Chương 1 - CƠ SỞ LÍ LUẬN LẬP KẾ HOẠCH TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG LÀM QUEN VỚI TOÁN NHẰM HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG ĐO DUNG TÍCH CHO TRẺ 5-6 TUỔI THEO HƯỚNG TRẢI NGHIỆM 1. Biểu tượng đo dung tích của trẻ 5-6 tuổi - Biểu tượng: Theo Hoàng Phê, biểu tượng được hiểu như sau: + Thứ nhất: Biểu tượng là hình ảnh tượng trưng. + Thứ hai: Biểu tượng là hình thức của nhận thức, cao hơn cảm giác cho ta hình ảnh của sự vật cờn giữ lại trong đầu óc sau khi tác động của sự vật vào giác quan ta đã chấm dứt [14, 64] Theo quan điểm sinh lý, biểu tượng được hình thành khi sự vật hiện tượng trước đây tác động vào giác quan tạo ra những đường liên hệ thần kinh tạm thời để lại những dấu vết trong vỏ não. Do đó, biểu tượng được xây dựng trên cơ sở tri giác.
Nếu không có tri giác biểu tượng không thể hình thành được [6, 491]. Theo triết học Mác - Lênin: “Biểu tượng là một hình ảnh của khách thể đã được tri giác còn lưu lại trong bộ óc cơn người và do một tác động nào đó được tái hiện, nhớ lại". Biểu tượng cũng như cảm giác, tri giác “là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan” nhưng khác với cảm giác và tri giác, biểu tượng phản ánh khách thể một cách gián tiếp, là “hình ảnh của hình ảnh” [1]. Ngoài ra, bằng tưởng tượng từ những biểu tượng cũ, con người có thể sáng tạo ra những biểu tượng mới.
Theo quan điểm tâm lý học, A. Liublinxkaia coi “Biểu tượng là những hình ảnh cụ thể của sự vật, hiện tượng nảy sinh ra trong óc khí không có sự tác động trực tiếp vào các giác quan”.X Mukhina coi “Biểu tượng là hình ảnh trực quan nảy sinh trong não người về những sự vật, hiện tượng đã tri giác trước” [23, 6]. Những định nghĩa và quan niệm trên cho thấy BT được coi như sản phẩm của quá trình ghi nhớ vả tưởng tượng. Điểm chính của BT là sự xâm nhập giữa tính trực quan vả tính khái quát, nếu BT được coi là quá độ giữa hình tượng vả khái niệm, là giai đoạn chuyển tiếp từ nhận thức cảm tính lên nhận thức lí tính.
BT là kết quả của sự chế biến và tổng hợp được hình thành do tri giác tạo ra. Thiếu tri giác, BT không thế hình thành được. Biểu tượng có những đặc điểm khác với hình tượng tri giác. Hình ảnh của biểu tượng phản ánh những đặc điểm cụ thể của sự vật, giống như hình tượng của tri giác.
Nhưng nó có khái quát qua nhiều lần tri giác trong những điều kiện khác nhau, ở những thời điềm khác nhau. Tuy nhiên, biểu tượng chỉ tái hiện lại những đặc điểm cơ bản, gây ấn tượng mạnh, có ý nghĩa đối với hoạt động của trẻ, bỏ đi những chi tiết ngẫu nhiên, rườm rà. Như vậy, biểu tượng vừa mang tính cụ thể vừa mang tính khái quát. 1 Biểu tượng có những khác biệt rất căn bản với khái niệm, biểu tượng phản ánh những đặc điểm cụ thể, bên ngoài, đặc trưng, trực quan, của sự vật, hiện tượng.
Khái niệm phán ánh những thuộc tính của bản chất, những mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật của hàng loạt các sự vật, hiện tượng cùng loại. Các khái niệm kết hợp chặt chẽ với nhau cho phép từ tri thức này suy ra tri thức kia. Các biểu tượng vốn có ở trẻ không tự nhiên biến thành khái niệm. Chúng chỉ có thể được sử dụng khi hình thành khái niệm [23, 6].
Đề tài xác định: Biểu tượng là những hình ảnh cụ thể về sự vật, hiện tượng mà con người đã tri giác trước đây, là hình thức cao nhất của sự phản ánh trực quan, cảm tính trong não người. - Đo, đong Theo Hoàng Phê, đo là: 1. Xác định độ lớn của một đại lượng cùng loại được chọn làm đơn vị. Ví dụ: dùng mét đo chiều dài; đo diện tích; đo nhiệt độ.
Đo để lấy một lượng nhất định của vật tính theo chiều dài. Ví dụ: Đo 10 mét vải bán cho khách [14, 316]. Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả sử dụng ý nghĩa thứ nhất của “đo”: Đo là xác định độ lớn của một đại lượng cùng loại được chọn làm đơn vị. Đo thể tích chất lỏng hoặc chất rời.
Ví dụ: Đong dầu; đong gạo bằng đấu… 2. Đong để lấy một lượng nhất định của vật tính theo thể tích. Ví dụ: Đong mấy lít nước mắm bán cho khách. Mua những thứ có thể đong được.
Ví dụ: Đi chợ đong vài yến gạo [13, 320]. Đề tài sử dụng ý nghĩa thứ nhất của từ “đong”: Đong là đo thể tích chất lỏng hoặc chất rời. - Dung tích Đề tài sử dụng khái niệm “dung tích” theo Hoàng Phê: Dung tích là lượng tối đa có thể chứa được, biểu thị bằng con số, của vật chứa. Ví dụ: Dung tích của thùng là 20 lít [14, 258].
- Biểu tượng đo dung tích của trẻ 5-6 tuổi Từ các khái niệm trên, đề tài quan niệm về biểu tượng đo dung tích của trẻ 5- 6 tuổi như sau: Biểu tượng đo dung tích của trẻ 5-6 tuổi là những hình ảnh cụ thể về đo thể tích chất lỏng hoặc chất rời để xác định lượng tối đa có thể chứa được của vật chứa mà trẻ đã thực hiện hành động đó giúp trẻ xác định được mối quan hệ về độ lớn của các đơn vị đo hoặc các đối tượng đo. Giáo dục theo hướng trải nghiệm GD được hiểu theo nhiều nghĩa: Theo nghĩa hẹp, GD là “quá trình hình thành cho người được GD lí tưởng, động cơ, tình cảm, niềm tin, những nét tính cách của nhân cách, những hành vi, thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội thông qua 2 việc tổ chức cho họ các hoạt động và giao lưu” [13, 22]. Theo nghĩa rộng, GD là “quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học của nhà GD tới người được GD trong các cơ quan GD, nhằm hình thành nhân cách cho người học”. Đề tài sử dụng nghĩa rộng của GD.
Trải nghiệm là quá trình cá nhân được tham dự hay tiếp xúc, tương tác trực tiếp, được chiêm nghiệm, tự tích lũy kiến thức, kĩ năng, thái độ tạo thành kinh nghiệm riêng của bản thân [14, 8]. Học tập qua trải nghiệm (experiential learning), một cách học thông qua làm, với quan niệm việc học là quá trình tạo ra tri thức mới trên cơ sở trải nghiệm thực tế, dựa trên những đánh giá, phân tích trên những kinh nghiệm, kiến thức sẵn có. Học qua trải nghiệm thường được cho là đối ngược với cách học hàn lâm, là quá trình đạt được thông tin thông qua nghiên cứu một vấn đề mà không cần kinh nghiệm trực tiếp (direct experience) [24]. Trải nghiệm cụ thể và ngay lập tức cho phép phản ánh những kinh nghiệm mới dưới những góc độ khác nhau.
Từ những quan sát cụ thể để hình thành khái niệm, tổng quát rồi sử dụng những khái niệm đó vào hành động. Những thử nghiệm tích cực giúp kiểm tra những kinh nghiệm bằng những tình huống mới và phức tạp hơn tạo ra trải nghiệm cụ thể khác, nhưng ở một cấp độ phức tạp hơn trước. Trải nghiệm là một trong những phương pháp học tập bao gồm việc chuyển đổi các điều kiện lí thuyết hay thực tế, trong đó hiện tượng này xảy ra, để thiết lập hoặc minh họa cho một quan điểm lí luận cụ thể. GD theo hướng trải nghiệm được coi là xu hướng, cách tiếp cận GD hiệu quả, có tính thực tế.
Theo Vưgotxki, Piaget, Dewey… thì quá trình GD và quá trình sống luôn thống nhất nên “cách GD tốt nhất là học kinh nghiệm cho bản thân và tự cải biến kinh nghiệm của mình” [14, 8]. GD theo hướng trải nghiệm là xu hướng GD tiên tiến nhất hiện nay. Đề tài sử dụng khái niệm theo tác giả Hoàng Thị Phương: GD theo hướng trải nghiệm cho trẻ là phương thức sử dụng các hoạt động giáo dục, trong đó giáo viên là người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động để trẻ được tham dự hay tiếp xúc, tương tác trực tiếp, được chiêm nghiệm, tự tích lũy kiến thức, kĩ năng, thái độ tạo thành kinh nghiệm riêng của bản thân [14, 8]. Lập kế hoạch tổ chức hoạt động làm quen với toán nhằm hình thành biểu tượng đo dung tích cho trẻ 5-6 tuổi theo hướng trải nghiệm Lập kế hoạch tổ chức hoạt động làm quen với toán nhằm hình thành biểu tượng đo dung tích cho trẻ 5-6 tuổi theo hướng trải nghiệm là dự kiến hệ thống các mục tiêu mà trẻ cần đạt được về kĩ năng đo dung tích thông qua việc lựa chọn và xác định nội dung, phương pháp, hình thức, phương tiện giáo dục để thực hiện mục tiêu đã đề ra và đánh giá việc thực hiện hoạt động giáo dục đó.
HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG ĐO DUNG TÍCH CHO TRẺ 5-6 TUỔI 1. Đặc điểm hình thành biểu tượng đo dung tích của trẻ 5-6 tuổi 3 Kích thước là một trong các dấu hiệu để phân biệt các đối tượng. Kích thước biểu thị độ lớn của các đại lượng, như: số lượng, độ dài, bề rộng, chiều cao, khối lượng. Mỗi loại kích thước lại có phương pháp xác định và cách so sánh riêng.
Đối với trẻ nhỏ, việc biết phân chia kích thước như là tính chất của vật và gọi đúng kí hiệu kích thước không chỉ để trẻ biết được từng vật riêng rẽ mà còn giúp trẻ hiểu được các mối quan hệ giữa chúng. Hiểu rõ kích thước của các vật ảnh hưởng đến sự phát triển trí tuệ vì nó liên quan đến sự phát triển khả năng đồng nhất, sự phân biệt, so sánh, khái quát hướng dẫn trẻ hiểu được kích thước là một khái niệm toán học và chuẩn bị cho trẻ nắm vững phần toán tương ứng ở trường phổ thông. Sự phản ánh của kích thước như là dấu hiệu trung gian của vật, nó liên quan đến sự cảm thụ – là quá trình cảm giác quan trọng nhằm để nhận biết và quan sát các vật, tìm thấy những đặc điểm của vật. Trong quá trình này có sự tham gia của các cơ quan phân tích khác nhau như: thị giác, thính giác, xúc giác.
Sự cảm thụ kích thước đúng phụ thuộc vào kinh nghiệm tính toán thực tế các vật, phát triển khả năng ước lượng bằng mắt, sự cảm thụ lời nói, sự tham gia của các quá trình tư duy như: so sánh, phân tích, tổng hợp. Sau cùng là dùng tiếng nói để khái quát những nhận biết về kích thước, các mối quan hệ kích thước. Khả năng nhận biết kích thước các vật được tăng dần cùng với kinh nghiệm của trẻ và nhờ có sự tác động của nhà giáo dục.