Lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện quyền của phụ nữ từ năm 1986 đến năm 2012

Luận văn thạc sĩ phân tích ussh đảng cộng sản việt nam lãnh đạo thực hiện quyền của phụ nữ từ năm 1986 đến năm 2012, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp khả thi

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

116
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG NHẰM THỰC HIỆN QUYỀN PHỤ NỮ TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 1991

1.1. Quyền phụ nữ trong pháp luật quốc tế

1.2. Khái niệm quyền phụ nữ

1.3. Lãnh đạo thực hiện quyền phụ nữ trước năm 1986

1.4. Chủ trương, chính sách của Đảng về quyền phụ nữ

1.5. Xây dựng hệ thống pháp luật về quyền phụ nữ

1.6. Kết quả thực hiện quyền phụ nữ ở Việt Nam thời kỳ trước 1986

1.7. Lãnh đạo thực hiện quyền phụ nữ từ năm 1986 đến năm 1991

1.7.1. Chủ trương của Đảng

1.7.2. Tiếp tục xây dựng hệ thống pháp luật về quyền phụ nữ

1.7.3. Những thành tựu và hạn chế trong thực hiện quyền phụ nữ từ năm 1986 đến năm 1991

2. CHƯƠNG 2: CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG THỰC HIỆN QUYỀN PHỤ NỮ TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2012

2.1. Bối cảnh lịch sử và chủ trƣơng của Đảng

2.1.1. Bối cảnh những năm 1990 và yêu cầu mới về quyền con người và quyền phụ nữ

2.1.2. Chủ trương của Đảng

2.2. Chỉ đạo thực hiện quyền phụ nữ

2.2.1. Chỉ đạo xây dựng và hoàn thiện pháp luật về quyền phụ nữ

2.2.2. Chỉ đạo xây dựng và hoàn thiện tổ chức bộ máy hoạt động vì sự tiến bộ và phát triển của phụ nữ

2.2.3. Chỉ đạo xây dựng các chương trình, mục tiêu quốc gia nhằm bảo đảm quyền phụ nữ

2.3. Kết quả thực hiện quyền phụ nữ

2.3.1. Trong lĩnh vực chính trị

2.3.2. Trong lĩnh vực kinh tế, lao động

2.3.3. Trong lĩnh vực giáo dục đào tạo

2.3.4. Trong lĩnh vực khoa học công nghệ

2.3.5. Trong lĩnh vực văn hóa thông tin, thể dục thể thao

2.3.6. Trong lĩnh vực y tế

2.3.7. Trong gia đình

3. CHƯƠNG 3: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM

3.1. Thành tựu và những tác động

3.2. Hạn chế và nguyên nhân

3.3. Một số kinh nghiệm

3.3.1. Về hoạch định chủ trương, đường lối

3.3.2. Về tổ chức thực hiện

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam về quyền phụ nữ 1986 2012

Lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam đã có những bước tiến quan trọng trong việc thực hiện quyền phụ nữ từ năm 1986 đến năm 2012. Thời kỳ này đánh dấu sự chuyển mình mạnh mẽ trong nhận thức và chính sách của Đảng về quyền phụ nữ, từ việc khẳng định vai trò của phụ nữ trong xã hội đến việc xây dựng các chính sách cụ thể nhằm bảo vệ và phát triển quyền lợi của họ. Đảng đã nhận thức rõ rằng quyền phụ nữ không chỉ là vấn đề nhân quyền mà còn là yếu tố quan trọng trong sự phát triển bền vững của đất nước.

1.1. Khái niệm quyền phụ nữ và vai trò của Đảng

Quyền phụ nữ được hiểu là quyền của tất cả phụ nữ, được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định vai trò của phụ nữ trong các văn kiện chính thức, nhấn mạnh rằng quyền phụ nữ là quyền con người. Điều này thể hiện sự cam kết của Đảng trong việc bảo vệ và phát triển quyền lợi của phụ nữ trong xã hội.

1.2. Bối cảnh lịch sử và sự cần thiết phải thực hiện quyền phụ nữ

Trong bối cảnh lịch sử Việt Nam, quyền phụ nữ đã trải qua nhiều thách thức. Từ những năm 1986, Đảng đã nhận thức rõ ràng rằng việc thực hiện quyền phụ nữ không chỉ là trách nhiệm mà còn là một yêu cầu cấp thiết để phát triển xã hội. Sự chuyển mình này đã tạo ra những cơ hội mới cho phụ nữ trong việc tham gia vào các lĩnh vực chính trị, kinh tế và xã hội.

II. Những thách thức trong việc thực hiện quyền phụ nữ 1986 1991

Mặc dù có nhiều chính sách và chủ trương từ Đảng, việc thực hiện quyền phụ nữ vẫn gặp phải nhiều thách thức. Các vấn đề như phân biệt giới tính, bạo lực gia đình và thiếu cơ hội trong việc tham gia vào các quyết định chính trị vẫn tồn tại. Những thách thức này không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của phụ nữ mà còn cản trở sự phát triển chung của xã hội.

2.1. Phân biệt giới tính và vai trò của phụ nữ trong xã hội

Phân biệt giới tính vẫn là một vấn đề lớn trong xã hội Việt Nam. Mặc dù Đảng đã có nhiều nỗ lực để nâng cao vị thế của phụ nữ, nhưng tư tưởng 'trọng nam, khinh nữ' vẫn còn tồn tại, ảnh hưởng đến sự tham gia của phụ nữ trong các lĩnh vực quan trọng.

2.2. Bạo lực gia đình và tác động đến quyền phụ nữ

Bạo lực gia đình là một trong những vấn đề nghiêm trọng ảnh hưởng đến quyền phụ nữ. Nhiều phụ nữ vẫn phải chịu đựng bạo lực mà không có sự hỗ trợ từ cộng đồng hoặc pháp luật. Điều này không chỉ làm tổn thương cá nhân mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển của xã hội.

III. Chính sách và giải pháp của Đảng về quyền phụ nữ 1991 2012

Trong giai đoạn từ 1991 đến 2012, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra nhiều chính sách và giải pháp nhằm bảo vệ và phát triển quyền phụ nữ. Các chính sách này không chỉ tập trung vào việc nâng cao nhận thức mà còn tạo ra các cơ chế pháp lý để bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong xã hội.

3.1. Các chính sách pháp luật về quyền phụ nữ

Đảng đã xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm bảo vệ quyền phụ nữ. Các văn bản pháp luật đã được ban hành để đảm bảo quyền lợi của phụ nữ trong các lĩnh vực như lao động, giáo dục và sức khỏe. Điều này đã tạo ra một khung pháp lý vững chắc cho việc thực hiện quyền phụ nữ.

3.2. Các chương trình quốc gia về phát triển quyền phụ nữ

Đảng đã triển khai nhiều chương trình quốc gia nhằm nâng cao vị thế của phụ nữ trong xã hội. Những chương trình này không chỉ tập trung vào việc giáo dục và nâng cao nhận thức mà còn tạo ra các cơ hội cho phụ nữ tham gia vào các hoạt động kinh tế và chính trị.

IV. Kết quả thực hiện quyền phụ nữ và những thành tựu đạt được 1986 2012

Kết quả thực hiện quyền phụ nữ trong giai đoạn này đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Sự tham gia của phụ nữ trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế và xã hội đã được nâng cao. Nhiều phụ nữ đã trở thành lãnh đạo trong các tổ chức và doanh nghiệp, góp phần vào sự phát triển chung của đất nước.

4.1. Sự tham gia của phụ nữ trong chính trị

Sự tham gia của phụ nữ trong các cơ quan lãnh đạo đã tăng lên đáng kể. Nhiều phụ nữ đã được bầu vào các vị trí quan trọng trong chính quyền, thể hiện sự thay đổi tích cực trong nhận thức về vai trò của phụ nữ trong xã hội.

4.2. Thành tựu trong lĩnh vực kinh tế và xã hội

Phụ nữ đã có những đóng góp quan trọng trong lĩnh vực kinh tế. Nhiều phụ nữ đã khởi nghiệp và thành công trong các lĩnh vực kinh doanh, góp phần vào sự phát triển kinh tế của đất nước. Điều này không chỉ nâng cao vị thế của phụ nữ mà còn tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người khác.

V. Những hạn chế và bài học kinh nghiệm trong thực hiện quyền phụ nữ

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu, việc thực hiện quyền phụ nữ vẫn còn nhiều hạn chế. Các vấn đề như bạo lực gia đình, phân biệt giới tính và thiếu cơ hội trong việc tham gia vào các quyết định chính trị vẫn tồn tại. Những hạn chế này cần được nhận diện và khắc phục để đảm bảo quyền lợi của phụ nữ được thực hiện đầy đủ.

5.1. Những hạn chế trong việc thực hiện quyền phụ nữ

Nhiều phụ nữ vẫn phải đối mặt với các vấn đề như bạo lực gia đình và phân biệt giới tính. Những vấn đề này không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của phụ nữ mà còn cản trở sự phát triển chung của xã hội.

5.2. Bài học kinh nghiệm từ thực tiễn

Việc thực hiện quyền phụ nữ cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và cộng đồng. Cần nâng cao nhận thức về quyền phụ nữ trong xã hội và tạo ra các cơ chế hỗ trợ để phụ nữ có thể thực hiện quyền lợi của mình.

VI. Kết luận và triển vọng tương lai về quyền phụ nữ ở Việt Nam

Việc thực hiện quyền phụ nữ ở Việt Nam đã có những bước tiến quan trọng trong giai đoạn từ 1986 đến 2012. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua. Tương lai, cần tiếp tục đẩy mạnh các chính sách và chương trình nhằm bảo vệ và phát triển quyền lợi của phụ nữ, đảm bảo rằng phụ nữ có thể tham gia đầy đủ vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

6.1. Tương lai của quyền phụ nữ trong chính sách của Đảng

Đảng Cộng sản Việt Nam cần tiếp tục khẳng định vai trò của phụ nữ trong các chính sách phát triển. Việc bảo vệ quyền phụ nữ cần được coi là một trong những ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát triển quốc gia.

6.2. Định hướng phát triển quyền phụ nữ trong giai đoạn tới

Cần có các chương trình cụ thể nhằm nâng cao nhận thức về quyền phụ nữ trong xã hội. Đồng thời, cần tạo ra các cơ chế hỗ trợ để phụ nữ có thể thực hiện quyền lợi của mình một cách đầy đủ và hiệu quả.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh đảng cộng sản việt nam lãnh đạo thực hiện quyền của phụ nữ từ năm 1986 đến năm 2012

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Đảng lãnh đạo thực hiện quyền phụ nữ, từ năm 1986 đến năm 1991. Chương 2: Đảng lãnh đạo thực hiện quyền phụ nữ, từ năm 1991 đến năm 2012. Chương 3: Bài học kinh nghiệm về Đảng lãnh đạo thực hiện quyền phụ nữ ở Việt Nam, giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2012. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng I: SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG NHẰM THỰC HIỆN QUYỀN PHỤ NỮ TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 1991 1.

QUYỀN PHỤ NỮ TRONG PHÁP LUẬT QUỐC TẾ 1. Khái niệm quyền phụ nữ Để hiểu rõ khái niệm quyền phụ nữ trước hết cần hiểu rõ khái niệm quyền con người. Theo cách tiếp cận của khoa hoc quyền con người "Quyền con người là quyền của tất cả mọi người, xuất phát từ nhân phẩm vốn có của con người, được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Quyền con người có tính phổ biến cho tất cả mọi người, không có bất kỳ sự phân biệt nào kể cả sự phân biệt về giới.

Cho nên về lý thuyết, con người nói chung có những quyền gì thì phụ nữ cũng có đầy đủ những quyền đó. Mặc dù về nguyên tắc, quyền phụ nữ là quyền con người của phụ nữ. Phụ nữ có quyền được hưởng trọn vẹn các quyền con người của mình như nam giới. Nhưng trên thực tế loài người vẫn có xu hướng mặc định việc “vạch đôi” xã hội: Một nửa là nam giới, nửa còn lại là nữ giới.

Sự phân biệt đối xử với phụ nữ còn tồn tại phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới, từ gia đình đến xã hội đã loại trừ hoặc hạn chế việc phụ nữ hưởng thụ các quyền con người đã được ghi nhận. Do đó, những quy định chung về quyền con người không đủ hiệu lực để bảo vệ người phụ nữ. Để phụ nữ thực thi được đầy đủ quyền con người của mình trên thực tế, một mặt phải đấu tranh chống mọi sự phân biệt đối xử với phụ nữ, mặt khác xây dựng thêm những quy phạm pháp luật có tính chất ưu tiên, hỗ trợ dành riêng cho phụ nữ để phụ nữ có cơ hội thụ hưởng đầy đủ những quyền con người của mình. Vì vậy có thể nói vấn đề 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trung tâm trong đấu tranh cho quyền phụ nữ là đấu tranh cho quyền bình đẳng thực sự của phụ nữ để phụ nữ hiện thực hóa các quyền con người của mình.

Xuất phát từ mối quan hệ tất yếu giữa quyền con người với quyền phụ nữ và đặc trưng riêng có của quyền phụ nữ, có thể định nghĩa quyền phụ nữ như sau: Quyền phụ nữ là quyền của tất cả phụ nữ, được pháp luật ghi nhận, bảo vệ; bao gồm những quyền chung của con người với tư cách là thành viên của cộng đồng xã hội và những quyền đặc thù riêng có của giới nữ. Quyền phụ nữ trong pháp luật quốc tế 1. Quyền phụ nữ trong Bộ luật quốc tế về quyền con người. Quyền con người, bao gồm cả quyền phụ nữ, đã được ghi nhận một cách tổng quát trong "Bộ luật quốc tế về quyền con người" bao gồm Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (1948); Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (1966) và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa (1966).

Tuyên ngôn thế giới về quyền con người là tuyên bố có tính cương lĩnh đưa ra những nguyên tắc và chuẩn mực chung về quyền con người mang tầm vóc toàn cầu. Tuyên ngôn tuyên bố, mọi người dù ở bất cứ nơi đâu trên thế giới cũng đều được hưởng các quyền và tự do cơ bản về dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa, mà "không có bất kỳ sự phân biệt nào về chủng tộc, màu da, giới tính " Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa đã thể chế hóa Tuyên ngôn, nhằm ràng buộc trách nhiệm pháp lý đối với các quốc gia thành viên công ước. Hai công ước đã ghi nhận các quyền con người trên các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa. Đó là các quyền: Không bị phân biệt đối xử, quyền sống, quyền tự do và an ninh cá nhân, quyền được bảo vệ không bị bắt làm nô lệ, quyền không bị tra tấn, quyền có tư cách pháp lý ở mọi nơi, quyền được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng, quyền được bồi thường khi bị vi phạm, quyền được bảo vệ khỏi bị bắt giữ, giam cầm hoặc lưu đày một cách tuỳ tiện, quyền được xét xử bởi một toà án độc lập và không thiên vị, quyền được suy đoán vô tội, quyền được bảo vệ không bị áp dụng luật hồi tố, quyền về đời tư, quyền tự do đi lại, quyền có 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quốc tịch, quyền kết hôn và lập gia đình, bảo vệ và trợ giúp gia đình, các quyền bình đẳng giữa nam và nữ trong hôn nhân, quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo, quyền tự do ý kiến và biểu đạt, quyền tự do hội họp tự do lập hội, quyền tham gia chính quyền, quyền an sinh xã hội, quyền có việc làm, quyền có điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi, quyền về công đoàn, quyền được nghỉ ngơi, giải trí, quyền có mức sống thích đáng, quyền giáo dục, quyền được tham gia vào đời sống văn hoá, quyền tự quyết dân tộc, quyền của trẻ em được bảo vệ và trợ giúp, quyền không bị đói, quyền về sức khoẻ, quyền có nơi lánh nạn, quyền có tài sản riêng, giáo dục tiểu học miễn phí, quyền được đối xử nhân đạo khi bị tước tự do, quyền được bảo vệ để không bị tù đày vì nợ nần, chỉ trục xuất người nước ngoài theo quy định của pháp luật, cấm tuyên truyền chiến tranh và kích động sự phân biệt đối xử, quyền của người thiểu số được có đời sống văn hoá riêng Cả hai công ước trên đều quy định rõ rằng các quyền được ghi nhận trong các văn kiện đó được áp dụng cho tất cả mọi người, không có bất cứ sự phân biệt nào kể cả sự phân biệt về giới tính.

Thêm vào đó, các quốc gia thành viên đặc biệt cam kết bảo đảm quyền bình đẳng giữa nam và nữ trong việc hưởng thụ tất cả các quyền đề ra trong mỗi công ước. Khái quát về quyền bình đẳng của phụ nữ trong luật quốc tế. Do phụ nữ là một nhóm xã hội hết sức quan trọng, chiếm hơn nửa dân số thế giới, nhưng phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới phụ nữ luôn phải chịu một địa vị thấp kém hơn so với nam giới, chỉ bởi họ là phụ nữ. Đó chính là lý do cùng với việc hoàn thiện những văn kiện quốc tế mang tính tổng quát về quyền con người, LHQ đã ban hành những văn kiện riêng nhằm bảo vệ và hiện thực hóa các quyền con người của phụ nữ đã được ghi nhận.

Năm 1953, LHQ thông qua Công ước về các quyền chính trị của phụ nữ. Công ước này quy định phụ nữ bình đẳng với nam giới trên mọi lĩnh vực, có quyền bầu cử, ứng cử, quyền được nhận vào làm việc và giữ các chức vụ trong cơ quan nhà nước Năm 1957, Công ước về quốc tịch của phụ nữ khi kết hôn được thông qua. Công ước này quy định phụ nữ không thể bị thay đổi quốc tịch một cách đương 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhiên do kết hôn, do hủy hôn hoặc người chồng thay đổi quốc tịch. Năm 1962, Công ước về điều kiện kết hôn, tuổi kết hôn tối thiểu và việc đăng ký kết hôn được thông qua.

Công ước này khẳng định phụ nữ có quyền được lựa chọn người phối ngẫu, phụ nữ được bảo vệ chống lại nạn tảo hôn và cưỡng ép kết hôn. Mặc dù thế giới đã có nhiều văn kiện quốc tế ghi nhận và bảo vệ quyền của phụ nữ như đã trình bày ở trên nhưng các văn kiện đó mới chỉ dừng lại ở việc ghi nhận quyền của phụ nữ ở những khía cạnh riêng lẻ trong tổng thể các quyền phụ nữ vốn tồn tại là một thể thống nhất. Mặt khác, các công ước trên không đủ sức mạnh để chống lại sự phân biệt đối xử với phụ nữ vẫn đang diễn ra rất phổ biến, vi phạm nghiêm trọng quyền con người của phụ nữ và hạn chế những đóng góp của phụ nữ cho sự phát triển của xã hội. Do đó, cần phải có một văn bản đề cập đến quyền con người của phụ nữ một cách toàn diện và đề ra được những biện pháp cụ thể nhằm khắc phục những cản trở trong việc thực hiện các quyền của phụ nữ.

Vì lý do đó, Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) đã ra đời1. Nội dung cơ bản của Công ước CEDAW đề cập đến những vấn đề sau: định nghĩa sự phân biệt đối xử với phụ nữ; nghĩa vụ của các quốc gia thành viên tiến hành những biện pháp để xóa bỏ sự phân biệt đối xử với phụ nữ mang tính toàn diện cả về pháp lý, chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội; những biện pháp đặc biệt tạm thời để chống lại sự phân biệt đối xử với phụ nữ; sửa đổi khuôn mẫu văn hóa, xã hội; loại bỏ việc buôn bán và bóc lột tình dục phụ nữ; bình đẳng cho phụ nữ trong đời sống chính trị, xã hội ở cấp độ quốc gia và quốc tế; bình đẳng về quốc tịch; bình đẳng về giáo dục; bình đẳng về lao động việc làm; bình đẳng về chăm sóc sức khỏe; bình đẳng trong đời sống kinh tế, xã hội; đảm bảo quyền bình đẳng cho phụ nữ nông thôn; bình đẳng về tư cách pháp lý trong quan hệ dân sự; bình đẳng trong quan hệ hôn nhân gia đình (Điều 1-16). 1 Công ước đã được LHQ thông qua ngày 18/12/1979 và có hiệu lực từ ngày 3/9/1981. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khác với các điều ước quốc tế về quyền con người khác trong đó vấn đề bất bình đẳng giới được quy định chung, Công ước CEDAW đã chỉ ra cụ thể những lĩnh vực hiện đang tồn tại sự phân biệt đối xử với phụ nữ một cách nặng nề để từ đó xác định những biện pháp thích hợp nhằm loại bỏ hoàn toàn tình trạng bất bình đẳng của phụ nữ trong gia đình cũng như ngoài xã hội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ