Luận văn thạc sĩ về lãnh đạo phát triển giáo dục mầm non tỉnh Tuyên Quang từ năm 1991 đến năm 2010

Luận văn thạc sĩ giáo dục phân tích ussh đảng bộ tỉnh tuyên quang lãnh đạo phát triển giáo dục mầm non từ năm 1991 đến năm 2010, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

106
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận văn

0.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

0.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

0.6. Đóng góp của luận văn

0.7. Bố cục của luận văn

1. CHƯƠNG 1: CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH TUYÊN QUANG ĐỐI VỚI GIÁO DỤC MẦM NON GIAI ĐOẠN 1991 - 2000

1.1. Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh và chủ trƣơng của Đảng bộ

1.1.1. Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh

1.1.2. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội

1.2. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang

1.3. Chỉ đạo thực hiện

1.4. Tổ chức hoạt động dạy và học

1.5. Xây dựng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý

1.6. Phát triển quy mô, mạng lưới trường lớp, xây dựng cơ sở vật chất

1.7. Thực hiện xã hội hóa và công bằng trong giáo dục

1.8. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH TUYÊN QUANG ĐỐI VỚI GIÁO DỤC MẦM NON TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010

2.1. Đặc điểm tình hình và chủ trƣơng của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang

2.2. Chủ trương về phát triển giáo dục mầm non của Đảng

2.3. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang

2.4. Chỉ đạo thực hiện

2.5. Tổ chức hoạt động dạy và học

2.6. Xây dựng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý

2.7. Phát triển quy mô, mạng lưới trường lớp và xây dựng cơ sở vật chất

2.8. Thực hiện xã hội hóa và công bằng giáo dục

2.9. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM

3.1. Một số kinh nghiệm

3.2. Quán triệt, vận dụng chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển giáo dục mầm non phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương

3.3. Tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của giáo dục mầm non cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân

3.4. Chú trọng công tác đào tạo bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục

3.5. Tiểu kết chương 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về lãnh đạo phát triển giáo dục mầm non tỉnh Tuyên Quang 1991 2010

Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách và phát triển trí tuệ của trẻ em. Từ năm 1991 đến 2010, tỉnh Tuyên Quang đã có những bước tiến đáng kể trong việc phát triển giáo dục mầm non dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh. Sự phát triển này không chỉ thể hiện qua việc mở rộng quy mô trường lớp mà còn qua việc nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý. Những chính sách và chủ trương của Đảng bộ tỉnh đã góp phần tạo ra những thay đổi tích cực trong lĩnh vực giáo dục mầm non.

1.1. Tầm quan trọng của giáo dục mầm non trong phát triển xã hội

Giáo dục mầm non không chỉ là nền tảng cho sự phát triển của trẻ em mà còn là yếu tố quyết định cho sự phát triển bền vững của xã hội. Trong bối cảnh tỉnh Tuyên Quang, nơi có nhiều khó khăn về kinh tế và xã hội, việc đầu tư vào giáo dục mầm non là cần thiết để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong tương lai.

1.2. Lịch sử phát triển giáo dục mầm non tại Tuyên Quang

Từ năm 1991, tỉnh Tuyên Quang đã bắt đầu triển khai nhiều chính sách nhằm phát triển giáo dục mầm non. Những năm đầu, tỉnh gặp nhiều khó khăn về cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên. Tuy nhiên, nhờ sự chỉ đạo quyết liệt của Đảng bộ tỉnh, nhiều trường mầm non đã được xây dựng và đưa vào hoạt động, góp phần nâng cao tỷ lệ trẻ em được đến trường.

II. Những thách thức trong lãnh đạo phát triển giáo dục mầm non tỉnh Tuyên Quang

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu, nhưng quá trình phát triển giáo dục mầm non tại Tuyên Quang vẫn gặp phải không ít thách thức. Các vấn đề như thiếu hụt đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất chưa đáp ứng đủ nhu cầu, và sự chênh lệch về chất lượng giáo dục giữa các vùng miền là những khó khăn lớn cần được giải quyết.

2.1. Thiếu hụt đội ngũ giáo viên mầm non

Đội ngũ giáo viên mầm non tại Tuyên Quang còn thiếu về số lượng và chưa đồng đều về chất lượng. Việc đào tạo và bồi dưỡng giáo viên chưa được chú trọng đúng mức, dẫn đến tình trạng giáo viên không đủ năng lực để đáp ứng yêu cầu giảng dạy.

2.2. Cơ sở vật chất và trang thiết bị giáo dục còn hạn chế

Nhiều trường mầm non tại Tuyên Quang vẫn còn thiếu thốn về cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giáo dục và sự phát triển toàn diện của trẻ em.

III. Phương pháp lãnh đạo phát triển giáo dục mầm non hiệu quả tại Tuyên Quang

Để khắc phục những thách thức, Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang đã áp dụng nhiều phương pháp lãnh đạo hiệu quả trong việc phát triển giáo dục mầm non. Các chính sách được xây dựng dựa trên thực tiễn địa phương, kết hợp với sự tham gia của cộng đồng và các tổ chức xã hội.

3.1. Tăng cường công tác đào tạo và bồi dưỡng giáo viên

Đảng bộ tỉnh đã chú trọng đến việc đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên mầm non thông qua các chương trình tập huấn, hội thảo và các khóa học chuyên môn. Điều này giúp nâng cao năng lực giảng dạy và quản lý giáo dục.

3.2. Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục mầm non

Xã hội hóa giáo dục là một trong những giải pháp quan trọng để huy động nguồn lực cho phát triển giáo dục mầm non. Tỉnh đã khuyến khích sự tham gia của các tổ chức, cá nhân trong việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và hỗ trợ giáo dục.

IV. Kết quả đạt được từ sự lãnh đạo phát triển giáo dục mầm non

Sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang đã mang lại nhiều kết quả tích cực trong phát triển giáo dục mầm non. Tỷ lệ trẻ em đến trường tăng lên, chất lượng giáo dục được cải thiện, và đội ngũ giáo viên ngày càng được nâng cao về trình độ chuyên môn.

4.1. Tăng tỷ lệ trẻ em ra lớp

Nhờ vào các chính sách phát triển giáo dục mầm non, tỷ lệ trẻ em ra lớp tại Tuyên Quang đã tăng đáng kể. Điều này cho thấy sự quan tâm của xã hội đối với giáo dục mầm non và sự nỗ lực của các cấp lãnh đạo.

4.2. Cải thiện chất lượng giáo dục mầm non

Chất lượng giáo dục mầm non tại Tuyên Quang đã có những bước tiến rõ rệt. Các chương trình giáo dục được cập nhật và đổi mới, giúp trẻ em phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ và nhân cách.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho giáo dục mầm non tỉnh Tuyên Quang

Từ những thành tựu và thách thức đã trải qua, giáo dục mầm non tại Tuyên Quang cần tiếp tục được đầu tư và phát triển. Đảng bộ tỉnh cần có những chính sách phù hợp để nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội.

5.1. Định hướng phát triển giáo dục mầm non trong tương lai

Trong tương lai, tỉnh Tuyên Quang cần tiếp tục đẩy mạnh các chương trình phát triển giáo dục mầm non, chú trọng đến việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cơ sở vật chất.

5.2. Tăng cường hợp tác quốc tế trong giáo dục mầm non

Hợp tác quốc tế trong giáo dục mầm non sẽ giúp Tuyên Quang tiếp cận các mô hình giáo dục tiên tiến, từ đó áp dụng vào thực tiễn địa phương, nâng cao chất lượng giáo dục.

22/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo và Phục lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương: Chƣơng 1: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang đối với giáo dục mầm non giai đoạn 1991 – 2000. Chƣơng 2: Sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang đối với giáo dục mầm non giai đoạn 2001 – 2010. Chƣơng 3: Nhận xét và kinh nghiệm. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH TUYÊN QUANG ĐỐI VỚI GIÁO DỤC MẦM NON GIAI ĐOẠN 1991 - 2000 1.

Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh và chủ trƣơng của Đảng bộ 1.1 Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh 1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội Là một tỉnh thuộc vùng đông bắc, Tuyên Quang có toạ độ địa lý từ 21030' đến 22041' vĩ độ bắc từ 104050' đến 105035' kinh độ đông. Phía bắc và tây bắc, Tuyên Quang giáp Hà Giang với một số dãy núi cao, phía đông và đông bắc giáp Thái Nguyên, Bắc Kạn và Cao Bằng, phía tây giáp Yên Bái, phái nam giáp Phú Thọ, Vĩnh Phúc. Diện tích tự nhiên của tỉnh là 5820,02 km2 (chiếm 1,76% diện tích cả nước) với dân số 685,792 người (chiến 0,88 dân số cả nước)[6; tr.

265] Về mặt vị trí địa lý, Tuyên Quang có những thuận lợi và khó khăn nhất định trong việc phát triển kinh tế - xã hội. Nhờ có quốc lộ 2, tuyến giao thông huyết mạch chậy trên địa bàn của tỉnh dài khoảng 90 km, Tuyên Quang có thể giao lưu với Hà Giang, xa hơn nữa với các tỉnh miền núi biên giới ở phía bắc, và giao lưu với một số tỉnh thuộc trung du và đồng bằng sông hồng ở phía nam. Khoảng cách giữa thủ đô Hà Nội với thị xã Tuyên Quang là 165km. Theo chiều Đông - Tây, Tuyên Quang cũng có điều kiện trao đổi kinh tế vơí một số tỉnh thuộc vùng núi bắc bộ, trước hết là với Yên Bái, Thái Nguyên, Bắc Kạn… Ngoài ra, thông qua đường sông, chủ yếu là sông Lô, việc giao lưu có thể diễn ra trong nội tỉnh và với các tỉnh khác ở mức độ nhất định.

Tuy nhiên, vị trí địa lí cũng tạo ra những khó khăn đáng kể. Đây là một tỉnh miền núi, lại nằm sâu trong nội địa, hơn nữa, nền kinh tế nhìn chung còn chậm phát triển, kết cấu hạ tầng lại thấp kém; việc giao lưu trao đổi hàng hoá 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com với các tỉnh chủ yếu trông cậy vào đường ô tô và một phần đường sông. Tuyên Quang chưa có đường sắt, đường hàng không… Do ở sâu trong nội địa, xa các cảng, cửa khẩu và các trung tâm kinh tế lớn của cả nước nên việc trao đổi hàng hoá, liên kết kinh tế với các tỉnh khác còn gặp nhiều hạn chế. Địa hình của Tuyên Quang với hơn 73% diện tích là đồi núi, phân bố khá phức tạp bị chia cắt bởi các dãy núi cao và sông suối đặc biệt ở phía Bắc, ở phía Nam tỉnh, địa hình thấp dần ít bị chia cắt hơn, có nhiều đồi núi và thung lũng chạy dọc theo các sông.

Phần lớn địa hình có hướng nghiêng từ Bắc - Tây bắc xuống Nam - Đông nam. Các dãy núi chính cũng chạy theo hướng này và có cấu trúc vòng cung rõ rệt, nhưng không kéo dài liên tục, mà bị chia cát thành những khối rời rạc (cánh cung sông Gâm) Tuyên Quang được chia làm 3 vùng sau đây: Vùng phía bắc bao gồm các huyện Hàm Yên, Chiêm Hoá, Na Hang và phần bắc huyện Yên Sơn với diện tích 377,14 km2 (chiếm 64,89% tổng diện tích cả tỉnh). Độ cao phổ biến là 200 - 600m và thấp dần từ bắc xuống nam. Trên nền độ cao này nổi lên một số ngọn núi cao trên 1000m như Chạm Chu 1587m (đỉnh cao nhất tỉnh, ở phía bắc huyện Hàm Yên), Pia Phơưng, Ta Pao, Kia Tăng (phía bắc huyện Na Hang).

Độ dốc trung bình khoảng 25% ở phía bắc và 20 - 25o ở phía nam. Ở phía bắc huyện Na Hang và rải rác tại một số xã của các huyện Chiêm Hoá, Hàm Yên có núi đá vôi và hiện tượng thiếu nước tương đối phổ biến. Nhìn chung, địa hình vùng này bị chia cắt mạnh - đây là vùng hiểm trở, việc đi lại khó khăn hơn so với các vùng khác. Nhiều khu rừng nguyên sinh vẫn còn tồn tại ở Na Hang, Hàm Yên.

Xen kẽ đồi núi là các thung lũng to nhỏ, rộng hẹp khác nhau, có thể canh tác được. Vùng trung tâm gồm thị xã Tuyên Quang, phía nam huyện Yên Sơn và phía bắc huyện Sơn Dương, có diện tích 1252,04 km2 (21,51% diện tích toàn tỉnh). Độ cao trung bình dưới 500m và giảm dần từ bắc xuống nam với một số 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngọn núi nhô cao như núi Là (958m), núi Nghiêm (553m). Tuy nhiên, ở một số nơi địa hình chỉ còn cao 23 - 24m, ở những nơi thấp (thị xã Tuyên Quang, phía nam huyện Yên Sơn, Sơn Dương), hàng năm vào mùa lũ thường bị ngập lụt [6; tr.

Vùng phía nam gồm phần lớn huyện Sơn Dương với diện tích 790,84 km2 (13,6% diện tích toàn tỉnh). Địa hình của vùng gồm đồi bát úp kiểu trung du, những cánh đồng rộng, bằng phẳng, đôi chỗ có dạng lòng chảo. Vùng này, nhìn chung giàu tiềm năng, nhất là về khoáng sản (thiếc, kẽm, angtimoan, vofram), giao thông thuận tiện, đất đai bằng phẳng thích hợp với việc trồng cây lương thực, cây công nghiệp, chăn nuôi gia súc, gia cầm và nuôi trồng thuỷ sản. Tuyên Quang nằm ở khu vực có khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa với mùa đông lạnh, khô hạn và mùa hạ nóng ẩm, mưa nhiều.Tổng lượng bức xạ trung bình năm là 80 - 85 kcal/cm2, lượng nhiệt trung bình năm là 8000 - 8500oC.

Nhiệt độ trung bình năm ở Tuyên Quang là 22-24oC. Thời kì nóng nhất thường diễn ra vào tháng VI và tháng VII, cá biệt có ngày lên tới 39 - 40oC. Thời kì lạnh nhất thường là các tháng XII, I. Nhiệt độ thấp nhất xuống dưới 5oC.

Chế độ nhiệt có sự phân hoá. Nhiệt độ trung bình của thị xã Tuyên Quang luôn cao hơn các huyện Hàm Yên, Chiêm Hoá từ 0,20 – 0,40C [6; tr. Tuy nhiên, các tai biến thiên nhiên như sương muối, mưa đá, lốc, bão…đã có ảnh hưởng nhiều đến đời sống và sản xuất của nhân dân trong tỉnh, đặc biệt là đối với nông, lâm nghiệp. Tỉnh có 6 huyện và thành phố thuộc tỉnh.

Toàn tỉnh có 129 xã, 7 phường và 5 thị trấn. Trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội và đô thị hoá, số đơn vị hành chính có thể thay đổi và theo đó số lượng cơ sở giáo dục cũng sẽ biến động theo xu hướng tăng lên để phù hợp với quy mô dân số và đặc điểm tổ chức xã hội trên địa bàn. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tuyên Quang là tỉnh miền núi có nền kinh tế với điểm xuất phát thấp, sản xuất nông, lâm nghiệp chiếm ưu thế. Nền sản xuất hàng hoá đang trong quá trình hình thành.

Trước đổi mới, Tuyên Quang là một bộ phận của tỉnh Hà Tuyên với nền kinh tế phát triển chậm, lạc hậu. Trong thời kì 1986 - 1990, thời kì đan xen giữa hai cơ chế, nền kinh tế của Hà Tuyên nói chung và Tuyên Quang nói riêng còn trong quá trình thích nghi, tiếp cận với cơ chế mới. Từ năm 1991 trở lại đây, nền kinh tế của tỉnh đang dần dần đi vào thế ổn định, từng bước tăng trưởng gắn liền với cơ chế thị trường. Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế của Tuyên Quang còn đứng trước hàng loạt khó khăn: xuất phát điểm thấp, nền kinh tế còn dựa chủ yếu vào nông nghiệp lạc hậu, chuyển dịch kinh tế còn chậm, khả năng mở cửa hạn chế, chi lớn hơn thu, dân trí thấp, lực lượng lao động có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ ít… Để tránh tụt hậu, Tuyên Quang cần khai thác hợp lý, có hiệu quả toàn bộ nội lực với sự hỗ trợ về vốn, công nghệ… từ trung ương, thu hút đầu tư nước ngoài và liên kết với các tỉnh khác để tạo nên những bước đột phá trong tương lai.

Tuyên Quang là tỉnh có nhiều dân tộc ít người, nhiều thành phần dân tộc. Nơi đây tập trung hơn 22 dân tộc, trong đó có 8 dân tộc có dân số đông hơn cả là Kinh, Tày, Dao, Cao Lan, Nùng, Hoa, H'Mông, Sán Dìu Người Kinh chiếm hơn 1/2 dân số Tuyên Quang và cư trú trên địa bàn cả tỉnh, trong đó tập trung nhất ở thị xã và các huyện Yên Sơn, Sơn Dương. Đứng thứ hai về số dân là người Tày (24,4% dân số), phân bố chủ yếu ở Chiêm Hoá, Na Hang. Tiếp theo là người Dao, tụ cư ở Hàm Yên, Na Hang; người Cao Lan ở Sơn Dương; người Nùng ở Sơn Dương.

Do yêu cầu của công tác quản lý, các cơ sở GDMN thường được tổ chức theo địa bàn đơn vị hành chính. Vì vậy, việc tổ chức hành chính cấp cơ sở (số lượng các đơn vị hành chính cấp huyện, xã/phường và thôn của tỉnh) có tác động 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhất định đến tổ chức mạng lưới và số lượng cơ sở giáo dục. Trường mầm non (mẫu giáo) thường được tổ chức theo phạm vi một thôn hoặc tổ dân phố. Thực trạng phát triển giáo dục mầm non của trước năm 1991 Có thể thấy rằng, giáo dục có một vai trò rất quan trọng đối với vận mệnh của đất nước.

Trải qua bao thập kỷ, Đảng và Nhà nước luôn xem giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đây là sứ mệnh thiêng liêng, đồng thời đồng thời cũng vô cùng nặng nề đối với mỗi người, mỗi tầng lớp nhân dân trong xã hội. Hệ thống giáo dục, đào tạo bước đầu được sắp xếp, điều chỉnh lại phù hợp hơn với điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh, có một số chuyển biến tốt trong giáo dục, hướng nghiệp, dạy nghề và đào tạo đội ngũ cán bộ, giáo viên người dân tộc theo địa chỉ sử dụng. Công tác xóa mù chữ và phổ cập cấp I bước đầu được triển khai sâu rộng, năm 1991 đã xóa mù chữ được gần 2000 người, bắt đầu hình thành trường chuyên, lớp chọn để phát hiện bồi dưỡng nhân tài.

Từng bước hình thành và phát triển quan điểm giáo dục nhân dân. Việc tăng cường liên kết nhà trường với xã hội đã tạo điều kiện tốt hơn để xây dựng cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng dạy và học.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ