyện khá phức tạp thấp dần từ Bắc xuống Nam, từ Tây sang Đông, độ dốc trung bình 30- 50, có nhiều cánh đồng chua, lầy thụt năm ở các khe độc, có chiều dài từ Tây Bắc xuống Đông Nam là 31 km, Chiều rộng từ Đông sang Tây là 14 km. Sự thay đổi độ cao của các vùng trong huyện thấp dần về phía sông Lô, sông Chảy, cụ thể địa hình được chia làm 3 tiểu vùng. - Tiểu vùng I (tiểu vùng Thượng huyện) diện tích 12.347ha (bao gồm 9 xã: Bằng Luân, Minh Lương, Bằng Doãn, Quế Lâm, Phúc Lai, Đông Khê, Tây Cốc, Ca Đình, Ngọc Quan) chiếm khoảng 41% tổng doanh nghiệp.

Địa hình nơi đây có nhiều đồi núi cao, rừng tự nhiên suy kiệt, chủ yếu là rừng trồng, độ dốc trung bình 12o – 25o với dải gò đồi bát úp mấp mô có độ cao trung bình từ 50m đến 100m tạo nên khoảng giữa là các thung lũng nhỏ hẹp, thích hợp cho trồng rừng sản xuất, cây công nghiệp và cây ăn quả. - Tiểu vùng II (tiểu vùng ven sông Lô, sông Chảy) có diện tích 10.800 ha, bao gồm 13 xã (Chí Đám, Vân Du, Hùng Quan, Nghinh Xuyên, Phương Trung, Phong Phú, Thị trấn Đoan Hùng, Hữu Đô, Phú Thứ, Đại Nghĩa, Hùng Long, Sóc Đăng, Vụ Quan), chiếm 35,7% diện tích tự nhiên, là vùng chuyển tiếp có dạng núi thấp xen kẽ các dải đồng bằng hẹp ven sông Lô, sông Chảy. Đất vùng ven sông nên chủ yếu là đất phù sa cổ và một phần sình lầy, thích hợp cho trồng cây lương thực, rau, màu, cây công nghiệp ngắn ngày, chăn nuôi và cây ăn quả. - Tiểu vùng III (tiểu vùng Hạ huyện) diện tích có 7.097,47 ha, bao gồm 6 xã (Minh Phú, Chân Mộng, Vân Đồn, Tiêu Sơn, Yên Kiện, Minh Tiến), chiếm khoảng 23,5% tổng DTTN, dạng núi thấp, xen kẽ vùng đồi bát úp có nhiều cánh đồng dạng lòng chảo, có độ cao phổ biến từ 25 m đến 50 m, có ưu thế về chăn nuôi, trồng cây công nghiệp dài ngày và cây nguyên liệu giấy cho nhà máy giấy Bãi Bằng.

- Khí hậu – thuỷ văn: 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khí hậu: Đoan Hùng thuộc vùng Trung Du Bắc bộ, chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, chia thành hai mùa rõ rệt: Mùa mưa lượng mưa cao, cường độ mạnh chiếm khoảng 90% lượng mưa cả năm, trời nắng gắt đôi khi có những đợt lốc xoáy cục bộ và mưa đá. Mùa khô ít mưa, có gió mùa Đông Bắc thổi vào, trời rét, nhiệt độ thấp. Đặc biệt trong tháng 11,12 và tháng 1 độ ẩm không khí thấp, nắng hanh kèm theo sương muối làm ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của một số loại cây trồng, gây thiệt hại cho sản xuất. Nhiệt độ: Nhiệt độ không khí trung bình năm là 230C từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, các tháng lạnh nhất trong năm tập trung 58% xảy ra vào tháng 1; 20% - 30% tháng lạnh nhất tập trung vào tháng 12 và 14% tập trung vào tháng 2.

Ẩm độ: Bình quân độ ẩm không khí hàng năm từ 84% - 86%, chênh lệch giữa các tháng không lớn từ (4%– 7%), tháng có độ ẩm cao nhất là tháng 11 và tháng 12. Tổng lượng bốc hơi trung bình năm: là 1.176 mm thấp hơn lƣợng mƣa hàng năm, lớn nhất vào tháng 5 (89 mm) và nhỏ nhất vào tháng 3 (52,7 mm). Lượng mưa: Tổng lượng mưa trung bbình năm là 1644 mm. Lượng mưa của huyện Đoan Hùng phụ thuộc vào điều kiện địa hình và tiếp giáp với các vùng mưa đầu nguồn nên huyện có lượng mưa trung bình cao hơn tỉnh Phú Thọ, song mưa có tính chất cường độ và thời gian không đều.

- Thuỷ văn: Đoan Hùng là huyện có điều kiện thuận lợi trong sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản vì nguồn nước do sông ngòi cung cấp cho rất lớn, tuy vậy vào mùa mưa lũ đời sống nhân dân vùng này gặp phải rất nhiều khó khăn, toàn huyện có hai con sông lớn chảy qua và 28 ngòi bao gồm: Sông Chảy có chiều dài qua huyện khoảng 22 m bắt đầu từ vùng tiếp giáp Yên Bái là Đông Khê, Quế Lâm theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, qua các xã 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Phương Trung, Nghinh Xuyên, Phong Phú, Hùng Quan, Thị trấn Đoan Hùng, Vân Du, Chí Đám và đổ vào sông Lô tại Mom Cầy (Ngọc Chúc – Chí Đám). Sông Lô từ Tuyên Quang chảy vào Đoan Hùng tại Chí Đám, Hữu Đô theo hướng Bắc Nam, chảy qua các xã: Thị trấn Đoan Hùng, Sóc Đăng, Đại Nghĩa, Hùng Long, Vụ Quan, Phú Thứ, chiều dài của sông qua huyện là 24 km. Hai con sông này có lượng phù sa thấp hơn sông Hồng, nước chảy xiết, vào mùa mưa lũ hợp lại gây nên những trận lụt lớn cho vùng, lưu lượng 1.Vì vậy, công tác phòng hộ đê được các cấp chính quyền và nhân dân trong vùng rất coi trọng. Ngòi, với 28 ngòi (ngòi Lạp Xuyên, ngòi Quế Lâm, ngòi Sống, ngòi Ruỗn, ngòi Rằm…., ), cứ bình quân 3,36 km2 lưu vực có 1 km ngòi dài tạo nên cho huyện một hệ thống tưới tiêu phong phú, vừa để tiêu nước khi mưa lũ và đưa nước lên các xã vùng thượng huyện vào mùa khô.

Tóm lại, điều kiện khí hậu, thuỷ văn nói trên cho thấy ngoài gió và ngập úng vùng trũng là yếu tố ảnh hưởng chính đến năng suất, sản lượng và phẩm chất cây trồng, nhìn chung các yếu tố khí tượng đều thích hợp về yêu cầu sinh lý phát triển của nhiều loại cây trồng, đặc biệt là phù hợp với cây ăn quả trong đó có cây bưởi đặc sản phát triển rất mạnh. - Thổ nhưỡng và các đặc điểm đất đai. Theo số liệu điều tra của Viện Nông hoá thổ nhưỡng tháng 12/2002 đất đai trên địa bàn huyện Đoan Hùng gồm có các nhóm đất chính sau: Đất phù sa ven sông: Loại đất này được bồi đắp phù sa hàng năm, độ phì khá, nghèo lân, bị úng ngập thường xuyên, đất chua, phân bố tập trung chủ yếu ở các xã nằm ngoài hoặc ven sông trong đê vùng ven sông Lô, sông Chảy như: Vân Du, Hùng Quan, Sóc Đăng, Phong chung, Chí Đám…đất thích hợp với các loại cây nông nghiệp hàng năm và cây hoa màu hàng năm. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đất vùng trũng: Loại đất này tập trung ở đại hình các vùng trũng, ngập úng quanh năm, nghèo chất dinh dưỡng, đất chua, có hàm lượng mùn cao, dễ tiêu, giây ở mức trung bính đến mạnh, yếm khí, phân bố ở hầu hết các xã tronghuyện như: Đông Khê, Yên Kiện, Vân Đồn, Chí Đám…đất này thích hợp với lúa một vụ chiêm.

Đất tầng mỏng: Loại đất này không được bồi đắp hàng năm, tập trung ở nơi có địa hình trung bình hoặc thấp, tầng đất canh tác mỏng, mức độ giây xảy ra mạnh, hàm lượng mùn ở cấp độ nghèo, phân bố tập trung ở các vùng ven sông Lô, sông Chảy như: Hùng Quan, Vụ Quang, Phú Thứ và rải rác ở một số xã trong huyện thích hợp với các cây hoa màu ngắn ngày như: đậu, đỗ, khoai lang. Đất cát: Loại đất nay do bị rửa trôi, xói mòn nhiều nên độ phì kém, đất nghèo chất dinh dưỡng, bị khô hạn, phân bố tập trung chủ yếu ở xã Chí Đám, thích hợp với các cây hoa màu (đậu, đỗ, khoai lang). Đất xám: Tầng dầy đất 50cm đến 70cm, đất ít kết vón đá ong, đất chua, nghèo lân, phân bố ở các địa hình trung bình và cao ở các xã trong huyện, thích hợp với các cây công nghiệp hàng năm, cây lâm nghiệp lâu năm, cây ăn quả… Đất đỏ: Loại đất này phân bố tập trung ở các xã thuộc tiểu vùng thượng huyện như: Tây Cốc, Bằng Luân, Bằng Doãn, Minh Long và rải rác một số xã vùng kinh tế thượng huyện như Tiêu Sơn, Minh Tiến trên nền độ cao trung bình từ 50m đến 100m, thích hợp với các cây công nghiệp, cây lâu năm. Về số lượng: huyện Đoan Hùng có 6 nhóm đất chính, trong đó có 3 nhóm chiếm diện tích lớn là nhóm đất xám có tỷ trọng lớn nhất chiếm 66,47% tổng diện tích đất tự nhiên, đất phù sa chiếm 13,66%, đất đỏ chiếm 5,2% tổng diện tích đất tự nhiên.

Về chất lượng: Qua các kết quả phân tích các thành phần hoá học trong đất của viện nông hoá thổ nhưỡng, cho thấy đất đai của Đoan Hùng có các 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mức chất lượng trung bình chủ yếu chiếm 38,66% với 11.691,98 ha, còn lại là đất trung bình, khá, đất có chất lượng kém chỉ chiếm 2,78% với 841,107 ha. Về độ dốc chủ yếu trong khoảng 80– 150, chiếm 53,25%. Điều kiện kinh tế - xã hội của huyện Đoan Hùng - Dân số và lao động Huyện có 28 đơn vị hành chính, xã Bằng Luân là xã có diện tích lớn nhất 11,76 km2và nơi tập trung dân cư đông nhất là Chí Đám 8.394 người với mật độ dân số 658 người/km2.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ