Chương 1 ĐẢNG BỘ TỈNH NAM ĐỊNH LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC- ĐÀO TẠO TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2001 1. Nam Định - vùng đất hiếu học 1. Tổng quan về tỉnh Nam Định Nam Định là tỉnh duyên hải ở phía nam đồng bằng Bắc Bộ, phía Đông Nam giáp Vịnh Bắc Bộ, phía Đông Bắc giáp tỉnh Thái Bình, phía Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh Hà Nam, phía Tây giáp tỉnh Ninh Bình. Nam Định có diện tích tự nhiên 1.671,5km2, bằng 6,52% diện tích của nước, dân số trên 1,8 triệu người.
Nam Định là vùng đất nằm giữa hạ lưu hai con sông lớn của đồng bằng Bắc Bộ là sông Hồng và sông Đáy, hàng năm cung cấp một lượng phù sa lớn cho phát triển kinh tế nông nghiệp. Sông Hồng chảy từ xã Mỹ Trung thuộc huyện Mỹ Lộc qua thành phố Nam Định và các huyện Nam Trực, Trực Ninh, Xuân Trường, Giao Thuỷ rồi đổ ra biển Đông ở cửa Ba Lạt tạo thành địa giới tự nhiên giữa hai tỉnh Nam Định và Thái Bình. Sông Đáy chảy vào Nam Định từ xã Yên Phương huyện Ý Yên qua huyện Nghĩa Hưng rồi đổ ra biển Đông ở cửa Đáy trở thành địa giới tự nhiên giữa hai tỉnh Nam Định và Ninh Bình. Với bờ biển dài 72 km từ cửa Ba Lạt cho đến cửa Đáy, đây là vùng có tiềm năng kinh tế quan trọng trong khu vực biên phòng bờ biển của quốc gia.
Nam Định còn có hệ thống giao thông đa dạng và thuận lợi với 6.898km đường bộ, 417 km đường sông và đường biển, 42 km đường sắt chạy qua rất thuận tiện cho giao lưu và thông thương hai miền Nam - Bắc. Địa hình Nam Định chia làm hai vùng tự nhiên. Phía Bắc là vùng bị bào mòn, bồi tụ phù sa cổ, đất thấp, có những giải võng tạo thành địa hình ô trũng (Ý Yên, Vụ Bản, Mỹ Lộc). Đây là vùng có nhiều khả năng thâm canh phát triển nông nghiệp, công nghiệp dệt, công nghiệp chế biến, công nghiệp cơ khí và ngành nghề truyền thống.
Phía Nam tỉnh do được phù sa sông Hồng và sông Đáy bồi đắp, hàng năm thường lấn ra biển hàng chục mét, đất đai tương 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đối bằng phẳng, màu mỡ. Người dân Nam Định đã tiến hành công cuộc khai khẩn lấn biển, đắp đê ngăn mặn, đào ngòi tiêu nước, thau chua rửa mặn, cải tạo đồng ruộng. Cuộc chiến đấu chinh phục và chiến thắng thiên nhiên ở vùng đất này là bản anh hùng ca của nhiều thế hệ. Người Nam Định đã tích luỹ, đúc rút được nhiều kinh nghiệm cho sự mở mang miền đất lấn biển và làm cho vùng đất này ngày càng phồn thịnh và đã hình thành một cộng đồng đoàn kết, gắn bó keo sơn sinh cơ lập nghiệp.
Sự đoàn kết này còn tạo thành và làm phong phú thêm nét đẹp truyền thống văn hoá làng xã bình dị nhưng giàu tính nhân văn. Dựng nước gắn liền với đấu tranh giữ nước là một quy luật sinh tồn, phát triển của dân tộc. Đó cũng là một truyền thống quý báu của nhân dân Nam Định. Truyền thống đó đã thấm sâu vào tâm linh mọi người và trở thành một trong những nét nổi bật của văn hoá Nam Định.
Nổi bật trong truyền thống văn hoá của người dân Nam Định là lòng say mê học tập và sáng tạo, rèn luyện đức tài, nâng cao tinh thần và thể lực theo mục tiêu yêu nước, hiếu học, kính thầy, mến bạn. Truyền thống hiếu học là một đặc tính chung của người dân Việt Nam và ở mảnh đất Nam Định truyền thống đó lại càng hiện hữu rõ nét hơn. Trong tiến trình phát triển của lịch sử Việt Nam, Nam Định xưa vẫn được coi là một vùng đất văn hiến mặc dù không cổ kính lâu đời như các xứ Bắc, xứ Đông, xứ Đoài. Mảnh đất này là nơi cung cấp nhiều nhân lực, vật lực cho đất nước.
Dân cư Nam Định có truyền thống hiếu học, khoa cử, có vai trò tích cực trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế, tiêu biểu như Vương Văn Hiệu đỗ Thám hoa dưới thời Lý. Đây là nhà khoa bảng đầu tiên của tỉnh Nam Định. Nguyễn Hiền đỗ Trạng nguyên năm 13 tuổi (1247), Trạng nguyên Lương Thế Vinh dưới thời Lê, nhà thơ Tú Xương, Nguyễn Bính, Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng, nhiều nhà yêu nước nổi tiếng như Văn Cao, Nguyễn Cơ Thạch, Nguyễn Phúc, đặc biệt là cố Tổng bí thư Trường Chinh - nhà chính trị, nhà văn hoá lớn của quê hương Nam Định… “Trong hơn 800 cử nghiệp của cả nước thì Nam Định có 87 vị 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đại khoa, trong đó có 5 trạng nguyên, 3 người đỗ bảng nhãn, 3 người đỗ thám hoa, 14 người đỗ hoàng giáp, 62 người đỗ tiến sĩ và phó bảng (hai huyện nhiều hơn cả là Nam Trực và Ý Yên)” [1, tr. Kể từ sau khi Đảng bộ Nam Định được thành lập và lãnh đạo cuộc đấu tranh giành chính quyền, Đảng bộ tỉnh đã phát động nhiều phong trào thi đua học tập.
Diệt giặc dốt được xác định là một trong ba nhiệm vụ mà chính quyền cách mạng có trách nhiệm phải đẩy lùi. Đến cuối năm 1945 các huyện đã mở lớp đào tạo giáo viên bình dân học vụ, đáp ứng phong trào học tập của các xã. Với sự thi đua người người đi học, nhà nhà đi học, chỉ trong một thời gian ngắn toàn tỉnh đã thành toán nạn mù chữ cho hàng chục vạn người. Nếu như vào thời điểm năm 1945 toàn tỉnh có trên 92% dân số mù chữ thì đến thời điểm năm 1954 đã có 93% số người trong độ tuổi từ 18 đến 45 biết đọc, biết viết.
Đây là thành quả to lớn của đường lối giáo dục đúng đắn của Đảng và Nhà nước đã đề ra kết hợp với sự chỉ đạo sát sao của Đảng bộ tỉnh và sự nỗ lực phấn đấu của nhân dân trong tỉnh. Sau ngày Hiệp định Giơnevơ được ký kết, hoà bình lập lại, cùng với các địa phương khác trên toàn miền Bắc bắt tay vào công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, Đảng bộ tỉnh đã chỉ đạo khắc phục những hậu quả chiến tranh, bước đầu khôi phục kinh tế, văn hoá xã hội và giáo dục. Tháng 3 năm 1959 Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ II đã diễn ra. Đại hội đã đánh giá tình hình của tỉnh sau 5 năm khôi phục kinh tế xã hội và đề ra phương hướng nhiệm vụ cho ba năm tiếp theo.
Đối với ngành giáo dục đào tạo Đại hội cũng chủ trương xác định đây là một nhiệm vụ quan trọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong tỉnh nhằm mục tiêu nâng cao dân trí, phục vụ cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Dưới ánh sáng của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh, nền giáo dục đào tạo Nam Định đã có những chuyển biến khởi sắc. Tính đến năm 1960 toàn tỉnh đã căn bản hoàn thành xoá mù chữ trong nhân dân, thành lập thêm nhiều trường cấp I, cấp II, và ba trường cấp III nâng tổng số học sinh phổ thông cả ba cấp lên 124. Đến năm 1965 mỗi 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com huyện trong tỉnh đã thành lập được một trường cấp III, mở hai trường sư phạm (sơ cấp và trung cấp), mỗi khoá đào tạo hơn 600 giáo viên, đồng thời tiến hành xây dựng thí điểm ở hai xã và thành phố ba trường phổ thông chuyên nghiệp nông nghiệp và công nghiệp.
Đến giữa năm 1965, Nam Định là một trong 4 tỉnh được công nhận hoàn thành kế hoạch 5 năm lần thứ nhất về bổ túc văn hoá, được đón nhận Huân chương lao động hạng Ba và Bằng khen của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Trong các kỳ thi học sinh giỏi toàn miền Bắc hai năm 1966-1968 Nam Định đã đạt nhiều giải cao: năm 1966 đạt 24/73 giải, năm 1968 đạt 4 giải đồng đội và 27/51 giải cá nhân. Đặc biệt vào năm học mới 25/10/1968 ngành giáo dục đào tạo Nam Định khi đó là Nam Hà đã vinh dự được đón nhận thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau khi hoà bình lập lại, đất nước thống nhất, cả nước bắt tay vào cải tạo xã hội chủ nghĩa, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (1976) và lần thứ V (1981) của Đảng đã xác định vị trí của giáo dục là nền tảng văn hoá của một nước, là sức mạnh tương lai của một dân tộc, nó đặt cơ sở ban đầu rất trọng yếu cho sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Việc cải cách giáo dục được đặt ra cấp thiết. Ngày 11/1/1979, Bộ Chính trị đã thông qua Nghị quyết số 14/NQTW về cải cách giáo dục nhằm làm tốt hơn việc chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ ngay từ thơ ấu đến lúc trưởng thành, thực hiện phổ cập giáo dục trong nhân dân. Cuộc cải cách giáo dục lần thứ 3 bắt đầu từ 1981, tiến hành trên cả ba mặt: Hệ thống giáo dục, nội dung và phương pháp dạy học. Ngày 23/6/1975 Đại hội Đảng bộ tỉnh Nam Hà lần thứ III đã diễn ra tại Thành phố Nam Định.
Đại hội đã đề ra phương hướng nhiệm vụ trong hai năm 1975- 1976 với trọng tâm là: Nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng bộ, phát huy mạnh mẽ vai trò làm chủ tập thể của quần chúng và hiệu lực quản lý của chính quyền, thấu suốt tư tưởng cách mạng, ý thức tự lực cánh sinh, ra sức khai thác, sử dụng mọi tiềm năng và những điều kiện thuận lợi mới, quyết tâm xây dựng kinh tế, phát triển văn hoá, củng cố quốc phòng, an 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ninh chính trị và trật tự xã hội, góp phần tích cực xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đến ngày 5/9/1977, Ban thường vụ Tỉnh uỷ ra Chỉ thị về tăng cường công tác giáo dục, thực hiện mục tiêu nguyên lý giáo dục, đẩy mạnh phong trào đồng khởi thi đua “Hai tốt” theo các điển hình tiên tiến; phát triển sự nghiệp giáo dục một cách cân đối, vững chắc, đồng bộ theo tinh thần phổ cập các ngành học, cấp học, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện để đào tạo lớp người lao động mới; chuẩn bị tích cực mọi mặt cho cải cách giáo dục; hướng mọi hoạt động của nhà trường vào việc hoàn xuất sắc các nhiệm vụ chính trị của địa phương, nhất là nhiệm vụ xây dựng kinh tế, thực hiện nếp sống mới. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, các địa phương tập trung xây dựng trường lớp, mua sắm trang thiết bị dạy và học theo phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm.