Chương 1: Những vấn đề chung về lạm phát và khuôn khổ chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu. - Chương 2: Thực trạng lạm phát, các nhân tố tác động đến lạm phát và khuôn khổ chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu tại Việt Nam. - Chương 3: Giải pháp kiềm chế lạm phát, lộ trình và những gợi ý thực hiện chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu tại Việt Nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LẠM PHÁT VÀ KHUÔN KHỔ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ “LẠM PHÁT MỤC TIÊU” 1.1 Tổng quan về lạm phát 1.1 Định nghĩa về lạm phát Trong kinh tế học, lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung của nền kinh tế. Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá giá trị thị trường hay giảm sức mua của đồng tiền.
Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là sự phá giá tiền tệ của một loại tiền tệ so với các loại tiền tệ khác. Thông thường theo nghĩa đầu tiên thì người ta hiểu lạm phát của đơn vị tiền tệ trong phạm vi nền kinh tế của một quốc gia, còn theo nghĩa thứ hai thì người ta hiểu lạm phát của một loại tiền tệ trong phạm vi thị trường toàn cầu.2 Phân loại lạm phát Theo nghiên cứu của Ngân hàng trung ương NewZeland thì lạm phát được chia thành 4 loại như sau: 1.1 Lạm phát cầu kéo (Demand Pull Inflation) Lạm phát do cầu kéo thường xảy ra khi tổng nhu cầu hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế vượt quá nguồn cung có sẵn do đó giá cả của hàng hóa trong nền kinh tế sẽ tăng. Tóm lại, lạm phát do cầu kéo xảy ra khi một nền kinh tế trải qua một sự bùng nổ mạnh mẽ với tốc độ tăng GDP tăng nhanh hơn so với xu hướng tăng trưởng lâu dài của GDP tiềm năng.1: Lạm phát cầu kéo. Những nguyên có thể gây ra lạm phát cầu kéo: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 - Do một sự sụt giảm của tỷ giá hối đoái làm cho hàng hóa xuất khẩu tăng khả năng cạnh tranh ở thị trường ngoài nước dẫn đến có một lực cầu mới chảy vào quốc gia đó đồng thời cũng làm tăng áp lực nhu cầu đối với nguồn tài nguyên.
- Chính sách khuyến khích kinh tế của chính phủ làm tăng áp lực cầu. Chính phủ giảm thuế gián thu và thuế trực thu điều này góp phần làm tăng thu nhập khả dụng của người tiêu dùng, chính phủ còn tạo áp lực lên cầu thông qua chi tiêu dùng của chính phủ và tăng cường cho vay mượn. - Chính sách tiền tệ nới lỏng: một sự sụt giảm lãi suất có thể khuyến khích tiêu dùng thông qua sự gia tăng khả năng vay mượn. - Do tốc độ tăng trưởng kinh tế ở một số quốc gia tăng nhanh làm tăng mức cầu để đáp ứng sự phát triển nên đã thúc đẩy việc xuất khẩu ở quốc gia khác.2 Lạm phát chi phí đẩy (Cost push inflation) Nguyên nhân của lạm phát chi phí đẩy là chi phí sản xuất tăng lên vì lý do này hay lý do này hay lý do khác và gây sức ép tăng giá lên sản phẩm và dịch vụ được sản xuất.
Khi mà sự gia tăng về lương (một đại diện cho chi phí sản xuất) mà vượt qua sự gia tăng về lợi ích do năng suất lao động mang lại làm chi phí sản xuất trên từng đơn vị sản phẩm tăng lên. Loại lạm phát này ít xảy ra hơn lạm phát do cầu kéo, nhưng nó có thể xảy ra một cách độc lập hay kết hợp với lạm phát do cầu kéo. Có nhiều lý do để chi phí sản xuất tăng: Các chi phí thành phần: sự gia tăng của giá cả các nguyên vật liệu thành phần. Điều này có thể là do sự gia tăng giá cả hàng hóa toàn cầu như dầu và khí đốt hay ví dụ như sự gia tăng giá nông sản xảy ra trên phạm vi toàn cầu như giá lúa mì làm gia tăng giá thành của các sản phẩm chế biến.
Tăng chi phí lao động: do tiền lương tăng vượt quá lợi ích do năng suất lao động tăng. Chi phí tiền lương thường tăng khi tỷ lệ thất nghiệp thấp. Và do người lao động kỳ vọng lạm phát tăng cao trong tương lai nên yêu cầu một mức lương cao hơn nhằm bảo vệ thu nhập thực tế của họ (tính thông qua sức mua hàng hóa). Do chính phủ thiết lập một mức thuế gián thu cao hơn: ví dụ các loại thuế trên các sản phẩm như rượu, thuốc lá, xăng dầu diesel tăng, hoặc cũng có thể là TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 do thuế giá trị gia tăng (VAT) tăng.
Tùy thuộc vào độ co giãn của giá so với cung và cầu, các nhà sản xuất có thể chuyển gánh nặng thuế của họ sang những người tiêu dùng. Một sự sụt giảm tỷ giá điều này có thể gây ra lạm phát chi phí đẩy bởi nó thường dẫn đến sự gia tăng giá cả của các hàng hóa nhập khẩu. Ví dụ trong giai đoạn 2007-2008 đồng bảng Anh giảm mạnh so với đồng Euro dẫn đến một sự gia tăng giá cả nguyên vật liệu từ các quốc gia sử dụng đồng Euro. Lạm phát chi phí đẩy được minh họa bằng một sự dịch chuyển vào trong của đường tổng cung ngắn hạn.
Sự sụt giảm trong SRAS gây ra sự sụt giảm GDP kéo theo đó là sự gia tăng giá cả. Một trong những rủi ro của lạm phát chi phí đẩy là nó có thể dẫn đến tình trạng đình trệ. Một trong những nguyên nhân gây ra lạm phát chi phí đẩy có thể đến từ những cú sốc bên ngoài. Ví dụ: một biến động bất ngờ trong giá cả của hàng hóa giao dịch quốc tế.
Một quốc gia cũng có thể nhập khẩu lạm phát chi phí đẩy từ một quốc gia khác Biểu đồ 1.2: Lạm phát chi phí đẩy.3 Lạm phát do quản lý giá. (Administered price inflation) Loại lạm phát này xảy ra khi mà các doanh nghiệp cùng tăng giá để tăng tỷ suất sinh lợi. Điều này thường không xảy ra khi nền kinh tế rơi vào trường hợp suy thoái nhưng nó sẽ xuất hiện khi nền kinh tế đang bùng nổ, doanh số bán hàng mạnh mẽ thì nó có thể xuất hiện. Nó có thể còn được gọi là lạm phát độc quyền TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 bởi vì nhà sản xuất có quyền thiết lập giá cả và nâng giá vào thời điểm chín muồi.4 Lạm phát bộ phận (Sectoral inflation) Lạm phát bộ phận là thuật ngữ này dùng khi có bất kỳ loại lạm phát nào trong ba loại nói trên tấn công vào ngành công nghiệp cơ bản và gây ra một sự tăng giá sản phẩm của ngành này, vì ngành này lại cung cấp sản phẩm cho một số ngành công nghiệp khác (ví dụ như ngành thép hay dầu tăng thì chi phí của các ngành công nghiệp sử dụng thép hay dầu cũng tăng theo và lạm phát lan rộng trong nền kinh tế mặc dù ban đầu nó chỉ xuất phát từ một ngành công nghiệp cơ bản).
Lạm phát bộ phận được hiểu là ba loại lạm phát còn lại tấn công vào ngành kinh tế cơ bản. Nên chúng ta chủ yếu đi vào phân tích ba loại lạm phát cơ bản còn lại. Mỗi loại lạm phát thì cần có những chính sách khác nhau để điều hành. Ví dụ như lạm phát do quản lý giá có thể liên quan đến vấn đề chống độc quyền.
Hạn chế khả năng độc quyền để cho giá cả cạnh tranh bằng cách nhập khẩu tính cạnh tranh nếu như điều này được cho phép. Vì lạm phát chi phí đẩy là do việc tăng lương thường xuyên vượt quá lợi ích do năng suất lao động mang lại, nhưng vấn đề khác lại xuất hiện đó là nếu lương bị kiểm soát thì lại dồn người lao động và gia đình của họ vào cảnh nghèo đói. Có tranh luận cho rằng mức lương tăng không làm tăng mức sống nhưng điều này lại có thể gây ra việc tăng giá cả hàng hóa. Cần có một thỏa thuận cân bằng lợi ích giữa lợi nhuận của doanh nghiệp và thu nhập của người lao động.
Lương và lợi nhuận của doanh nghiệp là hai đối tượng cần được kiểm soát. Đôi khi để kiểm soát lạm phát thì cần có một chính sách thu nhập đi kèm. Nhà kinh tế Watter của đại học Minnesota đề xuất chính sách tiền lương cùng với chính sách thuế để cân bằng giữa lợi ích của doanh nghiệp và người lao động. Việc điều hành chính sách kinh tế vĩ mô đầy đủ và tích cực có thể phù hợp đối với trường hợp lạm phát cầu kéo.
Thắt chặt tiền tệ và chính sách tài khóa để cắt giảm nhu cầu dư thừa. Cắt giảm cung tiền và lãi suất cao để cắt giảm nhu cầu vay mượn để giảm thu nhập và suy giảm sức mua. Các biện pháp thường không đủ mạnh mẽ để ngăn chặn hoàn toàn lạm phát nhưng đó là các biện pháp chủ yếu được thực hiện khi loại lạm phát này xảy ra. Nhưng nếu TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 áp dụng cho bất kỳ loại lạm phát khác có thể sẽ tạo ra tỷ lệ thất nghiệp cao và đôi khi lại không nhận ra nguồn gốc của lạm phát.
Một góc độ khác cũng cần được đề cập là các loại lạm phát này có thể kết hợp xảy ra cùng lúc. Một vấn đề thường hay xảy ra là giá cả và tiền lương có mối quan hệ xoắn ốc và lạm phá cầu kéo xảy ra trước kéo theo nhu cầu lao động tăng và do đó mức lương cũng phải tăng theo để đảm bảo cho mức chi phí sinh hoạt tăng. Việc thu nhập tăng lại kéo theo nhu cầu tăng. Đó cũng là thời điểm tốt các các nhà sản xuất với quy mô lớn thỏa thuận để tăng giá nhằm nới rộng lợi nhuận của mình.
Và khi các loại lạm phát này tấn công vào một ngành công nghiệp cơ bản, qua đó lại làm cho lạm phát ngày càng lan rộng trong nền kinh tế. Lạm phát có thể tích lũy dần và trở nên một tỷ lệ cao được gọi là lạm phát phi mã, trường hợp này đã xảy ra đối với Việt Nam. Giá cả có thể tăng nhanh đến mức người lao động vừa nhận được lương xong đã không còn đủ tiền để mua một thứ hàng hóa vừa mới đủ tiền mua trước đó. Tại một số quốc gia lạm phát cuối cùng đã dẫn đến mức hủy hoại giá trị đồng tiền của quốc gia đó buộc chính phủ phải phát hành lại một loại tiền tệ khác với số lượng ít hơn để ngăn chặn lạm phát.3 Các thang đo lạm phát.