Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo phong trào phụ nữ trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954)

Luận văn thạc sĩ USSH phân tích vai trò của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên trong phong trào phụ nữ kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2014

117
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ HƯNG YÊN VÀ TRUYỀN THỐNG CỦA PHỤ NỮ HƯNG YÊN

1.1. Mảnh đất và con người Hưng Yên

1.2. Vị trí địa lý - điều kiện tự nhiên

1.3. Dân cư và các hoạt động kinh tế, xã hội

1.4. Những truyền thống tốt đẹp của phụ nữ Hưng Yên

1.4.1. Lao động cần cù, thông minh, sáng tạo

1.4.2. Đảm đang việc nhà, việc nước góp phần phát triển văn hóa dân tộc

1.4.3. Yêu nước chống ngoại xâm, chống áp bức bóc lột

1.5. Phong trào phụ nữ tỉnh Hưng Yên từ khi có Đảng đến trước cách mạng tháng 8 năm 1945

2. CHƯƠNG 2: CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HƯNG YÊN ĐỐI VỚI PHONG TRÀO PHỤ NỮ TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1945-1950)

2.1. Chủ trương vận động phụ nữ của Trung ương, Liên khu ủy và Tỉnh ủy trong những năm từ 1945 đến 1950

2.2. Sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên

2.2.1. Tham gia phong trào diệt giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm và xây dựng “Đời sống mới”

2.2.2. Đẩy mạnh sản xuất, xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng

2.2.3. Thực hiện nhiệm vụ kháng chiến

3. CHƯƠNG 3: CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HƯNG YÊN ĐỐI VỚI PHONG TRÀO PHỤ NỮ TRONG NHỮNG NĂM CUỐI CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1950-1954)

3.1. Chủ trương vận động phụ nữ của Trung ương, Liên khu ủy, Tỉnh ủy trong những năm từ 1950 đến 1954

3.2. Các hoạt động kháng chiến nổi bật của phong trào phụ nữ Hưng Yên dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh (1950-7/1954)

3.2.1. Tham gia xây dựng làng kháng chiến, phá tề trừ gian, chống địch càn quét, bảo vệ khu du kích, căn cứ du kích trong vùng địch hậu

3.2.2. Chăm sóc, bảo vệ bộ đội, du kích và nhân dân

3.2.3. Tham gia công tác giao thông liên lạc

3.2.4. Đẩy mạnh công tác binh vận

3.2.5. Tổ chức, phát triển đội nữ du kích

4. CHƯƠNG 4: MỘT VÀI NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM TỔ CHỨC, LÃNH ĐẠO PHONG TRÀO PHỤ NỮ CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HƯNG YÊN TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP

4.1. Một vài nhận xét

4.2. Một số kinh nghiệm tổ chức, lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đối với phong trào phụ nữ tỉnh trong kháng chiến chống thực dân Pháp

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về lãnh đạo phong trào phụ nữ Hưng Yên trong kháng chiến

Phong trào phụ nữ Hưng Yên trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) là một phần quan trọng trong lịch sử đấu tranh của dân tộc. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phụ nữ Hưng Yên đã thể hiện vai trò tích cực trong các hoạt động kháng chiến, từ việc tham gia sản xuất đến việc bảo vệ quê hương. Sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đã tạo điều kiện thuận lợi cho phong trào này phát triển mạnh mẽ.

1.1. Vai trò của phụ nữ Hưng Yên trong kháng chiến

Phụ nữ Hưng Yên đã đóng góp không nhỏ vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Họ tham gia vào các hoạt động như vận động gia đình, động viên chồng con tòng quân, và tham gia trực tiếp vào các phong trào kháng chiến. Sự tham gia này không chỉ thể hiện tinh thần yêu nước mà còn khẳng định vị trí của phụ nữ trong xã hội.

1.2. Lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên

Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đã có những chủ trương, chính sách rõ ràng nhằm phát huy vai trò của phụ nữ trong kháng chiến. Các chỉ thị, nghị quyết của Đảng đã tạo ra một khung pháp lý và động lực cho phụ nữ tham gia vào các hoạt động kháng chiến, từ đó nâng cao vị thế của họ trong xã hội.

II. Thách thức đối với phong trào phụ nữ Hưng Yên trong kháng chiến

Trong bối cảnh kháng chiến chống thực dân Pháp, phong trào phụ nữ Hưng Yên phải đối mặt với nhiều thách thức. Những khó khăn về kinh tế, xã hội và sự đàn áp của kẻ thù đã ảnh hưởng đến hoạt động của phong trào. Tuy nhiên, với tinh thần kiên cường, phụ nữ Hưng Yên đã vượt qua những khó khăn này.

2.1. Khó khăn về kinh tế và xã hội

Kinh tế Hưng Yên trong thời kỳ này gặp nhiều khó khăn do chiến tranh. Nhiều gia đình mất đi nguồn thu nhập chính, phụ nữ phải gánh vác cả việc nhà và việc xã hội. Điều này đã tạo ra áp lực lớn lên phụ nữ, nhưng cũng là động lực để họ đoàn kết và hỗ trợ lẫn nhau.

2.2. Sự đàn áp của thực dân Pháp

Thực dân Pháp đã thực hiện nhiều biện pháp đàn áp nhằm ngăn chặn phong trào kháng chiến. Tuy nhiên, phụ nữ Hưng Yên đã không ngại khó khăn, tiếp tục tham gia vào các hoạt động kháng chiến, thể hiện tinh thần bất khuất và kiên cường.

III. Phương pháp lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên

Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đã áp dụng nhiều phương pháp lãnh đạo hiệu quả để phát huy phong trào phụ nữ trong kháng chiến. Các phương pháp này không chỉ giúp tổ chức các hoạt động kháng chiến mà còn tạo ra sự gắn kết giữa phụ nữ với các tổ chức chính trị xã hội.

3.1. Tổ chức các phong trào vận động

Đảng bộ đã tổ chức nhiều phong trào vận động phụ nữ tham gia kháng chiến, từ việc sản xuất đến bảo vệ quê hương. Những phong trào này đã thu hút đông đảo phụ nữ tham gia, tạo ra sức mạnh tổng hợp cho cuộc kháng chiến.

3.2. Đào tạo và bồi dưỡng cán bộ nữ

Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đã chú trọng đến việc đào tạo và bồi dưỡng cán bộ nữ, giúp họ có đủ năng lực và kiến thức để tham gia vào các hoạt động lãnh đạo. Điều này không chỉ nâng cao vị thế của phụ nữ mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của phong trào.

IV. Kết quả và thành tựu của phong trào phụ nữ Hưng Yên

Phong trào phụ nữ Hưng Yên trong kháng chiến chống thực dân Pháp đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Những đóng góp của phụ nữ không chỉ giúp củng cố lực lượng kháng chiến mà còn tạo ra những thay đổi tích cực trong xã hội.

4.1. Đóng góp vào chiến thắng Điện Biên Phủ

Phụ nữ Hưng Yên đã có những đóng góp quan trọng vào chiến thắng Điện Biên Phủ, một trong những mốc son lịch sử của dân tộc. Họ đã tham gia vào các hoạt động hậu cần, sản xuất và động viên tinh thần cho bộ đội.

4.2. Thay đổi nhận thức về vai trò của phụ nữ

Phong trào phụ nữ trong kháng chiến đã góp phần thay đổi nhận thức của xã hội về vai trò của phụ nữ. Họ không chỉ là người nội trợ mà còn là những chiến sĩ, những người lãnh đạo trong các phong trào kháng chiến.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của phong trào phụ nữ Hưng Yên

Kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, phong trào phụ nữ Hưng Yên đã để lại nhiều bài học quý giá cho các thế hệ sau. Những kinh nghiệm từ phong trào này vẫn còn nguyên giá trị trong việc phát triển phong trào phụ nữ hiện nay.

5.1. Bài học từ phong trào phụ nữ Hưng Yên

Phong trào phụ nữ Hưng Yên trong kháng chiến đã để lại nhiều bài học quý giá về sự đoàn kết, tinh thần kiên cường và khả năng lãnh đạo. Những bài học này cần được phát huy trong các phong trào hiện nay.

5.2. Triển vọng phát triển phong trào phụ nữ hiện nay

Phong trào phụ nữ Hưng Yên hiện nay cần tiếp tục phát triển, không chỉ trong lĩnh vực kháng chiến mà còn trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội. Việc phát huy vai trò của phụ nữ trong mọi lĩnh vực sẽ góp phần vào sự phát triển bền vững của tỉnh Hưng Yên.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh đảng bộ tỉnh hưng yên lãnh đạo phong trào phụ nữ trong kháng chiến chống thực dân pháp 1945 1954

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Khái quát về Hưng Yên và truyền thống của phụ nữ Hưng Yên Chương 2: Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo phong trào phụ nữ trong những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1950) Chương 3: Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo phong trào phụ nữ trong những năm cuối kháng chiến chống thực dân Pháp (1950-1954) Chương 4: Một vài nhận xét và kinh nghiệm tổ chức, lãnh đạo phong trào phụ nữ của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên trong kháng chiến chống thực dân Pháp 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com NỘI DUNG Chƣơng 1: KHÁI QUÁT VỀ HƢNG YÊN VÀ TRUYỀN THỐNG CỦA PHỤ NỮ HƢNG YÊN 1.1 Mảnh đất và con ngƣời Hƣng Yên 1.1 Vị trí địa lý - điều kiện tự nhiên Hưng Yên là một tỉnh nằm ở tả ngạn sông Hồng, thuộc châu thổ đồng bằng Bắc Bộ, có diện tích 935,5 km2. Phía đông giáp tỉnh Hải Dương; phía nam giáp tỉnh Thái Bình, ranh giới là sông Luộc; phía tây nam giáp tỉnh Hà Nam ranh giới là sông Hồng; phía bắc giáp tỉnh Bắc Ninh; phía tây và tây bắc cận kề với thủ đô Hà Nội, ranh giới phần lớn là sông Hồng [82, tr. Tỉnh Hưng Yên xưa thuộc Thừa tuyên Sơn Nam (đến năm Cảnh Hưng thứ 2 (1741) chia thành Sơn Nam Thượng và Sơn Nam Hạ). Đến thời nhà Nguyễn năm Minh Mệnh thứ 3 (1822), Sơn Nam Thượng được đổi thành trấn Sơn Nam còn Sơn Nam Hạ gọi là trấn Nam Định.

Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831), tỉnh Hưng Yên được thành lập gồm các huyện Đông Yên, Kim Động, Thiên Thi, Tiên Lữ, Phù Dung của trấn Sơn Nam và Thần Khê, Hưng Nhân, Duyên Hà của trấn Nam Định [3, tr. Thời Pháp thuộc, Hưng Yên gồm hai phủ (Khoái Châu, Ân Thi) và 6 huyện: Văn Lâm, Mỹ Hào, Yên Mỹ, Kim Động, Tiên Lữ và Phù Cừ [82, tr. Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, Hưng Yên vẫn là đơn vị hành chính cấp tỉnh trực thuộc Ủy ban hành chính Bắc Bộ. Năm 1947, huyện Văn Giang thuộc tỉnh Bắc Ninh được nhập vào tỉnh Hưng Yên.

Năm 1968, Hưng Yên hợp nhất với tỉnh Hải Dương thành tỉnh Hải Hưng. Sau 30 năm hợp nhất, năm 1997 Hưng Yên và Hải Dương lại được tái lập. Hiện nay Hưng Yên bao gồm một thành phố và 9 huyện: Ân Thi, Khoái Châu, Kim Động, Mỹ Hào, Phù Cừ, Tiên Lữ, Văn Giang, Văn Lâm, Yên Mỹ; với 9 trị trấn và 145 xã. Dân số toàn tỉnh tính đến tháng 12-2012 có 1.

Vị trí địa lý đã tạo cho Hưng Yên rất nhiều thuận lợi trong sự giao lưu buôn bán, trao đổi văn hóa. Song chính vị trí đó lại luôn thúc đẩy quân xâm lược muốn sớm chiếm lấy để làm bàn đạp tấn công chiếm đóng các vùng đất xung quanh. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hưng Yên có địa hình tương đối đơn điệu - là một tỉnh trong số ít tỉnh thành ở miền Bắc không có núi, rừng, biển. Địa hình nghiêng từ tây bắc xuống đông nam và không thật bằng phẳng.

Độ dốc trung bình là 8cm/1km. Phía bắc tỉnh là loại địa hình cao, có hình vòng cung đi từ đông bắc sang tây bắc rồi men theo phía tây dọc xuống sông Hồng, bao quanh các huyện Văn Lâm, Văn Giang, Khoái Châu. Đây là vùng đất trong đê có độ cao từ 4-6m. Liền kề với vùng đất cao là vùng đất thấp hơn, độ cao trung bình khoảng 3m, phổ biến ở các huyện Ân Thi, Yên Mỹ, Mỹ Hào, Kim Động, Tiên Lữ và Phù Cừ.

Nhiều nơi độ cao chỉ còn 2m và dưới 2m như ở thị xã Hưng Yên… Địa hình cao thấp không đều có ảnh hưởng rõ rệt đến việc canh tác nông nghiệp của nhân dân trong tỉnh. Trước kia thường xuyên xảy ra hạn hán ở những vùng cao và ngập úng ở những vùng thấp, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống của nhân dân, đòi hỏi nhân dân trong vùng phải cần cù trong lao động và đoàn kết cùng nhau khắc phục khó khăn trước mưa, bão, lũ lụt… Nằm ở vị trí trung tâm của đồng bằng sông Hồng nên khí hậu ở Hưng Yên mang những nét chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa của đồng bằng Bắc Bộ, nóng ẩm, mưa nhiều. Một năm có bốn mùa rõ rệt: xuân, hạ, thu, đông. Nhiệt độ trung bình 23o C /năm.

Lượng mưa hàng năm đạt từ 1800-2200 mm. Số giờ nắng bình quân 1730 giờ/năm. Độ ẩm không khí đạt 80-90% [3, tr. Điều kiện khí hậu kể trên đã mang đến nhiều thuận lợi cho việc trồng trọt và chăn nuôi, song nó cũng mang đến không ít khó khăn cần sự khắc phục như: độ ẩm không khí cao cộng với mưa nhiều khiến cho sâu bệnh phá hoại mùa màng phát triển, dịch bệnh nhiều… Thêm vào đó, từ tháng 7 đến tháng 9 hàng năm trên địa bàn thường có gió bão, có năm có mưa đá, gió lốc… gây thiệt hại lớn đến mùa màng và sinh hoạt của người dân.

Hưng Yên là một tỉnh đồng bằng tuy không có núi, có biển nhưng lại có hệ thống sông ngòi dày đặc với nhiều con sông lớn như: sông Hồng, sông Luộc, sông Kẻ Sặt… Sông Hồng là con sông lớn nhất miền Bắc, đoạn chảy qua Hưng Yên theo hướng tây tây bắc - nam đông nam có chiều dài 67 km. Có trữ lượng phù sa dồi dào 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và chính vùng đất Hưng Yên hiện nay là do phù sa của dòng sông này bồi tụ nên. Về đến Hưng Yên, dòng sông Hồng quanh co uốn khúc tạo nên những bãi bồi rộng ở Phú Cường, Hùng Cường (Kim Động). Sông Hồng mang lại nguồn nước và nguồn phù sa cho đồng ruộng Hưng Yên và là ranh giới tự nhiên giữa Hưng Yên với Hà Nội và Hà Nam; là con đường thủy quan trọng nối liền Hưng Yên với các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ và Khu 4, nối liền Hưng Yên với Hà Nội và các tỉnh Việt Bắc, Tây Bắc.

Sông Luộc là một nhánh của sông Hồng, nằm gần như vuông góc với sông Hồng ở phía nam của tỉnh Hưng Yên, tạo thành ranh giới với tỉnh Thái Bình. Sông Luộc dài 70 km, rộng trung bình 200m, đoạn chảy qua địa bàn tỉnh Hưng Yên dài 26km. Theo sông Luộc, từ Hưng Yên có thể đến Ninh Giang và từ sông Luộc qua các hệ thống sông khác có thể đến Hải Dương và Hải Phòng. Sông Kẻ Sặt chảy ở phía đông bắc của tỉnh, làm nên ranh giới tự nhiên giữa Hưng Yên và Hải Dương.

Đoạn sông chảy qua Hưng Yên dài 20km, từ Thịnh Vạn (Mỹ Hào) đến Tổng Hóa (Phù Cừ). Nó dẫn và tiêu nước khi nhận từ sông Thái Bình (phía nam thành phố Hải Dương) và xuôi chiều tiêu thủy ra sông Luộc. Dựa vào điều kiện tự nhiên thuận lợi này, người dân Hưng Yên đã sớm xây dựng hệ thống thủy lợi để điều tiết nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp. Ngoài hệ thống sông tự nhiên, Hưng Yên còn có nhiều sông đào nhằm phục vụ yêu cầu của sản xuất nông nghiệp như: sông Bác Hồ (Tiên Lữ)… những con sông đào cùng với hệ thống sông ngòi trước đó đã tạo thành hệ thống thủy nông Bắc - Hưng - Hải.

Do có nhiều sông ngòi, đặc biệt là sự đổi dòng liên tục của sông Hồng cùng với mưa lớn kéo dài đã tạo nên những trận lũ lụt lớn. Lịch sử từng ghi: Từ năm 1806-1898,trong vòng 92 năm, ở Hưng Yên đã có 39 lần vỡ đê1. Nhân dân hết sức khổ cực. Nỗi thống khổ của nhân dân Hưng Yên được thể hiện trong bài vè về “Cái thời Tự Đức”: 1 Đê Văn Giang vỡ 18 năm liền, đê Cửu Yên vỡ 6 năm liền… 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Văn Giang và Tiên Lữ Lụt lội mấy năm liền Mênh mông trắng lặng khắp miền Giun tròn làm tổ bên trên ngọn cành Vụ mùa không một nhành lúa mới Thóc để dành ếch, giải nuốt trôi… [3, tr.

Từ năm 1905 đến năm 1945, đê sông Hồng vỡ 10 lần, trong đó trận lụt lớn xảy ra vào năm 1915 đã tàn phá nặng nề Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh2. Để bảo vệ nhà cửa, mùa màng, từ đời này sang đời khác nhân dân trong tỉnh liên tục đắp đê chống lụt tạo nên những con đê: Đê sông Hồng, đê Khoá Châu, đê Văn Giang… những “vạn lý trường thành” ngăn lũ. Tóm lại, vị trí địa lý - điều kiện tự nhiên của Hưng Yên đã mang đến cho tỉnh nhiều thuận lợi song có cũng không ít khó khăn đe dọa nghiêm trọng đến đời sống và sản xuất của nhân dân. Để ổn định và nâng cao chất lượng cuộc sống, phát triển sản xuất đòi hỏi chính những con người sinh sống trong vùng không phân biệt nam nữ phải cần cù trong lao động, đoàn kết trong sản xuất và chiến đấu, chung sức chung lòng khắc phục mọi khó khăn, vươn lên trong mọi hoàn cảnh.2 Dân cư và các hoạt động kinh tế, xã hội Trên địa bàn tỉnh Hưng Yên từ thời các vua Hùng dựng nước đã có con người sinh sống.

Qua các di tích mộ quách khai quật được tại Nội Mạc (xã An Viên - huyện Tiên Lữ); mộ thuyền tại Đống Lương (huyện Kim Động); trống đồng tại Cửu Cao (huyện Văn Giang)… cùng với thiên tình sử Chử Đồng Tử - Tiên Dung (thời vua Hùng thứ mười tám) trên mảnh đất Khoái Châu… đã minh chứng cho sự cư trú lâu đời của con người nơi đây. Nằm ở trung tâm đồng bằng sông Hồng nên khi các vương triều phong kiến thực hiện chính sách trọng nông thì vùng đất Hưng Yên luôn được quan tâm khai thác. Thời nhà Trần, các vương hầu được phép chiêu mộ dân phiêu tán đến khai hoang, lập ấp, dựng điền trang dọc theo sông Hồng. Nhà Trần còn cho đắp đê Quai 2 Báo Đông Pháp, số tháng 9-1915.

15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Vạc dọc sông Hồng và cho đào đắp nhiều kênh mương dẫn nước để tiêu úng, chống hạn. Thời Lê sơ, đã lập ra đội ngũ hà đê chánh, phó sứ trông coi đê điều và thủy lợi… Nhờ chính sách trọng nông của các triều đại phong kiến mà nền sản xuất nông nghiệp Việt Nam nói chung, ở Hưng Yên nói riêng rất phát triển. Hưng Yên trở thành một trong những vựa lúa lớn của đồng bằng Bắc Bộ. Để làm nên những vụ mùa bội thu, người phụ nữ Hưng Yên giữ vai trò rất quan trọng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ