Luận văn thạc sĩ về Lãnh đạo Kinh tế Nông nghiệp tại Huyện Tân Yên, Bắc Giang (2006-2015)

Luận văn thạc sĩ phân tích vai trò của đảng bộ huyện Tân Yên trong lãnh đạo kinh tế nông nghiệp giai đoạn 2006-2015 tại Bắc Giang.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2017

117
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

0.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

0.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.5. Cơ sở lý luận

0.6. Phương pháp nghiên cứu

0.7. Nguồn tài liệu để thực hiện đề tài

0.8. Đóng góp của luận văn

0.9. Bố cục luận văn

1. CHƯƠNG 1: CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN TÂN YÊN VỀ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2010

1.1. Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Tân Yên về kinh tế nông nghiệp

1.1.1. Điều kiện tự nhiên, dân cư, kinh tế - xã hội

Tóm tắt

I. Tổng quan về Lãnh đạo Kinh tế Nông nghiệp Huyện Tân Yên 2006 2015

Lãnh đạo kinh tế nông nghiệp tại huyện Tân Yên, Bắc Giang trong giai đoạn 2006-2015 đã có những bước tiến quan trọng. Đảng bộ huyện đã triển khai nhiều chính sách nhằm phát triển kinh tế nông nghiệp, góp phần nâng cao đời sống của người dân. Những thành tựu này không chỉ thể hiện sự lãnh đạo hiệu quả mà còn phản ánh sự chuyển mình của nền kinh tế nông nghiệp trong bối cảnh hội nhập.

1.1. Đặc điểm kinh tế nông nghiệp huyện Tân Yên

Huyện Tân Yên có nền kinh tế nông nghiệp chủ yếu dựa vào sản xuất nông sản như lúa, ngô, và các loại cây ăn quả. Đặc điểm địa lý và khí hậu thuận lợi đã tạo điều kiện cho sự phát triển của nông nghiệp. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức cần vượt qua.

1.2. Vai trò của Đảng bộ trong phát triển kinh tế nông nghiệp

Đảng bộ huyện Tân Yên đã đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng và chỉ đạo phát triển kinh tế nông nghiệp. Các chính sách được ban hành đã giúp cải thiện năng suất và chất lượng sản phẩm nông nghiệp, đồng thời nâng cao đời sống của người dân.

II. Những thách thức trong Lãnh đạo Kinh tế Nông nghiệp Huyện Tân Yên

Trong giai đoạn 2006-2015, huyện Tân Yên đã phải đối mặt với nhiều thách thức trong lãnh đạo kinh tế nông nghiệp. Những vấn đề như biến đổi khí hậu, thiếu vốn đầu tư, và cơ sở hạ tầng yếu kém đã ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của nông nghiệp.

2.1. Biến đổi khí hậu và tác động đến sản xuất nông nghiệp

Biến đổi khí hậu đã gây ra nhiều khó khăn cho sản xuất nông nghiệp tại huyện Tân Yên. Thời tiết thất thường, hạn hán và lũ lụt đã làm giảm năng suất cây trồng, ảnh hưởng đến thu nhập của nông dân.

2.2. Thiếu vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp

Vấn đề thiếu vốn đầu tư là một trong những thách thức lớn nhất đối với kinh tế nông nghiệp huyện Tân Yên. Nhiều dự án phát triển không thể triển khai do thiếu nguồn lực tài chính, dẫn đến sự chậm trễ trong hiện đại hóa nông nghiệp.

III. Phương pháp và Giải pháp phát triển Kinh tế Nông nghiệp

Để vượt qua những thách thức, huyện Tân Yên đã áp dụng nhiều phương pháp và giải pháp nhằm phát triển kinh tế nông nghiệp. Các chương trình hỗ trợ nông dân, cải thiện cơ sở hạ tầng và khuyến khích đầu tư là những biện pháp quan trọng.

3.1. Chương trình hỗ trợ nông dân và hợp tác xã

Huyện Tân Yên đã triển khai nhiều chương trình hỗ trợ nông dân, bao gồm đào tạo kỹ thuật, cung cấp giống cây trồng chất lượng cao và hỗ trợ tài chính cho các hợp tác xã nông nghiệp. Những chương trình này đã giúp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.

3.2. Cải thiện cơ sở hạ tầng nông nghiệp

Cải thiện cơ sở hạ tầng nông nghiệp là một trong những giải pháp quan trọng để phát triển kinh tế nông nghiệp. Huyện đã đầu tư vào hệ thống tưới tiêu, đường giao thông và các công trình phục vụ sản xuất nông nghiệp, giúp nông dân dễ dàng tiếp cận thị trường.

IV. Ứng dụng thực tiễn và Kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Tân Yên đã mang lại nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế nông nghiệp. Năng suất cây trồng tăng lên, đời sống người dân được cải thiện rõ rệt.

4.1. Nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm nông nghiệp

Nhờ vào các chính sách hỗ trợ và đầu tư, năng suất cây trồng tại huyện Tân Yên đã tăng lên đáng kể. Các sản phẩm nông nghiệp không chỉ đáp ứng nhu cầu nội địa mà còn có khả năng xuất khẩu.

4.2. Cải thiện đời sống người dân nông thôn

Sự phát triển kinh tế nông nghiệp đã giúp cải thiện đời sống của người dân nông thôn. Thu nhập bình quân đầu người tăng lên, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo trong huyện.

V. Kết luận và Tương lai của Kinh tế Nông nghiệp Huyện Tân Yên

Kinh tế nông nghiệp huyện Tân Yên đã có những bước phát triển đáng kể trong giai đoạn 2006-2015. Tuy nhiên, để đạt được sự phát triển bền vững, cần tiếp tục cải thiện các chính sách và giải pháp trong tương lai.

5.1. Định hướng phát triển kinh tế nông nghiệp bền vững

Huyện Tân Yên cần xây dựng các chiến lược phát triển kinh tế nông nghiệp bền vững, tập trung vào việc bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng sản phẩm nông nghiệp.

5.2. Tăng cường hợp tác quốc tế trong phát triển nông nghiệp

Huyện cần mở rộng hợp tác quốc tế để thu hút đầu tư và chuyển giao công nghệ, từ đó nâng cao năng lực sản xuất và chất lượng sản phẩm nông nghiệp.

22/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, cấu trúc Luận văn gồm 3 chương, 6 tiết. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN TÂN YÊN VỀ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2010 1. Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Tân Yên về kinh tế nông nghiệp 1. Điều kiện tự nhiên, dân cư, kinh tế - xã hội Huyện Tân Yên là một huyện hình thành tương đối muộn so với các huyện khác trong tỉnh, là huyện miền núi của tỉnh Bắc Giang, xưa kia thuộc miền hạ của Phủ Yên Thế.

Ngày 06 tháng 11 năm 1957, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) ra Nghị định số 523/TTg chia huyện Yên Thế thành hai huyện Tân Yên và Yên Thế. Trước thời điểm ấy Tân Yên là phần đất phía Nam của huyện Yên Thế, mà sử sách và nhiều người dân vẫn thường gọi là miền Yên Thế hạ. * Về vị trí địa lý - địa hình: Huyện Tân Yên nằm ở tọa độ không gian 106o - 106o11độ kinh Đông; 21o18 - 21o23 độ vĩ Bắc [16, tr. - Phía Đông tiếp giáp huyện Lạng Giang.

- Phía Tây tiếp giáp huyện Hiệp Hòa. - Phía Nam tiếp giáp huyện Việt Yên và thành phố Bắc Giang (tỉnh Bắc Giang). - Phía Bắc giáp huyện Phú Bình (tỉnh Thái Nguyên) và huyện Yên Thế. Tân Yên có diện tích đất tự nhiên là 203,8km2.

Ở phía Đông của huyện, sông Thương chảy gần như theo hướng Bắc - Nam là ranh giới tự nhiên với huyện Lạng Giang. Huyện cũng có 1 con đường quốc lộ chạy theo hướng Bắc - Nam và hai đường tỉnh lộ chạy qua theo hướng Đông - Tây. Tân Yên là một tiểu vùng chuyển tiếp của vùng núi Việt Bắc và Đông Bắc với vùng Châu thổ sông Hồng. Đặc điểm trên làm cho huyện Tân Yên có địa hình đồi núi thấp thoai thoải theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, với độ cao 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trung bình là 10 - 15 m so với mặt biển.

Điểm cao nhất là núi Đót 221,88m thuộc xã Phúc Sơn nằm ở cực Tây Bắc, điểm thấp nhất là cánh đồng Chủ 1m so với mặt biển ở xã Quế Nham.Cứ 1 km địa hình trung bình hạ bớt độ cao thêm 1m. Đặc điểm địa hình và tính chất tiểu vùng chuyển tiếp của huyện về cơ bản được quy định bởi quá trình phát triển địa chất lâu dài và phức tạp do sự vận động kiến tạo của vỏ trái đất cách ngày nay từ vài trăm triệu năm. “Chúng biểu hiện rõ rệt trong cấu trúc địa chất của tỉnh từ kỷ tri át cổ với các trầm tích mới thuộc thế hệ toàn tân”. Có thể đánh giá vị trí địa lý kinh tế của Tân Yên như một yếu tố quan trọng tạo nên tiềm năng phát triển sản xuất nông nghiệp nói riêng và kinh tế của huyện nói chung.

* Về hành chính: Trải qua nhiều lần điều chỉnh địa giới hành chính, hiện nay Tân Yên có 22 xã gồm: xã An Dương, Cao Xá, Cao Thượng, Ngọc Lý, Đại Hóa, Lam Cốt, Lan Giới, Liên Sơn, Liên Chung, Nhã Nam, Ngọc Vân, Ngọc Thiện, Ngọc Châu, Tân Trung, Phúc Hòa, Phúc Sơn, Quế Nham, Quang Tiến, Song Vân, Việt Lập, Việt Ngọc, Hợp Đức, và có hai thị trấn là Cao Thượng và Nhã Nam. Huyện lỵ đóng tại thị trấn Cao Thượng. * Về địa mạo, thổ nhưỡng, khí hậu, sông ngòi, giao thông: Thổ nhưỡng: Tân Yên có diện tích trên 20.332 ha, có 2 loại đất chính hình thành từ 2 nguồn gốc: loại đất hình thành tại chỗ do phong hóa đá mẹ và loại đất hình thành do phù sa sông bồi tụ. Căn cứ vào nguồn gốc, trên đất Tân Yên nổi rõ 3 nhóm đất: nhóm đất đồi và ruộng bậc thang nằm chủ yếu ở phía Đông Bắc của huyện, chiếm 20% diện tích đất tự nhiên, nhóm đất phù sa cũ bạc màu nằm ở phía Tây Nam của huyện, chiếm tới 70% diện tích đất tự nhiên, nhóm đất phù sa có địa hình thấp trũng nằm ở phía Đông Nam, chiếm 10% tổng diện tích đất tự nhiên [16, tr.

Khí hậu: Tân Yên bị quy định bởi địa hình toán tính, nó vừa mang tính chất nhiệt đới nóng ẩm, vừa mang tính chất á nhiệt đới.Chế độ nắng và bức xạ phong 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.Hằng năm nhiệt độ trung bình 22,9oC.Khí hậu có hai mùa tương đối rõ rệt.Mùa hè gió Đông Nam, và mùa Đông gió Bắc chiếm ưu thế, lượng mưa trung bình cả năm là 1594 mm. Do vị trí của huyện nằm ở khá sâu trong nội địa nên các cơn bão phần lớn bị núi chắn bớt nên làm yếu đi và ít gây ra những tác hại lớn. Với những điều kiện nhiệt độ, ánh sáng, lượng mưa và độ ẩm trên, Tân Yên có điều kiện trồng trọt nhiều vụ trong năm, phát triển chăn nuôi, áp dụng đa dạng cơ cấu cây trồng và thời vụ của một huyện nông nghiệp. Nguồn nước: Tân Yên có sông Thương, hệ thống nông giang sông Cầu và một hệ thống suối, ngòi nhỏ chảy qua.

Sông Thương được phát nguồn từ phía Nam tỉnh Lạng Sơn, dài 175 km chảy qua huyện ở đoạn trung lưu dài 16km, lòng sông mở rọng từ 70m đến 100m, qua địa phận 3 xã là Hợp Đức, Liên Chung, Quế Nham. Hệ thống nông giang sông Cầu được đưa vào sử dụng từ năm 1929 gồm có kênh chính đoạn chảy qua Tân Yên từ kè Lữ Vân đến Điếm thôn dài 25,8 km, và với 9 kênh cấp 2, 50 kênh cấp 3 dài 744km cung cấp nước cho 5574 ha, chiếm 56,6% diện tích đất trồng của huyện trong một vụ. Toàn huyện có 77 hồ lớn nhỏ, lớn nhất là hồ Đá Ong dung tích 7 triệu m3 nước, diện tích mặt nước có khoảng 400 ha. Lượng nước phân bổ trong năm không đều, về mùa mưa chiếm khoảng 80% tổng lượng mưa cả năm.

Sông ngòi, hệ thống nông giang của huyện Tân Yên là một yếu tố rất cơ bản và thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và vận tải đường thủy, tuy nhiên việc sử dụng vào các lĩnh vực vận tải chưa được khai thác hết tiềm năng [52, tr. Giao thông: Huyện Tân Yên có các tuyến đường giao thông thủy và bộ là: - Đường 398 từ thành phố Bắc Giang đi thị trấn Cao Thượng, thị trấn Nhã Nam, ngược lên Cầu Gồ (Yên Thế). - Đường 295 nối thị trấn Vôi (Lạng Giang) qua thị trấn Cao Thượng đến thị trấn Thắng (Hiệp Hòa) qua cầu Vát sang quốc lộ 3 đi Hà Nội, theo đường 35 sang Kim Anh, Đa Phúc, Vĩnh Phúc, Phú Thọ. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Đường 294 nối thị trấn Kép (Lạng Giang) qua Bố Hạ, Nhã Nam sang Lữ Vân, cầu Ca (Thái Nguyên).

- Đường 298 từ Đình Nẻo (Liên Sơn) đi Việt Yên ra quốc lộ 1A đi Hà Nội. - Đường 297 từ Cầu Treo Lữ Vân (Phúc Sơn) đi qua xã Lam Cốt - Việt Ngọc. - Tuyến giao thông thủy sông Thương qua địa phận Tân Yên góp phần vận chuyển lưu thông hàng hóa. Tuy nhiên chúng ta cũng nhận thấy rằng Tân Yên không có đường giao thông quan trọng quốc gia chạy qua.

Điều kiện tự nhiên Tân Yên có nhiều thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp như: Trồng cây lương thực, cây công nghiệp, cây ăn quả, trồng rau và phát triển chăn nuôi để tạo ra nguồn lương thực, thực phẩm làm hàng hóa và phục vụ đời sống nhân dân. Các hoạt động kinh tế khác như giao thông vận tải, tiểu thủ công nghiệp, khai thác khoảng sản, sản xuất vật liệu xây dựng và dịch vụ đều có cơ sở của điều kiện tự nhiên đảm bảo và cần hoạch định trong những thập niên tới để xây dựng và phát triển. Mặt khác, chúng ta cũng nhận thức rõ những mặt không thuận lợi của điều kiện tự nhiên như vị trí địa lý: không có đường giao thông quan trọng của quốc gia chạy qua, thảm rừng tự nhiên của những năm gần đây không còn nữa, kéo theo sự thu hẹp và mất hẳn nhiều loại động thực vật. Thổ nhưỡng ngày càng bị xói mòn, lượng mưa phân bổ không đều trong năm, nguồn nước mới chỉ đủ cung cấp cho 62% diện tích đất canh tác.Đó là những khó khăn đặt ra cho Tân Yên thực hiện công tác điều tra quy hoạch cơ bản, ưu tiên cho việc giữ gìn và bồi đắp tự nhiên trong thế kỷ mới.

* Điều kiện dân cư, kinh tế - xã hội: Về dân số: Theo tổng điều tra năm đầu tách huyện (6/11/1957) dân số của huyện là 56.Theo số liệu tổng điều tra dân số ngày 1/4/2009, dân số của 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com huyện là 158. Như vậy sau hơn 50 năm thành lập huyện (1957 - 2010) dân số đã tăng trên 10 vạn người. Bình quân mỗi năm tăng khoảng trên 2 nghìn người. Biểu đồ thống kê dân số trung bình và mật độ dân số các xã, thị trấn năm 2010 TT Xã, thị trấn Dân số (ngƣời) Mật độ/km2 1 Song Vân 8430 1067 2 Ngọc Vân 7751 669 3 Ngọc Lý 6492 710 4 Ngọc Châu 6265 669 5 Ngọc Thiện 12577 923 6 Cao Xá 10510 688 7 Quang Tiến 5190 942 8 Đại Hóa 4042 879 9 Lan Giới 3289 618 10 Việt Ngọc 8117 1006 11 Lam Cốt 6590 723 12 Phúc Sơn 5106 883 13 Tân Trung 7161 731 14 Liên Sơn 5002 659 15 An Dương 6155 536 16 Nhã Nam 4646 1085 17 Việt Lập 85487 590 18 Cao Thượng 6065 881 19 Hợp Đức 6412 693 20 Quế Nham 93251 924 21 Liên Chung 7076 574 22 Phúc Hòa 6275 572 23 Thị Trấn Cao Thượng 5497 2209 24 Thị trấn Nhã Nam 2641 2077 Mật độ dân số trung bình của huyện là: 774 ngƣời/km2 (Nguồn: Niên giám thống kê huyện Tân Yên năm 2010) 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Dân tộc: Tân Yên là vùng đất hợp cư.

Năm 2012, người Kinh chiếm đa số, còn các dân tộc khác bao gồm: người Tày có 987 người, người Nùng có 651 người, người Dao 33 người, Cao Lan 32 người, Sán Chí 11 người, Sán Dìu 23 người, người Hoa 54 người, các dân tộc khác 114 người (tổng số có 1905 người). Về lao động: Thời điểm cuối năm 2010 tổng lao động quy đổi: 94.088 người bằng 62,3% dân số. Lao động ở nông thôn: 89.376 người bằng 59,2% dân số. Lao động ở thị trấn, thị tứ: 4762 người bằng 3,1% dân số.

Chất lượng lao động: số người cử nhân kỹ thuật là 7219 người bằng 7,67%; lao động trình độ sơ cấp là 8015 người bằng 7,56%; lao động có trình độ cao đẳng, đại học là 8996 người bằng 9,25%; số lao động chưa qua đào tạo là 63.038 người bằng 67%.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ