Đặt vấn đề Trình bày bối cảnh nghiên cứu; mục tiêu nghiên cứu; câu hỏi nghiên cứu; đối tượng và phạm vi nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu; cấu trúc luận văn. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 - Chương 2 - Tổng quan cơ sở lý thuyết; các nghiên cứu trước Trình bày các khái niệm liên quan đến nội dung nghiên cứu; tổng quan các nghiên cứu trước; đề xuất mô hình nghiên cứu; các mối quan hệ giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc. - Chương 3 - Phương pháp nghiên cứu Trình bày quy trình nghiên cứu; khung phân tích đề xuất; thiết kế bảng câu hỏi; thang đo và phương pháp xử lý số liệu. - Chương 4 - Kết quả nghiên cứu Trình bày thông tin mẫu khảo sát và kết quả sử dụng phần mềm SPSS để kiểm định, đánh giá độ tin cậy của các thang đo qua hệ số Cronbach’s alpha; phân tích hồi quy; sử dụng phương pháp thống kê mô tả để đo lường mức độ, làm rõ thêm hiện trạng của các biến nghiên cứu; và sử dụng các kiểm định bằng T-Test và Anova để phân tích sự khác biệt ảnh hưởng các biến độc lập đến biến phụ thuộc; phân tích trung bình các thang đo.
- Chương 5 - Kết luận và hàm ý chính sách Trình bày tóm tắt về kết quả của nội dung nghiên cứu, các đóng góp của nghiên cứu về học thuật cũng như trong thực tế quản lý công; đề xuất các hàm ý về quản trị công tốt hơn; hạn chế của đề tài nghiên cứu. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Chương 2 TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2. Các khái niệm liên quan 2.1 Khái niệm về lãnh đạo: Lãnh đạo là khái niệm được sử dụng khá phổ biến trong nhiều lĩnh vực ở cả khu vực công lẫn khu vực tư. Theo Hunt và Northouse (2004): “Khái niệm lãnh đạo là một quá trình, là sự ảnh hưởng, xảy ra trong bối cảnh hoặc hoàn cảnh đội nhóm và đạt tới mục tiêu phản ánh tầm nhìn chung”.
Theo Barrow (1977) và Northouse (2004): “Lãnh đạo là một quá trình tâm lý, ở đó một cá nhân có khả năng ảnh hưởng đến nhóm hoặc các cá nhân khác để đạt được mục tiêu chung”. Theo Yulk (2013): “Lãnh đạo là quá trình ảnh hưởng đến người khác để họ có thể hiểu, chấp nhận mục tiêu và cách thức nhằm đạt được mục tiêu đó, đồng thời, lãnh đạo cũng là quá trình hỗ trợ cho các cá nhân và nỗ lực tập thể để đạt được mục tiêu”. Theo Barrow (1977) “Lãnh đạo là một quá trình ảnh hưởng tâm lý, do vậy không chịu ảnh hưởng bởi vị trí của người lãnh đạo trong tổ chức, cá nhân nào có thể gây ảnh hưởng lên những người khác, bất kể vị trí của họ trong tổ chức (người giám sát, quản lý, trưởng đơn vị hay nhân viên) đều có thể đóng vai trò lãnh đạo”. Theo French, Raven và Cartwright (1959) “có năm loại quyền lực có thể ảnh hưởng đến khả năng lãnh đạo của một cá nhân trong tổ chức bao gồm: quyền lực cưỡng chế (dựa trên khả năng buộc người khác phải thực hiện điều mà họ không muốn), quyền lực thưởng (dựa trên khả năng ra phần thưởng), quyền lực chính danh (dựa trên vị trí và vai trò chính thức trong tổ chức), quyền lực tham chiếu (dựa trên sự tin tưởng và ngưỡng mộ của các cá nhân khác) và quyền lực chuyên môn (dựa trên sự sở hữu thông tin và tri thức cần thiết cho tổ chức).
Trong khi quyền lực cưỡng chế, quyền lực thưởng và quyền lực chính danh phần lớn phụ thuộc vào vị trí của cá nhân thì quyền lực tham chiếu và quyền lực chuyên môn phụ thuộc vào các đặc tính của cá nhân hơn là vị trí, do vậy lãnh đạo có thể đến từ các cá nhân trong tổ chức mà không phụ thuộc vào vị trí chính thức của họ”. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Theo Barrow (1977) “Lãnh đạo là một trong những quá trình tạo tác động đến cộng đồng xã hội được nghiên cứu nhiều nhất trong khoa học hành vi do sự thành công từ các lĩnh vực kinh tế và chính trị, các hệ thống tổ chức đều phụ thuộc rất lớn vào tính hiệu quả của phong cách lãnh đạo”. Theo Van Wart (2014) “Lãnh đạo thường rất được quan tâm vì hai nguyên nhân: (i) lãnh đạo có ảnh hưởng quyết định đến sự thành công của cá nhân, tổ chức, vùng, quốc gia, và (ii) mọi người thường bị cuốn hút bởi các cá nhân ở vị trí lãnh đạo”. Van Wart (2014) cho rằng: “Các cá nhân lãnh đạo thường được cho là có khả năng xuất chúng và hấp dẫn người khác, tuy nhiên cần lưu ý rằng lãnh đạo thường hoạt động trong một môi trường có nhiều cơ hội, khủng hoảng và những yếu tố khác có thể tác động, do vậy hiệu quả của lãnh đạo sẽ phụ thuộc vào năng lực của họ để tương thích với các đặc điểm như vị trí của nhà lãnh đạo trong tổ chức, quy mô và đặc điểm của tổ chức, môi trường tổ chức”.
Nói về tác động của yếu tố lãnh đạo, Meindl, Ehrlick và Dukerich (1985) cho rằng: “Trong một số tình huống, tác động của lãnh đạo thậm chí còn kém quan trọng hơn là tác động của các yếu tố bên ngoài như kinh tế, văn hoá tổ chức hoặc sự sẵn có của các nguồn lực”. Khái niệm về phong cách lãnh đạo: Theo Van Wart (2014): “Phong cách lãnh đạo là sự tổng hợp các đặc trưng, kỹ năng và hành vi được nhà lãnh đạo sử dụng”. Có nhiều phong cách lãnh đạo khác nhau được nghiên cứu, mỗi loại phong cách lãnh đạo được phân biệt dựa trên các đặc điểm, kỹ năng và hành vi của nhà lãnh đạo. Nhìn chung các phong cách lãnh đạo theo Bales (1959); Hemphill và Coons (1957) có thể phân loại vào hai nhóm chính: a) Lãnh đạo hướng về nhiệm vụ: tập trung vào việc hoàn thành các nhiệm vụ được giao.
b) Lãnh đạo hướng về quan hệ: tập trung vào việc duy trì mối quan hệ giữa các cá nhân bằng sự quan tâm về tinh thần và vật chất. Bales (1959); Hemphill và Coons (1957) cho rằng: “Các nhà lãnh đạo theo định hướng nhiệm vụ tập trung vào việc tìm ra các giải pháp để đạt được mục tiêu cụ thể mà ít khi chú ý đến việc động viên và phụng sự của nhân viên”. Lợi thế của phong cách lãnh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 đạo hướng về nhiệm vụ là đảm bảo công việc được hoàn thành đúng thời hạn, tuy nhiên, vì các nhà lãnh đạo theo định hướng nhiệm vụ không quan tâm nhiều đến khía cạnh tâm lý và phúc lợi của nhân viên nên phong cách lãnh đạo này có thể gây cản trở trong việc thúc đẩy động lực làm việc của nhân viên”. Bass và Avolio (1994) đã đưa ra ví dụ điển hình về lãnh đạo định hướng nhiệm vụ là lãnh đạo chuyển tác: “trong đó nhà lãnh đạo nhấn mạnh đến sự trao đổi công việc giữa lãnh đạo và nhân viên để hoàn thành nhiệm vụ”.
Tuy nhiên, Bales (1959); Hemphill và Coons (1957) lại chỉ ra rằng: “Trái với phong cách lãnh đạo hướng về nhiệm vụ, các nhà lãnh đạo hướng về quan hệ tập trung vào việc hỗ trợ, động viên và phát triển con người trong đội, nhóm của họ. Các lãnh đạo này hiểu rằng việc xây dựng năng suất đòi hỏi một môi trường động viên tích cực khi mọi người cảm thấy có động lực làm việc với tinh thần và sự cam kết cao. Lợi ích của lãnh đạo hướng về quan hệ là có thể gia tăng động lực làm việc vượt trên nhiệm vụ được giao, thành viên trong nhóm sẵn sàng chấp nhận rủi ro để giúp đỡ nhau vì họ biết rằng người lãnh đạo sẽ hỗ trợ họ khi cần thiết”. Nghiên cứu của Bass và Avolio (1994) chỉ ra rằng: “Trong những thập kỷ gần đây, nhiều nhà nghiên cứu đã dành sự quan tâm đến các lý thuyết về phong cách lãnh đạo hướng về quan hệ, điển hình là lãnh đạo chuyển dạng khi nhà lãnh đạo động viên nhân viên làm việc nhiều hơn và vượt xa hơn những gì họ nghĩ có thể làm được”.
Khái niệm lãnh đạo phụng sự: Greenleaf (1977) lần đầu tiên khái niệm hóa lãnh đạo phụng sự và đưa vào bối cảnh hoạt động của tổ chức từ tác phẩm "Hành trình sang phương Đông" của Hesse (1956). Theo Greenleaf (1977, trang 7) định nghĩa: “không chỉ là một kỹ thuật quản lý mà là một lối sống bắt đầu bằng cảm giác tự nhiên mà nhà lãnh đạo muốn phụng sự”. Ngoài ra, theo Graham (1991); Greenleaf (1977); Parris và Peachey (2013); Sun (2013); Van Dierendonck (2011): “Đặc trưng của phong cách lãnh đạo phụng sự là tập trung vào việc phụng sự người khác”. Theo nghiên cứu của Greenleaf (1970, 1991); Sendjaya (2005): “Các nhà lãnh đạo phụng sự sẽ đặt lợi ích của nhân viên lên trên lợi ích cá nhân họ, nhấn mạnh hành vi tập trung vào sự phát triển và phúc lợi của nhân viên, xem nhẹ việc tôn vinh lãnh đạo”.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Nghiên cứu của Ehrhart (2004); Greenleaf (1970, 1991); Liden, Wayne, Zhao và Henderson (2008) còn chỉ ra rằng: “Các nhà lãnh đạo phụng sự còn vượt ra bên ngoài tổ chức, quan tâm đến lợi ích của cả cộng đồng”. Phong cách lãnh đạo phụng sự còn được thể hiện trong nghiên cứu của Panaccio, Donia, Saint-Michel và Liden (2015): “Lãnh đạo phụng sự là phong cách lãnh đạo có động lực để phục vụ và đặt nhu cầu của người khác (bên ngoài và bên trong tổ chức) lên trên lợi ích riêng của người lãnh đạo”. Khái niệm về động lực phụng sự công: Nói về động lực phụng sự công, có nhiều nhà nghiên cứu đưa ra các khái niệm về động lực phụng sự công như: theo Vandenabeele (2007): “niềm tin, giá trị và tinh thần vượt qua giới hạn lợi ích cá nhân, tổ chức để quan tâm đến lợi ích của thực thể chính trị lớn hơn và thúc đẩy cá nhân hành xử chính đáng khi cần thiết”; theo Perry (1996): “bao hàm các yếu tố gồm cuốn hút vào việc hoạch định chính sách công, cam kết với lợi ích công, tự hy sinh bản thân và lòng trắc ẩn; động lực phụng sự công chính là lực đẩy mạnh mẽ đưa người công chức trong các tổ chức công vượt qua lợi ích cá nhân để phụng sự cộng đồng”; theo Perry và Wise (1990) thì động lực phụng sự công còn là “khuynh hướng của một cá nhân nhằm đáp ứng những động cơ chủ yếu hoặc duy nhất trong tổ chức công”.