Chương 1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC DẠY NGHỀ CỦA TỈNH BÌNH DƯƠNG TRƯỚC NĂM 2005 1. Điều kiện tự nhiên - đặc điểm lịch sử 1. Vị trí địa lý, địa hình, địa mạo, địa chất Tỉnh Bình Dương nằm trong khu vực miền Đông Nam Bộ, diện tích tự nhiên 2.695,54 km2, chiếm 0,83% diện tích cả nước, có tọa độ địa lý 100 51’ 46’’ - 110 vĩ độ Bắc, 1060 20’ - 1060 58’ kinh độ Đông, Bình Dương tiếp giáp với các tỉnh thành phố sau: Phía Bắc giáp tỉnh Bình Phước, phía Nam giáp thành phố Hồ Chí Minh, phía Đông giáp tỉnh Đồng Nai, phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh và thành phố Hồ Chí Minh [119, tr. Trên bản đồ kiến tạo Việt Nam, tỉnh Bình Dương nằm ở vị trí rìa tiếp xúc giữa đới nâng bóc mòn Đà Lạt và đới sụt lún tích tụ đồng bằng sông Cửu Long, với hai hệ thống đứt gãy chính phân cắt theo hướng thấp dần từ bắc tới nam.
Nhìn chung địa hình tỉnh Bình Dương đặc trưng cho vùng trung du tiếp giáp giữa vùng núi cao Nam Trường Sơn và đồng bằng thấp Nam bộ. Trên diện tích tỉnh có sự chuyển tiếp từ từ giữa địa hình đồi núi thấp ở phía bắc sang địa hình đồng bằng thấp ở phía nam, với sự chênh lệch độ cao không lớn. Độ cao tuyệt đối của các đồi núi ở Bình Dương không vượt quá 300 mét, đỉnh núi Ông cao nhất là 284 mét. Nhìn tổng thể, địa hình tỉnh Bình Dương có dạng thoải thấp dần theo hướng từ bắc xuống nam.
Bề mặt địa hình có độ cao trung bình từ 60 mét đến 40 mét ở phía bắc, hạ thấp xuống 30 mét đến 10 mét ở phía nam. Dựa vào độ cao và đặc điểm hình thái, có thể chia diện tích tỉnh Bình Dương ra 4 kiểu địa hình chính [119, tr. Vùng địa hình núi sót và đồi núi thấp: Địa hình núi sót có diện tích hạn chế, phân bố rải rác trong diện tích tỉnh, gặp ở khu vực phía nam thị xã Dĩ An. Đặc trưng cơ bản của địa hình này là gồm các đỉnh núi đơn độc nổi lên giữa bề mặt đồng bằng, tạo nên các cảnh quan thiên nhiên khá thơ mộng.
Các ngọn núi có độ cao không lớn như núi Ông (284 m), núi Tha La (198 m), núi Đất (115 m), núi Châu Thới (82 m), kiểu địa hình này chiếm diện tích không đáng kể. Vùng địa hình đồi núi thấp có lượn sóng yếu: Phân bố trên diện tích rộng lớn chủ yếu thuộc các huyện, thị Phú Giáo, Tân Uyên, ở phía Đông - Đông bắc Bình Dương, 11 từ nông trường Phước Sang qua Phước Vĩnh đến Tân Thành, chiếm khoảng 40% diện tích toàn tỉnh. Vùng địa hình bằng phẳng: Chiếm phần lớn diện tích tỉnh Bình Dương, khoảng 55% diện tích toàn tỉnh, phân bố chủ yếu ở các huyện, thị xã Dầu Tiếng, Bến Cát, Thủ Dầu Một, Dĩ An, một phần huyện Phú Giáo, Tân Uyên, từ khu vực Minh Tân huyện Dầu Tiếng qua thị xã Bến Cát đến thị xã Dĩ An. Vùng địa hình thung lũng bãi bồi: Phân bố hạn chế, chỉ chiếm khoảng 5% diện tích toàn tỉnh, chúng tạo nên các dải hẹp dọc ven các sông Đồng Nai, sông Bé, sông Sài Gòn, sông Thị Tính, và các suối lớn như suốt Cát, Rạch Rạt, Mã Đà.
Các quy luật tự nhiên tác động lên vùng đất này tạo nên nhiều dạng địa mạo khác nhau, có vùng bị bào mòn, có vùng tích tụ do có sự lắng đọng các vật liệu xâm thực theo dòng chảy, có vùng vừa bị bào mòn, vừa tích tụ và lắng đọng. Nguyên nhân chủ yếu do nước mưa và dòng chảy tác động lên mặt đất, cộng với sự tác động của sức gió, nhiệt độ, khí hậu, sự sạt lở và sụp trượt vì trọng lực của nền địa chất, các sự tác động này đã diễn ra lâu dài hàng triệu năm. Lịch sử hình thành vùng đất Bình Dương xảy ra trong một tiến trình kiến tạo lâu dài, phức tạp. Kết quả của quá trình lịch sử tự nhiên đó đã mang lại cho Bình Dương một diện mạo hoàn hảo.
Có thể nói rằng địa hình, địa mạo, địa chất tỉnh Bình Dương nằm trong khu vực có chế độ kiến tạo bình ổn, với địa hình, địa mạo, địa chất đa dạng, phong phú, phù hợp với sự sinh tồn và phát triển đặc biệt là cuộc sống của con người. Đó chính là lợi thế lớn mà thiên nhiên đã ban tặng cho nhân dân tỉnh Bình Dương để có thể quy hoạch, xây dựng, phát triển Bình Dương thành một tỉnh giàu và vững mạnh về mọi mặt. Khí hậu, thủy văn, đất đai Bình Dương cũng như các tỉnh khác thuộc Nam Bộ, là tỉnh nằm trong vùng cận xích đạo. Đặc trưng của đới khí hậu này là nền nhiệt độ cao, quanh năm nóng và ẩm.
Hơn nữa Bình Dương cũng là tỉnh chịu ảnh hưởng của chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa. Đặc trưng nổi bật nhất ở đây là sự phân hóa chế độ thành hai mùa tương phản nhau rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa thời tiết mát mẻ, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, bắt đầu từ khoảng tháng 4, tháng 5 kéo dài đến tháng 10, tháng 11 tập trung tới 85% đến 90% trữ lượng mưa cả năm. Mùa khô bắt đầu khoảng từ tháng11, 12 tháng 12 kéo dài đến tháng 3, tháng 4 và chỉ có khoảng 10% đến 15% trữ lượng mưa cả năm [119, tr.
Nền nhiệt độ của Bình Dương cao và hầu như không có những thay đổi đáng kể. Trong đó nhiệt độ trung bình năm đạt đến 260C - 270C. Chênh lệch giữa nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất và tháng lạnh nhất không quá 40C - 50C. Vào mùa nắng, độ ẩm trung bình hàng năm từ 76% đến 80%, cao nhất là 86% (vào tháng 9) và thấp nhất là 66% (vào tháng 2).
Lượng mưa hàng năm đạt vào khoảng 1550 - 1950 mm, phân bố không đều, có xu hướng tăng dần từ phía đông (Tân Uyên 1574 mm) và hơi tăng từ phía nam lên phía bắc (Bến Cát 1927 mm, Phước Hòa 1930 mm). Chế độ thuỷ văn của các con sông chảy qua tỉnh và trong tỉnh Bình Dương thay đổi theo mùa: mùa mưa nước lớn từ tháng 5 đến tháng 11, và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau, tương ứng với hai mùa mưa nắng. Bình Dương có ba con sông lớn, nhiều rạch ở các địa bàn ven sông và nhiều suối nhỏ khác [2, tr. Sông Đồng Nai là con sông lớn nhất ở miền Đông Nam Bộ, bắt đầu từ cao nguyên Lâm Viên tỉnh Lâm Đồng dài 635 km nhưng chỉ chạy qua địa phận Bình Dương ở Tân Uyên.
Sông Đồng Nai có giá trị lớn về cung cấp nước tưới cho nền nông nghiệp, giao thông vận tải đường thuỷ và cung cấp thuỷ sản cho nhân dân. Sông Sài Gòn dài 256 km, bắt nguồn từ vùng đồi cao huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước. Sông Sài Gòn có nhiều chi lưu, phụ lưu, rạch, ngòi và suối, sông Sài Gòn chảy qua Bình Dương về phía tây đoạn từ Lái Thiêu lên đến Dầu Tiếng dài 143 km, độ dốc nhỏ nên thuận lợi về giao thông vận tải, về sản xuất nông nghiệp, cung cấp thuỷ sản. Ở thượng lưu, sông hẹp, có đoạn chỉ 20 m uốn khúc quanh co, từ Dầu Tiếng được mở rộng dần đến Thủ Dầu Một khoảng 200 m.
Sông Thị Tính là phụ lưu của sông Sài Gòn bắt nguồn từ đồi Cam Xe, huyện Bình Long, tỉnh Bình Phước chảy qua Bến Cát rồi lại đổ vào sông Sài Gòn ở đập Ông Cộ. Sông Sài Gòn, sông Thị Tính mang phù sa bồi đắp cho những cánh sông ở Bến Cát, Thủ Dầu Một, Thuận An cùng những cánh đồng dọc sông Đồng Nai, tạo nên vùng lúa năng suất cao và những vườn cây ăn trái xanh tốt. Sông Bé dài 360 km, bắt nguồn từ các sông Đắc RơLáp, Đắc Giun, Đắc Huýt thuộc vùng núi tỉnh Đắc Lắc hợp thành từ độ cao 1000 m, ở phần hạ lưu đoạn chảy vào đất Bình Dương dài 80 km. Sông Bé không thuận tiện cho việc giao thông đường 13 thuỷ do có bờ dốc đứng, lòng sông nhiều đoạn có đá ngầm, lại có nhiều thác ghềnh, tàu thuyền không thể đi lại.
Bên cạnh đường thuỷ Bình Dương là một tỉnh có hệ thống giao thông đường bộ rất quan trọng nối liền giữa các vùng trong và ngoài tỉnh. Trong hệ thống đường bộ, nổi lên đường quốc lộ 13, con đường chiến lược cực kỳ quan trọng, xuất phát từ thành phố Hồ Chí Minh, chạy suốt chiều dài của tỉnh từ phía nam lên phía bắc, qua tỉnh Bình Phước và nối với Vương quốc Campuchia đến biên giới Thái Lan. Đây là con đường có ý nghĩa chiến lược cả về quân sự và kinh tế [2, tr. Đường quốc lộ 14, từ Tây Ninh qua Dầu Tiếng đi Chơn Thành, Đồng Xoài, Bù Đăng, tỉnh Bình Phước, xuyên suốt vùng Tây Nguyên bao la, là con đường chiến lược quan trọng cả trong chiến tranh cũng như trong thời kỳ hoà bình xây dựng đất nước.
Ngoài ra còn có liên tỉnh lộ 1A từ Thủ Dầu Một đi Phước Long, Bình Phước; liên tỉnh lộ 13 từ Chơn Thành đi Đồng Phú, Dầu Tiếng; liên tỉnh lộ 16 từ Tân Uyên đi Phước Vĩnh… Do vị trí địa lý nằm ở phần trung gian giữa đồi núi nam Trường Sơn và vùng đồng bằng châu thổ lưu vực sông Đồng Nai, với đặc điểm địa hình dạng bán bình nguyên, gồm những dải gò đồi có thế đất cao, những bình nguyên dài phẳng rộng xen lẫn những đầm lầy và thung lũng thấp, nên đất đai Bình Dương bao gồm nhiều nhóm đất và loại đất. Dựa vào kết quả nghiên cứu mới nhất của Hội Khoa học Đất Việt Nam đất đai của Bình Dương được chia thành các nhóm chính: Nhóm đất xám có diện tích 142.444 ha, chiếm 54,8% tổng diện tích đất đai của tỉnh. Đây là loại đất chiếm diện tích lớn nhất và được phân bố hầu hết trên địa bàn các huyện, thị xã Bến Cát, Tân Uyên, Thuận An, Dĩ An, Thủ Dầu Một [119, tr. Nhóm đất đỏ vàng của Bình Dương có diện tích 65.243 ha, chiếm 25,12% diện tích đất đai của tỉnh, phân bố chủ yếu ở hai huyện Dầu Tiếng, thị xã Dĩ An.
Nhóm đất phù sa khoảng 15.725 ha chiếm 6,05% diện tích đất đai của tỉnh. Phân bố ở những vùng thuộc thung lũng bãi bồi dọc sông Sài Gòn, từ Bến Cát đến Thủ Dầu Một, Thuận An và các xã dọc sông Đồng Nai, Tân Mỹ, Thạnh Phước … thuộc Tân Uyên. 14 Nhóm đất phèn ở Bình Dương có diện tích khoảng 3.