Chương 1: Đảng lãnh đạo thực hiện quyền phụ nữ, từ năm 1986 đến năm 1991. Chương 2: Đảng lãnh đạo thực hiện quyền phụ nữ, từ năm 1991 đến năm 2012. Chương 3: Bài học kinh nghiệm về Đảng lãnh đạo thực hiện quyền phụ nữ ở Việt Nam, giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2012. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng I: SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG NHẰM THỰC HIỆN QUYỀN PHỤ NỮ TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 1991 1.
QUYỀN PHỤ NỮ TRONG PHÁP LUẬT QUỐC TẾ 1. Khái niệm quyền phụ nữ Để hiểu rõ khái niệm quyền phụ nữ trước hết cần hiểu rõ khái niệm quyền con người. Theo cách tiếp cận của khoa hoc quyền con người "Quyền con người là quyền của tất cả mọi người, xuất phát từ nhân phẩm vốn có của con người, được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Quyền con người có tính phổ biến cho tất cả mọi người, không có bất kỳ sự phân biệt nào kể cả sự phân biệt về giới.
Cho nên về lý thuyết, con người nói chung có những quyền gì thì phụ nữ cũng có đầy đủ những quyền đó. Mặc dù về nguyên tắc, quyền phụ nữ là quyền con người của phụ nữ. Phụ nữ có quyền được hưởng trọn vẹn các quyền con người của mình như nam giới. Nhưng trên thực tế loài người vẫn có xu hướng mặc định việc “vạch đôi” xã hội: Một nửa là nam giới, nửa còn lại là nữ giới.
Sự phân biệt đối xử với phụ nữ còn tồn tại phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới, từ gia đình đến xã hội đã loại trừ hoặc hạn chế việc phụ nữ hưởng thụ các quyền con người đã được ghi nhận. Do đó, những quy định chung về quyền con người không đủ hiệu lực để bảo vệ người phụ nữ. Để phụ nữ thực thi được đầy đủ quyền con người của mình trên thực tế, một mặt phải đấu tranh chống mọi sự phân biệt đối xử với phụ nữ, mặt khác xây dựng thêm những quy phạm pháp luật có tính chất ưu tiên, hỗ trợ dành riêng cho phụ nữ để phụ nữ có cơ hội thụ hưởng đầy đủ những quyền con người của mình. Vì vậy có thể nói vấn đề 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trung tâm trong đấu tranh cho quyền phụ nữ là đấu tranh cho quyền bình đẳng thực sự của phụ nữ để phụ nữ hiện thực hóa các quyền con người của mình.
Xuất phát từ mối quan hệ tất yếu giữa quyền con người với quyền phụ nữ và đặc trưng riêng có của quyền phụ nữ, có thể định nghĩa quyền phụ nữ như sau: Quyền phụ nữ là quyền của tất cả phụ nữ, được pháp luật ghi nhận, bảo vệ; bao gồm những quyền chung của con người với tư cách là thành viên của cộng đồng xã hội và những quyền đặc thù riêng có của giới nữ. Quyền phụ nữ trong pháp luật quốc tế 1. Quyền phụ nữ trong Bộ luật quốc tế về quyền con người. Quyền con người, bao gồm cả quyền phụ nữ, đã được ghi nhận một cách tổng quát trong "Bộ luật quốc tế về quyền con người" bao gồm Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (1948); Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (1966) và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa (1966).
Tuyên ngôn thế giới về quyền con người là tuyên bố có tính cương lĩnh đưa ra những nguyên tắc và chuẩn mực chung về quyền con người mang tầm vóc toàn cầu. Tuyên ngôn tuyên bố, mọi người dù ở bất cứ nơi đâu trên thế giới cũng đều được hưởng các quyền và tự do cơ bản về dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa, mà "không có bất kỳ sự phân biệt nào về chủng tộc, màu da, giới tính " Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa đã thể chế hóa Tuyên ngôn, nhằm ràng buộc trách nhiệm pháp lý đối với các quốc gia thành viên công ước. Hai công ước đã ghi nhận các quyền con người trên các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa. Đó là các quyền: Không bị phân biệt đối xử, quyền sống, quyền tự do và an ninh cá nhân, quyền được bảo vệ không bị bắt làm nô lệ, quyền không bị tra tấn, quyền có tư cách pháp lý ở mọi nơi, quyền được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng, quyền được bồi thường khi bị vi phạm, quyền được bảo vệ khỏi bị bắt giữ, giam cầm hoặc lưu đày một cách tuỳ tiện, quyền được xét xử bởi một toà án độc lập và không thiên vị, quyền được suy đoán vô tội, quyền được bảo vệ không bị áp dụng luật hồi tố, quyền về đời tư, quyền tự do đi lại, quyền có 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quốc tịch, quyền kết hôn và lập gia đình, bảo vệ và trợ giúp gia đình, các quyền bình đẳng giữa nam và nữ trong hôn nhân, quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo, quyền tự do ý kiến và biểu đạt, quyền tự do hội họp tự do lập hội, quyền tham gia chính quyền, quyền an sinh xã hội, quyền có việc làm, quyền có điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi, quyền về công đoàn, quyền được nghỉ ngơi, giải trí, quyền có mức sống thích đáng, quyền giáo dục, quyền được tham gia vào đời sống văn hoá, quyền tự quyết dân tộc, quyền của trẻ em được bảo vệ và trợ giúp, quyền không bị đói, quyền về sức khoẻ, quyền có nơi lánh nạn, quyền có tài sản riêng, giáo dục tiểu học miễn phí, quyền được đối xử nhân đạo khi bị tước tự do, quyền được bảo vệ để không bị tù đày vì nợ nần, chỉ trục xuất người nước ngoài theo quy định của pháp luật, cấm tuyên truyền chiến tranh và kích động sự phân biệt đối xử, quyền của người thiểu số được có đời sống văn hoá riêng Cả hai công ước trên đều quy định rõ rằng các quyền được ghi nhận trong các văn kiện đó được áp dụng cho tất cả mọi người, không có bất cứ sự phân biệt nào kể cả sự phân biệt về giới tính.
Thêm vào đó, các quốc gia thành viên đặc biệt cam kết bảo đảm quyền bình đẳng giữa nam và nữ trong việc hưởng thụ tất cả các quyền đề ra trong mỗi công ước. Khái quát về quyền bình đẳng của phụ nữ trong luật quốc tế. Do phụ nữ là một nhóm xã hội hết sức quan trọng, chiếm hơn nửa dân số thế giới, nhưng phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới phụ nữ luôn phải chịu một địa vị thấp kém hơn so với nam giới, chỉ bởi họ là phụ nữ. Đó chính là lý do cùng với việc hoàn thiện những văn kiện quốc tế mang tính tổng quát về quyền con người, LHQ đã ban hành những văn kiện riêng nhằm bảo vệ và hiện thực hóa các quyền con người của phụ nữ đã được ghi nhận.
Năm 1953, LHQ thông qua Công ước về các quyền chính trị của phụ nữ. Công ước này quy định phụ nữ bình đẳng với nam giới trên mọi lĩnh vực, có quyền bầu cử, ứng cử, quyền được nhận vào làm việc và giữ các chức vụ trong cơ quan nhà nước Năm 1957, Công ước về quốc tịch của phụ nữ khi kết hôn được thông qua. Công ước này quy định phụ nữ không thể bị thay đổi quốc tịch một cách đương 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhiên do kết hôn, do hủy hôn hoặc người chồng thay đổi quốc tịch. Năm 1962, Công ước về điều kiện kết hôn, tuổi kết hôn tối thiểu và việc đăng ký kết hôn được thông qua.
Công ước này khẳng định phụ nữ có quyền được lựa chọn người phối ngẫu, phụ nữ được bảo vệ chống lại nạn tảo hôn và cưỡng ép kết hôn. Mặc dù thế giới đã có nhiều văn kiện quốc tế ghi nhận và bảo vệ quyền của phụ nữ như đã trình bày ở trên nhưng các văn kiện đó mới chỉ dừng lại ở việc ghi nhận quyền của phụ nữ ở những khía cạnh riêng lẻ trong tổng thể các quyền phụ nữ vốn tồn tại là một thể thống nhất. Mặt khác, các công ước trên không đủ sức mạnh để chống lại sự phân biệt đối xử với phụ nữ vẫn đang diễn ra rất phổ biến, vi phạm nghiêm trọng quyền con người của phụ nữ và hạn chế những đóng góp của phụ nữ cho sự phát triển của xã hội. Do đó, cần phải có một văn bản đề cập đến quyền con người của phụ nữ một cách toàn diện và đề ra được những biện pháp cụ thể nhằm khắc phục những cản trở trong việc thực hiện các quyền của phụ nữ.
Vì lý do đó, Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) đã ra đời1. Nội dung cơ bản của Công ước CEDAW đề cập đến những vấn đề sau: định nghĩa sự phân biệt đối xử với phụ nữ; nghĩa vụ của các quốc gia thành viên tiến hành những biện pháp để xóa bỏ sự phân biệt đối xử với phụ nữ mang tính toàn diện cả về pháp lý, chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội; những biện pháp đặc biệt tạm thời để chống lại sự phân biệt đối xử với phụ nữ; sửa đổi khuôn mẫu văn hóa, xã hội; loại bỏ việc buôn bán và bóc lột tình dục phụ nữ; bình đẳng cho phụ nữ trong đời sống chính trị, xã hội ở cấp độ quốc gia và quốc tế; bình đẳng về quốc tịch; bình đẳng về giáo dục; bình đẳng về lao động việc làm; bình đẳng về chăm sóc sức khỏe; bình đẳng trong đời sống kinh tế, xã hội; đảm bảo quyền bình đẳng cho phụ nữ nông thôn; bình đẳng về tư cách pháp lý trong quan hệ dân sự; bình đẳng trong quan hệ hôn nhân gia đình (Điều 1-16). 1 Công ước đã được LHQ thông qua ngày 18/12/1979 và có hiệu lực từ ngày 3/9/1981. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khác với các điều ước quốc tế về quyền con người khác trong đó vấn đề bất bình đẳng giới được quy định chung, Công ước CEDAW đã chỉ ra cụ thể những lĩnh vực hiện đang tồn tại sự phân biệt đối xử với phụ nữ một cách nặng nề để từ đó xác định những biện pháp thích hợp nhằm loại bỏ hoàn toàn tình trạng bất bình đẳng của phụ nữ trong gia đình cũng như ngoài xã hội.