phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo luận văn gồm 3 chương. Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình đối với thực hiện Chương trình 135 giai đoạn I (1999 - 2005) Chƣơng 2. Sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình đối với thực hiện Chương trình 135 giai đoạn II (2006 - 2010) Chƣơng 3. Một số nhận xét và kinh nghiệm 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HÒA BÌNH ĐỐI VỚI THỰC HIỆN CHƢƠNG TRÌNH 135 GIAI ĐOẠN I (1999 - 2005) 1.
Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình 1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Hòa Bình Hòa Bình là tỉnh miền núi, cửa ngõ vùng Tây Bắc của Tổ quốc. Đây là vùng đất cổ, có bề dày lịch sử, là trung tâm của nền văn hóa Hòa Bình. Nhân dân các dân tộc Hòa Bình có truyền thống cần cù sáng tạo trong lao động sản xuất, đoàn kết thủy chung trong cuộc sống và kiên cường bất khuất trong quá trình dựng nước và giữ nước.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam và Đảng bộ tỉnh Hòa Bình, nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã phát huy truyền thống yêu nước nồng nàn, không ngừng phấn đấu, vượt qua khó khăn thử thách, lập được nhiều chiến công trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, kháng chiến chống Mỹ và công cuộc đổi mới xây dựng quê hương đất nước. Năm 2002 tỉnh vinh dự được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”. Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của tỉnh Ngày 22/6/1886, tỉnh Mường được thành lập trên cơ sở cắt những vùng đất đai có đồng bào Mường cư trú thuộc các tỉnh Hưng Hóa, Sơn Tây, Hà Nội và Ninh Bình theo chính sách “chia để trị” của chính quyền thực dân Pháp. Lúc này tỉnh Mường gồm bốn phủ là: Vàng An, Lương Sơn, Chợ Bờ, Lạc Sơn.
Tỉnh lỵ được đặt ở Chợ Bờ. Ngày 05/9/1896, tỉnh lỵ của tỉnh Mường được chuyển về xã Hòa Bình, từ đó tỉnh được đổi tên thành tỉnh Hòa Bình. Tỉnh gồm có bốn châu là: Lương 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sơn, Lạc Sơn, Kỳ Sơn và Mai Đà. Huyện Lạc Thủy thuộc châu Lạc Sơn.
Đến tháng 10 năm 1908, huyên Lạc Thủy được chuyển về tỉnh Hà Nam. Từ năm 1896, địa giới hành chính của tỉnh cơ bản ổn định. Đến năm 1950, các châu được chuyển thành các huyện sau đó các đơn vị hành chính huyện có một số thay đổi. Năm 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước giành được thắng lợi, miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc Việt Nam đã thống nhất về mặt lãnh thổ, nhiệm vụ đặt ra là hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước để tạo cơ sở cho cả nước tiến lên CNXH.
Trước nhiệm vụ đó, ngày 27/12/1975, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khóa V đã họp kỳ họp thứ hai và ra nghị quyết hợp nhất một số tỉnh; theo đó, tỉnh Hòa Bình và tỉnh Hà Tây hợp nhất thành tỉnh Hà Sơn Bình. Tỉnh Hà Sơn Bình chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/04/1976. Sau Đại hội toàn quốc lần thứ VII của Đảng (6/1991), với tinh thần đổi mới, thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội, tại kỳ họp thứ IX, ngày 12/8/1991, Quốc hội khóa VIII quyết định điều chỉnh địa giới hành chính và chia lại một số tỉnh. Tỉnh Hà Sơn Bình được chia thành tỉnh Hòa Bình và Hà Tây.
Đến ngày 12/12/2001, theo nguyện vọng của cán bộ đảng viên và nhân dân các dân tộc huyện Kỳ Sơn và tỉnh Hòa Bình, Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam ra Nghị định số 95/2001/NĐ-CP, chia huyện Kỳ Sơn thành 2 huyện là: Kỳ Sơn và Cao Phong. Ngày 27/10/2006, thị xã Hòa Bình trở thành đô thị loại 3 với tên gọi mới là thành phố Hòa Bình. Ngày 24/7/2009, Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam ra Nghị quyết số 31/NQ-CP điều chỉnh địa giới hành chính một số huyện, thành phố tỉnh Hòa Bình, trong đó chuyển bốn xã: Tiến Xuân, Đông Xuân, Yên Bình và Yên 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trung của huyện Lương Sơn về huyện Thạch Thất của Hà Nội. Từ đây Hòa Bình có 210 xã, phường, thị trấn.
Như vậy, từ khi thành lập (1886) đến năm 2009, tỉnh Hòa Bình đã trải qua nhiều lần biến đổi về địa giới hành chính. Hiện nay tỉnh Hòa Bình có tổng diện tích là 4.596,4 km2, gồm 10 huyện và 1 thành phố: Lương Sơn, Kỳ Sơn, Cao Phong, Đà Bắc, Mai Châu, Tân Lạc, Lạc Sơn, Kim Bôi, Lạc Thủy, Yên Thủy và Thành phố Hòa Bình với 210 xã, phường, thị trấn. Dân cư toàn tỉnh là 832.543 người, gồm 7 dân tộc chính cùng chung sống lâu đời là: Mường, Kinh, Thái, Tày, Dao, H’mông và Hoa [1, tr. Điều kiện tự nhiên Hòa Bình là một tỉnh miền núi, cửa ngõ vùng Tây Bắc, là địa bàn quan trọng có ý nghĩa chiến lược ở Bắc Bộ.
Hệ thống giao thông huyết mạch nối Hòa Bình với các vùng kể trên là Quốc lộ 6 có độ dài qua Hòa Bình là 125 km nối Hà Nội, Đồng bằng Bắc Bộ với Tây Bắc và Thượng Lào. Đường số 12, 15 nối Ninh Bình, Thanh Hóa qua Hòa Bình nối với Tây Bắc, Việt Bắc. Đường 21 chạy dọc địa giới phía đông tỉnh nối khu quân sự Sơn Lộc (Sơn Tây) với Hà Nội, Ninh Bình, Thanh Hóa. Hệ thống giao thông này cùng các con đường liên xã, liên huyện đã tạo điều kiện cho việc giao lưu phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa diễn ra dễ dàng hơn.
Tuy nhiên, hệ thống giao thông này hình thành trên địa hình, địa thế của núi rừng trong tỉnh khá hiểm trở. Điều này dẫn tới các con đường thường phải bám các sườn đồi, núi có độ cua, độ dốc cao gây không ít khó khăn cho việc đi lại. Núi rừng Hòa Bình chia cắt phức tạp, độ dốc lớn chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, chia thành hai tiểu vùng. Xen kẽ các dãy núi có những thung lũng trải rộng, kéo dài thành những cánh đồng tương đối bằng phẳng cùng hàng trăm con suối lớn nhỏ và các triền bãi ven sông hình thành nên các 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Mường trù phú thường được ca tụng trong các xứ Mường “Nhất Bi, nhì Vang, tam Thàng, tứ Động”.
Hòa Bình có hệ thống sông suối phân bố tương đối dày và đều khắp ở các huyện. Trong đó sông Đà là dòng sông lớn. Hồ sông Đà có dung tích 9,5 tỷ m3 nước nối liền với Sơn La, phần hạ lưu chảy qua Phú Thọ, Hà Nội thông với sông Hồng. Ngoài ra còn có sông Bưởi dài 55 km (huyện Tân Lạc), sông Bôi dài 125 km, sông Bùi, sông Lãng.
Các con sông này vừa có giá trị thủy văn lớn, vừa có giá trị giao thông nhất là sông Đà. Năm 1979 được sự giúp đỡ của Liên Xô, công trình thủy điện Hòa Bình trên sông Đà được khởi công xây dựng. Đây là công trình thủy điện lớn nhất vùng Đông Nam Á, với 8 tổ máy có công suất là 1,92 triệu kw, sản lượng điện hằng năm là 8,16 tỷ kw/h [1, tr. Ngoài ra những dòng sông suối, ao hồ cũng phục vụ sản xuất, sinh hoạt, nuôi trồng thủy sản.
Về tài nguyên khoáng sản. Thiên nhiên ban tặng Hòa Bình nhiều tài nguyên thiên nhiên phong phú, phải kể đến một số loại khoáng sản như: than, amiăng, vàng.Đáng chú ý là than mỡ ở Kim Bôi tuy trữ lượng không lớn nhưng rất cần cho công nghiệp luyện kim. Nước khoáng cũng là tài nguyên quý có giá trị và được khai thác ở Hòa Bình, đặc biệt phải kể đến nước khoáng ở Kim Bôi đã được chế biến phục vụ chữa bệnh, giải khát và du lịch đem lại giá trị kinh tế cao cho huyện và tỉnh. Ngoài ra phải kể đến một loại tài nguyên khác như đá vôi, đá xanh - nguồn nguyên liệu có giá trị trong công nghiệp xây dựng (làm cầu, đường giao thông, khai thác đá, xi măng).
Tài nguyên rừng. Nông - lâm nghiệp là tiềm năng kinh tế quan trọng hàng đầu của tỉnh, đặc biệt là tiềm năng về lâm nghiệp. Trong tổng số 307.755 ha đất đai nông - lâm nghiệp thì đất đai lâm nghiệp chiếm tới 250.168 ha, chiếm gần 80%. Từ xa xưa rừng là tài nguyên quý giá nhất của Hòa Bình với nhiều loại gỗ quý có giá trị kinh tế, giá trị sử dụng cao như: 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đinh, lim, sến, bương, tre, nứa, song, mây, các loại cây công nghiệp, cây ăn quả, đặc sản rừng, các cây thuốc…[1, tr.
Tài nguyên đất. Đất là nguồn tài nguyên quan trọng đối với phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, địa phương. Tuy nhiên, đất đai cày cấy trồng trọt của Hòa Bình không nhiều. Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, diện tích cấy lúa - hoa màu chỉ khoảng 4.500 ha do chủ yếu dựa vào điều kiện tự nhiên, nước tự chảy.
Sau nhiều năm nỗ lực làm thủy lợi, cải tạo đồng ruộng, khai phá đất đai, diện tích cấy lúa, cây màu lên tới 29.243 ha nhưng cũng chỉ chiếm 10% diện tích nông - lâm nghiệp toàn tỉnh [1, tr. Diện tích đất ở chỉ chiếm 1,25% tổng diện tích đất đai toàn tỉnh trong khi đó diện tích chưa sử dụng còn tới 172.014ha, chiếm tới 36,89% diện tích toàn tỉnh [21, tr. Điều này đã gây lãng phí và đòi hỏi các cấp, ngành có chính sách đầu tư, khuyến khích nhân dân sử dụng, khai thác đất hiệu quả hơn. Điều kiện kinh tế - xã hội Với điều kiện tự nhiên như vậy Hòa Bình tập trung phát triển kinh tế theo hướng: nông - lâm - công nghiệp, du lịch, xuất nhập khẩu, dịch vụ.
Đây là hướng phát triển kinh tế nhằm khai thác triệt để tiềm năng thế mạnh về đất đai, rừng, tài nguyên khoáng sản, lao động dồi dào, khí hậu, thủy văn của tỉnh. Sản xuất nông - lâm nghiệp được xác định là nhiệm vụ hàng đầu của tỉnh. Vì vậy, tỉnh đã tập trung lãnh đạo chỉ đạo tích cực việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, thâm canh lúa và hoa màu, cây công nghiệp, hình thành nhánh mạch các vùng sản xuất hàng hóa tập trung với những cây trồng vật nuôi. Nông nghiệp gồm các cây chính là lúa, ngô, sắn, khoai trong đó cây lúa là cây lương thực chủ yếu.
Năm 1996, diện tích gieo cấy lúa ruộng là 39.606 ha, năng suất 29 tạ/ ha, tổng sản lượng lúa là 114. Lâm nghiệp là thế mạnh của Hòa Bình.