CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN ĐÀO TẠO NGHỀ VÀ ĐÀO TẠO ĐÁP ỨNG NHU CẦU DOANH NGHIỆP 1. Lý luận về đào tạo nghề 1. Khái niệm về đào tạo nghề Khái niệm đào tạo nghề thường gắn với giáo dục, nhưng hai phạm trù vẫn có nhiều điểm khác nhau tương đối.
Cụ thể, giáo d ục được hiểu là các hoạt động và tác động hướng vào sự phát triển và rèn luyện năng lực (bao gồm tri thức, kỹ năng và kỹ xảo…) và phẩm chất (niềm tin, tư cách, đạo đức…) ở con người để có thể phát triển nhân cách đầy đủ nhất và trở nên có giá trị tích cực đối với xã hội. Hay nói cách khác, giáo dục còn là quá trình khơi gợi các tiềm năng sẵn có trong mỗi con người, góp phần nâng cao các năng lực và phẩm chất cá nhân của cả người dạy và người học theo hướng hoàn thiện hơn, đáp ứng các yêu cầu phát triển trong xã hội trong các giai đoạn khác nhau. Thứ nhất, theo từ điển Tiếng Việt, “đào tạo nghề được hiểu là quá trình làm cho con người trở thành người có năng lực thỏa mãn những tiêu chuẩn nhất định”. Thứ hai, theo quan điểm của các nhà giáo dục và đào tạo Việt Nam, đào tạo nghề là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm đạt được các kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo về cả lý thuyết và thực tiễn, nâng cao năng lực để thực hiện thành công một hoạt động nghề nghiệp cần thiết.
Thứ ba, đào tạo nghề là quá trình trang bị kiến thức nhất định về mặt chuyên môn, nghiệp vụ cho người lao động để họ có thể đảm nhận được một công việc nhất định. Hay nói cách khác, đào tạo nghề đề cập đến việc dạy các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, nhằm giúp cho người học có thể nắm vững những tri thức, kĩ năng, nghề nghiệp một cách có bài bản và hệ thống để người đó có thể thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một công việc nhất định. Như vậy, giáo dục và đào tạo nghề đều có điểm chung là đều hướng vào việc trang bị kiến thức kỹ năng nhằm phát triển năng lực của người lao động. Tuy nhiên, trong giáo dục nhằm vào những năng lực rộng lớn hơn còn đào tạo nghề lại nhằm vào những năng lực cụ thể để người lao động đảm nhận công việc xác định, thường đào tạo nghề đề cập đến giai đoạn sau, được thực hiện khi người lao động đã đạt đến một độ tuổi nhất định, có một trình độ nhất định.
Tùy theo nhiều cách phân loại khác nhau, có 9 nhiều dạng đào tạo như đào tạo cơ bản và đào tạo chuyên sâu, đào tạo chuyên môn và đào tạo nghề, đào tạo lại, đào tạo từ xa, tự đào tạo. Các hình thức đào tạo nghề Thứ nhất, đào tạo nghề chính quy Theo quy định của Luật dạy nghề, đào tạo nghề chính quy được thực hiện với các chương trình sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề tại các cơ sở dạy nghề theo các khóa học tập trung và liên tục. Đào tạo nghề chính quy là loại hình đào tạo tập trung tại các trung tâm dạy nghề, các trường nghề và quy mô đào tạo tương đối lớn, chủ yếu là đào tạo các công nhân kỹ thuật có trình độ lành nghề cao. Quá trình đào tạo nghề thường được chia ra làm hai giai đoạn: giai đoạn học tập cơ bản và giai đoạn học tập chuyên môn.
Giai đoạn học tập cơ bản là giai đoạn đào tạo nghề theo diện rộng, thường chiếm từ 70% đến 80% nội dung giảng dạy và tương đối ổn định. Giai đoạn học tập chuyên môn, người học được trang bị những kiến thức chuyên sâu và rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo để nắm vững nghề đã chọn. Với hình thức đào tạo nghề chính quy, người học được học một cách có hệ thống từ đơn giản đến phức tạp, từ lý thuyết đến thực hành, tạo điều kiện cho người học tiếp thu kiến thức nhanh chóng và dễ dàng. Hình thức đào tạo này cung cấp cho người học cả kiến thức lý thuyết lẫn thực hành một cách đầy đủ.
Với hình thức đào tạo chính quy, sau khi đào tạo, người học có thể chủ động, độc lập giải quyết công việc, có khả năng đảm nhận các công việc tương đối phức tạp, đòi hỏi trình độ lành nghề cao. Cùng với sự phát triển của sản xuất và tiến bộ của khoa học kỹ thuật như hiện nay, hình thức đào tạo này ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc đào tạo nguồn nhân lực đặc biệt là đội ngũ lao động kỹ thuật. Nhưng hình thức đào tạo này có nhược điểm đó là thời gian đào tạo tương đối dài, đòi hỏi vốn đầu tư tương đối lớn nhằm đảm bảo đầy đủ cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, các cán bộ quản lý…nên kinh phí đào tạo của mỗi người học là rất lớn. Thứ hai, đào tạo nghề tại nơi làm việc (kèm cặp trong quá trình làm việc) Là hình thức đào tạo trực tiếp, trong đó người học sẽ được dạy những kiến thức, kỹ năng cần thiết cho công việc thông qua các hoạt động thực tế thực hiện công việc và thường là dưới sự hướng dẫn của những người lao động có trình độ cao hơn, kinh nghiệm làm việc lâu hơn.
Hình thức đào tạo này thiên về thực hành ngay trong quá trình sản xuất và thường là do các doanh nghiệp (hoặc các cá nhân sản xuất) tự tổ chức. 10 Chương trình đào tạo áp dụng cho hình thức đào tạo tại nơi làm việc và thường được chia ra làm ba giai đoạn: Giai đoạn đầu, người hướng dẫn vừa sản xuất vừa hướng dẫn cho học viên. Giai đoạn hai, giao việc làm thử cho học viên sau khi họ đã nắm được các nguyên tắc và phương pháp làm việc. Giai đoạn ba, giao việc hoàn toàn cho học viên sau khi họ đã có thể tiến hành làm việc một cách độc lập.
Ưu điểm: Có khả năng đào tạo nhiều người cùng một lúc ở tất cả các doanh nghiệp, phân xưởng. Thời gian đào tạo ngắn, không đòi hỏi điều kiện về trường lớp, giáo viên chuyên trách, bộ máy quản lý, thiết bị học tập riêng…nên tiết kiệm chi phí đào tạo. Trong quá trình học tập, người học còn được trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất thực tế, giúp họ có thể nắm chắc kỹ năng lao động, làm quen nhanh với công việc thực tế. Nhược điểm: Việc truyền đạt và tiếp thu kiến thức không có tính hệ thống.
Người dạy không có nghiệp vụ sư phạm nên hạn chế trong quá trình hướng dẫn, việc tổ chức dạy lý thuyết gặp nhiều khó khăn…nên kết quả học tập còn hạn chế. Học viên không chỉ học các phương pháp tiên tiến mà còn có thể bắt chước những thói quen không tốt của người hướng dẫn hoặc bị ảnh hưởng bởi quan điểm chủ quan của người hướng dẫn. Vì vậy hình thức đào tạo này chỉ phù hợp với những công việc đòi hỏi trình độ kỹ thuật không cao. Thứ ba, tổ chức các lớp cạnh doanh nghiệp Đây là hình thức đào tạo theo chương trình gồm hai phần lý thuyết và thực hành.
Phần lý thuyết được giảng tập trung do các kỹ sư, cán bộ kỹ thuật phụ trách. Còn phần thực hành thì được tiến hành ở các xưởng thực tập do các kỹ sư hoặc công nhân lành nghề hướng dẫn. Hình thức đào tạo này chủ yếu tập trung áp dụng để đào tạo cho những nghề phức tạp, đòi hỏi có sự hiểu biết rộng về lý thuyết và độ thành thạo cao. Ưu điểm: Dạy lý thuyết tương đối có hệ thống, đồng thời học viên lại được trực tiếp tham gia lao động ở các phân xưởng, tạo điều kiện cho họ nắm vững nghề nghiệp.
Bộ máy đào tạo tinh gọn và chi phí đào tạo không lớn. Nhược điểm: Hình thức này chỉ áp dụng được ở những doanh nghiệp tương đối lớn và chỉ đào tạo cho các doanh nghiệp cùng ngành có tính chất và đặc thù công việc giống nhau. Thứ tư, đào tạo nghề tại các trung tâm dạy nghề Đây là loại hình đào tạo nghề ngắn hạn, phần lớn thời gian đào tạo dưới 1 năm. Đối tượng chủ yếu là đào tạo phổ cập nghề cho thanh niên và người lao động.
11 Ưu điểm: Thu hút được đông đảo người học vì các thủ tục học thường dễ dàng, thời gian hợp lý. Nghề đào tạo đa dạng và thường các trung tâm đào tạo nghề gắn với giới thiệu việc làm nên hỗ trợ được cho người lao động trong quá trình tìm kiếm việc làm. Khả năng thích ứng nhanh với nhu cầu thị trường lao động, nhu cầu người học. Bên cạnh đó, chi phí đầu tư đào tạo không lớn.
Nhược điểm: Hình thức đào tạo này biểu hiện là quy mô nhỏ, kiến thức lý thuyết ở mức độ thấp, thiếu đội ngũ giáo viên chuyên nghiệp, thiếu các máy móc, thiết bị, phương tiện hiện đại cho thực hành nghề, đào tạo đa số là công nhân bán lành nghề. Các nhân tố ảnh hưởng đến đào tạo nghề Chất lượng đào tạo luôn là vấn đề quan trọng nhất trong mục tiêu phát triển của các nhà trường nói chung và các trường đào tạo nghề nói riêng, nâng cao chất lượng đào tạo bao giờ cũng được xem là nhiệm vụ then chốt nhất trong công tác quản lý của các trường đào tạo nghề. Trên thực tế, công tác nâng cao chất lượng đào tạo nghề tại các các trường đào tạo nghề chịu ảnh hưởng của các yếu tố: Yếu tố đầu vào Chất lượng đầu vào là cơ sở, là nền móng vững chắc để đảm bảo chất lượng đào tạo. Chất lượng đầu vào thường được đánh giá thông qua: số lượng thí sinh dự tuyển thực, chỉ tiêu tuyển, chất lượng tuyển (tiêu chí và chuẩn tuyển), cơ cấu người học nhập học theo vùng, miền… Chất lượng đầu vào là nhân tố nằm trong nhóm yếu tố về người học, có ảnh hưởng lớn đến việc tiếp thu chương trình đào tạo, có quyết định đến: Thứ nhất, đó là năng lực học tập hay khả năng tiếp thu kiến thức của người học.
Đây là tiêu chí dùng để đánh giá mức độ thông minh của người học. Nếu trường tuyển được những sinh viên giỏi thì việc tiếp thu chương trình học của sinh viên sẽ dễ dàng hơn và do đó sinh viên sẽ có kiến thức, kỹ năng tốt hơn sau khi tốt nghiệp. Tuy nhiên, tiêu chí này khó có thể lượng hóa. Thông thường chúng ta sẽ sử dụng điểm tuyển sinh để đánh giá năng lực tiếp thu kiến thức của sinh viên.
Thứ hai, là mức độ chuyên tâm và tâm lý ổn định và mức độ yên tâm học tập của sinh viên.