Luận văn thạc sĩ về lãnh đạo Đảng bộ tỉnh Hòa Bình thực hiện Chương trình 135 từ năm 1999 đến 2010

Luận văn thạc sĩ phân tích vai trò của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình trong thực hiện chương trình 135 giai đoạn 1999-2010, nêu rõ thành tựu và thách thức.

Chuyên ngành

Lịch sử

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

153
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Tình hình nghiên cứu vấn đề

0.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

0.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.5. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

0.6. Đóng góp của luận văn

0.7. Kết cấu của luận văn

1. CHƯƠNG 1: CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HÒA BÌNH ĐỐI VỚI THỰC HIỆN CHƢƠNG TRÌNH 135 GIAI ĐOẠN I (1999 - 2005)

1.1. Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình

1.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Hòa Bình

1.2. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HÒA BÌNH ĐỐI VỚI THỰC HIỆN CHƢƠNG TRÌNH 135 GIAI ĐOẠN II (2006 - 2010)

2.1. Chủ trƣơng của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình

2.2. Chương trình 135 giai đoạn II

2.3. Tình hình các xã ở tỉnh Hòa Bình thuộc Chương trình 135 giai đoạn II và chủ trương của Đảng bộ tỉnh

2.4. Chỉ đạo thực hiện

2.4.1. Công tác tổ chức. Triển khai thực hiện Chương trình và kiểm tra, giám sát thực hiện Chương trình

2.5. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM

3.1. Một số nhận xét

3.2. Về hạn chế

3.3. Một số kinh nghiệm

3.3.1. Xác định thực hiện thành công Chương trình là nhiệm vụ chính trị trọng tâm

3.3.2. Xây dựng đội ngũ cán bộ thực hiện Chương trình đáp ứng yêu cầu

3.3.3. Đảm bảo nguyên tắc dân chủ công khai trong thực hiện Chương trình đi đôi với tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát

3.3.4. Huy động đa dạng các nguồn lực; đồng thời, lồng ghép Chương trình 135 với các chương trình, dự án khác

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về lãnh đạo Đảng bộ tỉnh Hòa Bình thực hiện Chương trình 135

Chương trình 135 được triển khai từ năm 1999 đến 2010 nhằm phát triển kinh tế - xã hội cho các xã đặc biệt khó khăn tại tỉnh Hòa Bình. Đảng bộ tỉnh đã có những chủ trương và chính sách cụ thể để thực hiện chương trình này, nhằm giảm nghèo bền vững và nâng cao đời sống cho người dân. Sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình trong việc thực hiện Chương trình 135 đã góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

1.1. Chương trình 135 và mục tiêu phát triển kinh tế xã hội

Chương trình 135 được thiết kế nhằm xóa đói giảm nghèo cho các xã đặc biệt khó khăn, với mục tiêu chính là nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân. Chương trình này không chỉ tập trung vào phát triển kinh tế mà còn chú trọng đến việc cải thiện cơ sở hạ tầng và giáo dục.

1.2. Vai trò của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình trong Chương trình 135

Đảng bộ tỉnh Hòa Bình đã đóng vai trò quan trọng trong việc chỉ đạo và triển khai Chương trình 135. Các quyết định và chính sách của Đảng bộ đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện chương trình, từ đó giúp nâng cao hiệu quả của các dự án phát triển.

II. Những thách thức trong quá trình thực hiện Chương trình 135 tại Hòa Bình

Mặc dù Chương trình 135 đã đạt được nhiều thành tựu, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua. Những khó khăn trong việc triển khai chính sách, sự thiếu hụt nguồn lực và năng lực của đội ngũ cán bộ là những vấn đề cần được giải quyết.

2.1. Hạn chế trong nhận thức và năng lực cán bộ

Một trong những thách thức lớn nhất là trình độ nhận thức của người dân và năng lực của đội ngũ cán bộ cơ sở còn hạn chế. Điều này ảnh hưởng đến việc triển khai các chính sách và chương trình phát triển.

2.2. Khó khăn trong việc huy động nguồn lực

Việc huy động nguồn lực cho Chương trình 135 gặp nhiều khó khăn do sự cạnh tranh với các chương trình khác. Điều này dẫn đến việc thiếu hụt kinh phí và tài nguyên cho các dự án phát triển.

III. Phương pháp lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình trong Chương trình 135

Đảng bộ tỉnh Hòa Bình đã áp dụng nhiều phương pháp lãnh đạo khác nhau để thực hiện Chương trình 135. Những phương pháp này bao gồm việc xây dựng kế hoạch chi tiết, tổ chức các cuộc họp định kỳ và tăng cường sự tham gia của cộng đồng.

3.1. Xây dựng kế hoạch chi tiết cho từng giai đoạn

Đảng bộ đã xây dựng các kế hoạch chi tiết cho từng giai đoạn của Chương trình 135, từ đó giúp xác định rõ các mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể cần thực hiện.

3.2. Tăng cường sự tham gia của cộng đồng

Sự tham gia của cộng đồng là yếu tố quan trọng trong việc thực hiện Chương trình 135. Đảng bộ đã khuyến khích người dân tham gia vào quá trình lập kế hoạch và triển khai các dự án.

IV. Kết quả đạt được từ Chương trình 135 tại Hòa Bình

Chương trình 135 đã mang lại nhiều kết quả tích cực cho tỉnh Hòa Bình. Nhiều xã đặc biệt khó khăn đã có sự chuyển biến rõ rệt về kinh tế và xã hội, đời sống của người dân được cải thiện đáng kể.

4.1. Cải thiện cơ sở hạ tầng và dịch vụ xã hội

Một trong những kết quả nổi bật của Chương trình 135 là việc cải thiện cơ sở hạ tầng, bao gồm đường giao thông, trường học và trạm y tế. Điều này đã giúp nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân.

4.2. Tăng cường sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế

Chương trình 135 đã hỗ trợ người dân trong việc phát triển sản xuất nông nghiệp, từ đó giúp tăng thu nhập và giảm nghèo bền vững. Nhiều mô hình sản xuất mới đã được áp dụng thành công.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho Chương trình 135

Kết thúc giai đoạn thực hiện Chương trình 135, Đảng bộ tỉnh Hòa Bình cần tiếp tục duy trì và phát huy những thành tựu đã đạt được. Hướng đi tương lai cần tập trung vào việc nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ và huy động nguồn lực hiệu quả hơn.

5.1. Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện

Cần có các giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả thực hiện Chương trình 135, bao gồm việc cải cách quy trình đầu tư và tăng cường công tác giám sát.

5.2. Tầm nhìn phát triển bền vững cho Hòa Bình

Tương lai của tỉnh Hòa Bình cần hướng tới phát triển bền vững, kết hợp giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, nhằm đảm bảo cuộc sống tốt đẹp cho các thế hệ sau.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh đảng bộ tỉnh hòa bình lãnh đạo thực hiện chương trình 135 từ năm 1999 đến năm 2010

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo luận văn gồm 3 chương. Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình đối với thực hiện Chương trình 135 giai đoạn I (1999 - 2005) Chƣơng 2. Sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình đối với thực hiện Chương trình 135 giai đoạn II (2006 - 2010) Chƣơng 3. Một số nhận xét và kinh nghiệm 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HÒA BÌNH ĐỐI VỚI THỰC HIỆN CHƢƠNG TRÌNH 135 GIAI ĐOẠN I (1999 - 2005) 1.

Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình 1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Hòa Bình Hòa Bình là tỉnh miền núi, cửa ngõ vùng Tây Bắc của Tổ quốc. Đây là vùng đất cổ, có bề dày lịch sử, là trung tâm của nền văn hóa Hòa Bình. Nhân dân các dân tộc Hòa Bình có truyền thống cần cù sáng tạo trong lao động sản xuất, đoàn kết thủy chung trong cuộc sống và kiên cường bất khuất trong quá trình dựng nước và giữ nước.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam và Đảng bộ tỉnh Hòa Bình, nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã phát huy truyền thống yêu nước nồng nàn, không ngừng phấn đấu, vượt qua khó khăn thử thách, lập được nhiều chiến công trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, kháng chiến chống Mỹ và công cuộc đổi mới xây dựng quê hương đất nước. Năm 2002 tỉnh vinh dự được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”. Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của tỉnh Ngày 22/6/1886, tỉnh Mường được thành lập trên cơ sở cắt những vùng đất đai có đồng bào Mường cư trú thuộc các tỉnh Hưng Hóa, Sơn Tây, Hà Nội và Ninh Bình theo chính sách “chia để trị” của chính quyền thực dân Pháp. Lúc này tỉnh Mường gồm bốn phủ là: Vàng An, Lương Sơn, Chợ Bờ, Lạc Sơn.

Tỉnh lỵ được đặt ở Chợ Bờ. Ngày 05/9/1896, tỉnh lỵ của tỉnh Mường được chuyển về xã Hòa Bình, từ đó tỉnh được đổi tên thành tỉnh Hòa Bình. Tỉnh gồm có bốn châu là: Lương 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sơn, Lạc Sơn, Kỳ Sơn và Mai Đà. Huyện Lạc Thủy thuộc châu Lạc Sơn.

Đến tháng 10 năm 1908, huyên Lạc Thủy được chuyển về tỉnh Hà Nam. Từ năm 1896, địa giới hành chính của tỉnh cơ bản ổn định. Đến năm 1950, các châu được chuyển thành các huyện sau đó các đơn vị hành chính huyện có một số thay đổi. Năm 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước giành được thắng lợi, miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc Việt Nam đã thống nhất về mặt lãnh thổ, nhiệm vụ đặt ra là hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước để tạo cơ sở cho cả nước tiến lên CNXH.

Trước nhiệm vụ đó, ngày 27/12/1975, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khóa V đã họp kỳ họp thứ hai và ra nghị quyết hợp nhất một số tỉnh; theo đó, tỉnh Hòa Bình và tỉnh Hà Tây hợp nhất thành tỉnh Hà Sơn Bình. Tỉnh Hà Sơn Bình chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/04/1976. Sau Đại hội toàn quốc lần thứ VII của Đảng (6/1991), với tinh thần đổi mới, thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội, tại kỳ họp thứ IX, ngày 12/8/1991, Quốc hội khóa VIII quyết định điều chỉnh địa giới hành chính và chia lại một số tỉnh. Tỉnh Hà Sơn Bình được chia thành tỉnh Hòa Bình và Hà Tây.

Đến ngày 12/12/2001, theo nguyện vọng của cán bộ đảng viên và nhân dân các dân tộc huyện Kỳ Sơn và tỉnh Hòa Bình, Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam ra Nghị định số 95/2001/NĐ-CP, chia huyện Kỳ Sơn thành 2 huyện là: Kỳ Sơn và Cao Phong. Ngày 27/10/2006, thị xã Hòa Bình trở thành đô thị loại 3 với tên gọi mới là thành phố Hòa Bình. Ngày 24/7/2009, Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam ra Nghị quyết số 31/NQ-CP điều chỉnh địa giới hành chính một số huyện, thành phố tỉnh Hòa Bình, trong đó chuyển bốn xã: Tiến Xuân, Đông Xuân, Yên Bình và Yên 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trung của huyện Lương Sơn về huyện Thạch Thất của Hà Nội. Từ đây Hòa Bình có 210 xã, phường, thị trấn.

Như vậy, từ khi thành lập (1886) đến năm 2009, tỉnh Hòa Bình đã trải qua nhiều lần biến đổi về địa giới hành chính. Hiện nay tỉnh Hòa Bình có tổng diện tích là 4.596,4 km2, gồm 10 huyện và 1 thành phố: Lương Sơn, Kỳ Sơn, Cao Phong, Đà Bắc, Mai Châu, Tân Lạc, Lạc Sơn, Kim Bôi, Lạc Thủy, Yên Thủy và Thành phố Hòa Bình với 210 xã, phường, thị trấn. Dân cư toàn tỉnh là 832.543 người, gồm 7 dân tộc chính cùng chung sống lâu đời là: Mường, Kinh, Thái, Tày, Dao, H’mông và Hoa [1, tr. Điều kiện tự nhiên Hòa Bình là một tỉnh miền núi, cửa ngõ vùng Tây Bắc, là địa bàn quan trọng có ý nghĩa chiến lược ở Bắc Bộ.

Hệ thống giao thông huyết mạch nối Hòa Bình với các vùng kể trên là Quốc lộ 6 có độ dài qua Hòa Bình là 125 km nối Hà Nội, Đồng bằng Bắc Bộ với Tây Bắc và Thượng Lào. Đường số 12, 15 nối Ninh Bình, Thanh Hóa qua Hòa Bình nối với Tây Bắc, Việt Bắc. Đường 21 chạy dọc địa giới phía đông tỉnh nối khu quân sự Sơn Lộc (Sơn Tây) với Hà Nội, Ninh Bình, Thanh Hóa. Hệ thống giao thông này cùng các con đường liên xã, liên huyện đã tạo điều kiện cho việc giao lưu phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa diễn ra dễ dàng hơn.

Tuy nhiên, hệ thống giao thông này hình thành trên địa hình, địa thế của núi rừng trong tỉnh khá hiểm trở. Điều này dẫn tới các con đường thường phải bám các sườn đồi, núi có độ cua, độ dốc cao gây không ít khó khăn cho việc đi lại. Núi rừng Hòa Bình chia cắt phức tạp, độ dốc lớn chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, chia thành hai tiểu vùng. Xen kẽ các dãy núi có những thung lũng trải rộng, kéo dài thành những cánh đồng tương đối bằng phẳng cùng hàng trăm con suối lớn nhỏ và các triền bãi ven sông hình thành nên các 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Mường trù phú thường được ca tụng trong các xứ Mường “Nhất Bi, nhì Vang, tam Thàng, tứ Động”.

Hòa Bình có hệ thống sông suối phân bố tương đối dày và đều khắp ở các huyện. Trong đó sông Đà là dòng sông lớn. Hồ sông Đà có dung tích 9,5 tỷ m3 nước nối liền với Sơn La, phần hạ lưu chảy qua Phú Thọ, Hà Nội thông với sông Hồng. Ngoài ra còn có sông Bưởi dài 55 km (huyện Tân Lạc), sông Bôi dài 125 km, sông Bùi, sông Lãng.

Các con sông này vừa có giá trị thủy văn lớn, vừa có giá trị giao thông nhất là sông Đà. Năm 1979 được sự giúp đỡ của Liên Xô, công trình thủy điện Hòa Bình trên sông Đà được khởi công xây dựng. Đây là công trình thủy điện lớn nhất vùng Đông Nam Á, với 8 tổ máy có công suất là 1,92 triệu kw, sản lượng điện hằng năm là 8,16 tỷ kw/h [1, tr. Ngoài ra những dòng sông suối, ao hồ cũng phục vụ sản xuất, sinh hoạt, nuôi trồng thủy sản.

Về tài nguyên khoáng sản. Thiên nhiên ban tặng Hòa Bình nhiều tài nguyên thiên nhiên phong phú, phải kể đến một số loại khoáng sản như: than, amiăng, vàng.Đáng chú ý là than mỡ ở Kim Bôi tuy trữ lượng không lớn nhưng rất cần cho công nghiệp luyện kim. Nước khoáng cũng là tài nguyên quý có giá trị và được khai thác ở Hòa Bình, đặc biệt phải kể đến nước khoáng ở Kim Bôi đã được chế biến phục vụ chữa bệnh, giải khát và du lịch đem lại giá trị kinh tế cao cho huyện và tỉnh. Ngoài ra phải kể đến một loại tài nguyên khác như đá vôi, đá xanh - nguồn nguyên liệu có giá trị trong công nghiệp xây dựng (làm cầu, đường giao thông, khai thác đá, xi măng).

Tài nguyên rừng. Nông - lâm nghiệp là tiềm năng kinh tế quan trọng hàng đầu của tỉnh, đặc biệt là tiềm năng về lâm nghiệp. Trong tổng số 307.755 ha đất đai nông - lâm nghiệp thì đất đai lâm nghiệp chiếm tới 250.168 ha, chiếm gần 80%. Từ xa xưa rừng là tài nguyên quý giá nhất của Hòa Bình với nhiều loại gỗ quý có giá trị kinh tế, giá trị sử dụng cao như: 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đinh, lim, sến, bương, tre, nứa, song, mây, các loại cây công nghiệp, cây ăn quả, đặc sản rừng, các cây thuốc…[1, tr.

Tài nguyên đất. Đất là nguồn tài nguyên quan trọng đối với phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, địa phương. Tuy nhiên, đất đai cày cấy trồng trọt của Hòa Bình không nhiều. Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, diện tích cấy lúa - hoa màu chỉ khoảng 4.500 ha do chủ yếu dựa vào điều kiện tự nhiên, nước tự chảy.

Sau nhiều năm nỗ lực làm thủy lợi, cải tạo đồng ruộng, khai phá đất đai, diện tích cấy lúa, cây màu lên tới 29.243 ha nhưng cũng chỉ chiếm 10% diện tích nông - lâm nghiệp toàn tỉnh [1, tr. Diện tích đất ở chỉ chiếm 1,25% tổng diện tích đất đai toàn tỉnh trong khi đó diện tích chưa sử dụng còn tới 172.014ha, chiếm tới 36,89% diện tích toàn tỉnh [21, tr. Điều này đã gây lãng phí và đòi hỏi các cấp, ngành có chính sách đầu tư, khuyến khích nhân dân sử dụng, khai thác đất hiệu quả hơn. Điều kiện kinh tế - xã hội Với điều kiện tự nhiên như vậy Hòa Bình tập trung phát triển kinh tế theo hướng: nông - lâm - công nghiệp, du lịch, xuất nhập khẩu, dịch vụ.

Đây là hướng phát triển kinh tế nhằm khai thác triệt để tiềm năng thế mạnh về đất đai, rừng, tài nguyên khoáng sản, lao động dồi dào, khí hậu, thủy văn của tỉnh. Sản xuất nông - lâm nghiệp được xác định là nhiệm vụ hàng đầu của tỉnh. Vì vậy, tỉnh đã tập trung lãnh đạo chỉ đạo tích cực việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, thâm canh lúa và hoa màu, cây công nghiệp, hình thành nhánh mạch các vùng sản xuất hàng hóa tập trung với những cây trồng vật nuôi. Nông nghiệp gồm các cây chính là lúa, ngô, sắn, khoai trong đó cây lúa là cây lương thực chủ yếu.

Năm 1996, diện tích gieo cấy lúa ruộng là 39.606 ha, năng suất 29 tạ/ ha, tổng sản lượng lúa là 114. Lâm nghiệp là thế mạnh của Hòa Bình.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ