Phân tích yếu tố liên quan đến hành vi sử dụng kháng sinh không hợp lý của người dân

Khám phá các yếu tố dẫn đến hành vi lạm dụng kháng sinh ở người dân. Phân tích thực trạng, nguyên nhân và cảnh báo về tình trạng kháng thuốc.

Chuyên ngành

Dược sĩ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2024

90
4
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và định nghĩa về lạm dụng kháng sinh

Lạm dụng kháng sinh là việc sử dụng thuốc kháng sinh không đúng cách, không tuân theo hướng dẫn của bác sĩ hoặc dướng dẫn sử dụng. Đây là một vấn đề y tế công cộng toàn cầu đang ngày càng trở nên nghiêm trọng. Sử dụng kháng sinh không hợp lý bao gồm việc tự ý mua thuốc kháng sinh mà không có đơn kê đơn từ chuyên gia, dùng liều lượng sai, sử dụng quá lâu hoặc quá ngắn, và dùng sai loại kháng sinh cho bệnh cụ thể. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), kháng kháng sinh phát sinh do việc lạm dụng và sử dụng không hợp lý các loại thuốc này. Vấn đề này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả điều trị và gây ra những hậu quả nặng nề cho sức khỏe cộng đồng, bao gồm tăng tỷ lệ mắc bệnh, biến chứng và tử vong.

1.1. Định nghĩa kháng sinh và chức năng

Kháng sinh là những chất có khả năng tiêu diệt hoặc ức chế sự phát triển của vi khuẩn, nấm và một số sinh vật nhỏ khác. Đây là loại thuốc không thể chữa được bệnh do virus gây ra như cảm lạnh thông thường hay cảm cúm. Sử dụng kháng sinh hợp lý yêu cầu phải có chỉ định rõ ràng, liều lượng chính xác, thời gian sử dụng phù hợp và theo đúng hướng dẫn của chuyên gia y tế để đạt hiệu quả tối đa.

1.2. Khái niệm kháng kháng sinh

Kháng kháng sinh hay kháng thuốc kháng sinh là hiện tượng vi khuẩn phát triển khả năng chống lại tác dụng của kháng sinh. Khi lạm dụng kháng sinh kéo dài, vi khuẩn sẽ thích nghi và phát triển các cơ chế để bảo vệ bản thân khỏi tác dụng của thuốc. Điều này làm giảm hiệu quả điều trị và làm tăng nguy hiểm cho bệnh nhân, đặc biệt là trong các trường hợp nhiễm trùng nặng.

II. Các yếu tố liên quan đến hành vi lạm dụng kháng sinh

Hành vi sử dụng kháng sinh không hợp lý của người dân chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau. Theo nghiên cứu từ Trường Đại học Dược Hà Nội, các yếu tố chính bao gồm: kiến thức hạn chế về kháng sinh và tác hại của nó, dễ dàng tiếp cận thuốc kháng sinh mà không cần đơn kê đơn, ảnh hưởng từ gia đình và bạn bè, và tâm lý muốn tự chữa bệnh nhanh chóng. Tự điều trị bằng kháng sinh là một hành vi phổ biến khiến người dân lạm dụng loại thuốc này một cách nguy hiểm. Các yếu tố xã hội, kinh tế và văn hóa cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hoặc hạn chế lạm dụng kháng sinh.

2.1. Yếu tố kiến thức và nhận thức

Thiếu hiểu biết về tác dụng phụ của kháng sinh và nguy hiểm của kháng kháng sinh là một yếu tố chính dẫn đến lạm dụng kháng sinh. Nhiều người dân không biết rằng kháng sinh chỉ có tác dụng với bệnh do vi khuẩn gây ra, không có tác dụng với virus. Sử dụng kháng sinh không hợp lý do thiếu kiến thức đúng đắn làm tăng rủi ro sức khỏe và góp phần vào tình trạng kháng thuốc toàn cầu.

2.2. Yếu tố tiếp cận thuốc và hành vi

Hành vi dự trữ kháng sinhtự điều trị bằng kháng sinh được thúc đẩy bởi việc dễ dàng mua thuốc kháng sinh tại các hiệu thuốc mà không cần đơn kê đơn. Chia sẻ hoặc nhận kháng sinh từ người thân cũng là hành vi phổ biến. Ngoài ra, xử lý không đúng cách kháng sinh dư thừa bằng cách vứt vào rác thải có thể gây ô nhiễm môi trường và làm tăng kháng kháng sinh ở cộng đồng.

III. Thực trạng lạm dụng kháng sinh ở Việt Nam

Tình trạng lạm dụng kháng sinh ở Việt Nam là một vấn đề y tế công cộng đáng báo động. Theo các nghiên cứu gần đây, tỷ lệ người dân sử dụng kháng sinh không hợp lý rất cao, đặc biệt là tự điều trị bằng kháng sinh mà không có sự giám sát của bác sĩ. Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ lạm dụng kháng sinh cao nhất ở châu Á, điều này góp phần vào sự gia tăng của kháng kháng sinh trong cộng đồng. Hành vi dự trữ kháng sinh ở nhà cũng rất phổ biến, với mục đích sử dụng khi bị ốm mà không cần tư vấn y tế. Ngoài ra, một số hành vi sử dụng kháng sinh không hợp lý khác như chia sẻ kháng sinh giữa các thành viên gia đình, sử dụng để phòng bệnh không có cơ sở cũng đang diễn ra rộng rãi.

3.1. Tỷ lệ sử dụng kháng sinh không hợp lý

Theo khảo sát trên 997 người dân từ các Trường Đại học Phenikaa, Kỹ thuật Y Dược Đà Nẵng, Y khoa Phạm Ngọc Thạch và khác, tỷ lệ tự điều trị bằng kháng sinh trong năm vừa qua chiếm một phần lớn. Hành vi chia sẻ hoặc nhận kháng sinh từ gia đình, bạn bè cũng có tỷ lệ cao. Việc dự trữ kháng sinh ở nhà được 272 người (27%) thực hiện, cho thấy lạm dụng kháng sinh đang lan rộng trong cộng đồng người dân Việt.

3.2. Cách xử lý kháng sinh dư thừa

Phần lớn người dân không biết cách xử lý kháng sinh dư thừa một cách đúng đắn, phần lớn vứt kháng sinh cùng rác thải thông thường. Điều này gây ô nhiễm môi trường và làm tăng kháng kháng sinh ở cộng đồng. Hành vi và ý định vứt kháng sinh cùng rác của người dân cần được can thiệp bằng giáo dục và cung cấp các điểm thu gom kháng sinh an toàn.

IV. Giải pháp can thiệp và khuyến nghị

Để giải quyết vấn đề lạm dụng kháng sinh ở Việt Nam, cần có một chiến lược toàn diện bao gồm giáo dục công chúng, cải thiện quy định và cơ chế giám sát. Sử dụng kháng sinh hợp lý cần được đưa vào chương trình giáo dục sức khỏe ở các trường học và cơ sở y tế. Các chuyên gia y tế, đặc biệt là những người từ Khoa Quản lý và Kinh tế Dược, cần tham gia vào việc phát triển chính sách và hướng dẫn rõ ràng về nguyên tắc sử dụng kháng sinh. Cần tăng cường giám sát việc bán thuốc kháng sinh tại các hiệu thuốc, yêu cầu đơn kê đơn bắt buộc. Đồng thời, cần thiết lập các điểm thu gom kháng sinh dư thừa an toàn để ngăn chặn ô nhiễm môi trường do kháng sinh.

4.1. Giáo dục và nâng cao nhận thức cộng đồng

Nâng cao kiến thức về kháng sinh thông qua các chiến dịch truyền thông, tài liệu giáo dục sức khỏe là điều cần thiết. Cần tạo sự hiểu biết rõ ràng về tác dụng phụ của kháng sinh, kháng kháng sinh và nguy hiểm của lạm dụng kháng sinh. Các bác sĩ, dược sĩ cần được đào tạo để cung cấp tư vấn chuyên sâu về sử dụng kháng sinh hợp lý cho bệnh nhân, từ đó hạn chế tự điều trị bằng kháng sinh.

4.2. Cải thiện quy định và quản lý

Cần tightening quy định về bán thuốc kháng sinh chỉ có đơn kê đơn từ bác sĩ. Cục quản lý Dược (Bộ Y Tế) cần tăng cường giám sát và xử phạt các hiệu thuốc bán kháng sinh trái phép. Xây dựng hệ thống thu gom kháng sinh dư thừa an toàn ở các cơ sở y tế và hiệu thuốc để ngăn chặn ô nhiễm môi trường. Phát triển các hướng dẫn chuẩn về sử dụng kháng sinh hợp lý cho các nhân viên y tế.

18/12/2025
Nguyễn đức an phân tích các yếu tố liên quan đến một số hành vi sử dụng kháng sinh không hợp lý của người dân

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Sử dụng kháng sinh có lợi ích to lớn trong điều trị, chăm sóc người bệnh và cả thú y khi được kê đơn và điều trị đúng. Tuy nhiên, nhóm thuốc này đã và đang được sử dụng rộng rãi, kéo dài và bị lạm dụng, làm cho các vi sinh vật thích nghi với thuốc, từ đó tạo điều kiện cho nhiều loại vi khuẩn trở nên kháng thuốc, làm cho thuốc kém hiệu quả hoặc không hiệu quả. Hiện tại, mỗi năm thế giới có khoảng 700.000 trường hợp tử vong do kháng kháng sinh. Uớc tính đến năm 2050: cứ ba giây sẽ có một người tử vong do các siêu vi khuẩn kháng kháng sinh, tương đương với khoảng 10 triệu người mỗi năm.

Khi đó, các bệnh thông thường như ho hay chỉ một vết cắt cũng có thể gây tử vong. Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy rằng việc sử dụng kháng sinh chưa hợp lý trong cộng đồng đang rất phổ biến, ví dụ như hành vi mua kháng sinh mà không có đơn, tự điều trị hay là vứt kháng sinh cùng rác [28]. Hiện nay, Việt Nam được Tổ chức Y tế Thế giới xếp vào nhóm các quốc gia có tỉ lệ kháng kháng sinh cao nhất trên thế giới. Trong khi nhiều quốc gia trên thế giới dùng kháng sinh thế hệ thứ nhất vẫn còn hiệu quả thì ở Việt Nam đã phải dùng tới thế hệ thứ ba hoặc thứ tư.

Ở nước ta, hầu hết các cơ sở khám, chữa bệnh đang phải đối mặt với sự lan rộng các vi khuẩn kháng với nhiều loại kháng sinh. Mức độ và tốc độ kháng thuốc ngày càng gia tăng và đang ở mức báo động. Ở nước ta, tỉ lệ mua kháng sinh mà không có đơn còn ở mức cao. Nhận thức đúng của người dân lẫn người bán thuốc về kháng sinh và kháng kháng sinh còn thấp [2].

Một nghiên cứu được thực hiện vào năm 2023 ở quận Long Biên, thành phố Hà Nội chỉ ra rằng tần suất sử dụng kháng sinh của các hộ gia đình là khá lớn, đặc biệt trẻ em là một trong những đối tượng sử dụng kháng sinh chính. Tỉ lệ tự ý mua kháng sinh ở mức rất cao (tới 92,5%) [6]. Các nghiên cứu về hành vi sử dụng kháng sinh ở Việt Nam trước đây chủ yếu được thực hiện với quy mô nhỏ (cỡ mẫu nhỏ hoặc chỉ thu thập số liệu ở một huyện hay một tỉnh). Với mong muốn có thể mang lại một số thông tin về việc sử dụng kháng sinh của người dân ở phạm vi quốc gia, nghiên cứu “Phân tích các yếu tố liên quan đến một số hành vi sử dụng kháng sinh không hợp lý của người dân” được thực hiện với hai mục tiêu chính: 1.

Mô tả việc sử dụng kháng sinh của người dân tại một số tỉnh, thành phố ở Việt Nam. Xác định các yếu tố liên quan đến một số hành vi sử dụng kháng sinh không hợp lý của người dân. CƠ SỞ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm thuốc kháng sinh Theo tài liệu “Hướng dẫn sử dụng kháng sinh của Bộ Y tế năm 2015”, kháng sinh là một nhóm thuốc đặc biệt vì việc sử dụng chúng không chỉ ảnh hưởng đến người bệnh mà còn ảnh hưởng đến cả cộng đồng.

Với những nước đang phát triển như Việt Nam, đây là một nhóm thuốc quan trọng vì bệnh lý nhiễm khuẩn nằm trong số những bệnh đứng hàng đầu cả về tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong. Sự bùng phát các chủng vi khuẩn kháng kháng sinh là một vấn đề cấp bách hiện nay. Sự xuất hiện của các chủng vi khuẩn này có thể ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị và sức khỏe người bệnh. Việc hạn chế sự phát triển của các chủng vi khuẩn kháng kháng sinh là nhiệm vụ không chỉ của ngành y tế mà của cả cộng đồng nhằm bảo vệ nhóm thuốc này.

Kháng sinh (antibiotics) được định nghĩa là “những chất kháng khuẩn được tạo ra bởi các chủng vi sinh vật (vi khuẩn, nấm, Actinomycetes), có tác dụng ức chế sự phát triển của các vi sinh vật khác. Hiện nay, từ kháng sinh được mở rộng đến cả những chất kháng khuẩn có nguồn gốc tổng hợp như các sulfonamid và quinolon. Để bảo đảm sử dụng thuốc hợp lý, người dân cần nắm vững những kiến thức cần thiết liên quan đến kháng sinh, vi khuẩn gây bệnh và người bệnh. Sau đây, các thuốc kháng sinh được đề cập đến bao gồm tất cả các chất có tác dụng trên vi khuẩn gây bệnh.

Theo danh mục thuốc cần kê đơn và bán theo đơn quy định tại Công văn 1517/BYT-KCB năm 2008, thì kháng sinh là một loại thuốc cần được bán theo đơn của bác sĩ [1]. Kháng sinh được sử dụng trong việc điều trị hoặc ngăn ngừa các loại bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn gây ra. Kháng sinh hoạt động bằng cách tiêu diệt vi khuẩn hoặc ngăn ngừa chúng phát triển. Tuy nhiên kháng sinh không có tác dụng đối với tất cả các loại vi khuẩn.

Kháng sinh không có tác dụng đối với các loại nhiễm trùng do virus ví dụ như: cảm cúm, cảm lạnh và các loại cảm thông thường. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), kháng sinh được phân ra làm ba nhóm để quản lý: - Nhóm Acess: là các kháng sinh có phổ tác dụng hẹp, thường ít tác dụng phụ, ít có khả năng chọn lọc kháng kháng sinh và giá thành thấp hơn. Chúng được khuyến khích sử dụng để điều trị theo kinh nghiệm đối với hầu hết các bệnh nhiễm trùng thông thường và cần được phổ biến rộng rãi. Ví dụ như: amoxicillin và amoxicillin + axit clavulanic.

- Nhóm Watch: thường có tiềm năng cao hơn trong việc lựa chọn cho trường hợp kháng kháng sinh và được sử dụng phổ biến hơn ở những bệnh nhân bị bệnh nặng hơn 2 trong cơ sở bệnh viện. Việc sử dụng chúng cần được theo dõi cẩn thận hơn để tránh bị lạm dụng. Ví dụ như: Azithromycin, cefuroxim, ciprofloxacin và clarithromycin. - Nhóm Reserve: là loại kháng sinh cuối cùng chỉ nên được sử dụng để điều trị các bệnh nhiễm trùng nặng do vi khuẩn đa kháng thuốc.

Ví dụ như: Cefiderocol, ceftazidime + avibactam và meropenem + vaborbactam [49]. Khái niệm về kháng kháng sinh Theo WHO, kháng kháng sinh là khả năng của các vi sinh vật như vi khuẩn, nấm hoặc ký sinh trùng sinh trưởng với sự hiện diện của kháng sinh mà thông thường có thể giết chết hoặc hạn chế sự phát triển của chúng. Kết quả là các liệu pháp điều trị thông thường trở nên không hiệu quả. Nhiễm trùng do đó trở nên nghiêm trọng hơn, dẫn đến thời gian mắc bệnh lâu hơn, chi phí điều trị và nguy cơ tử vong cao hơn.

Bởi vì kháng kháng sinh, ngày càng có nhiều loại nhiễm trùng thông thường (như viêm phổi, nhiễm trùng đường tiết niệu và bệnh lao) càng trở nên khó điều trị hơn và đôi khi không thể điều trị được nữa. Kháng kháng sinh là mối đe dọa sức khỏe cộng đồng trên toàn thế giới, ảnh hưởng đến sức khỏe, cuộc sống của người dân và sự phát triển tổng thể và bền vững của một quốc gia. Việt Nam là một trong các quốc gia mà trong những năm gần đây đã phải chứng kiến mối đe dọa ngày càng gia tăng của kháng kháng sinh do việc sử dụng kháng sinh không hợp lý tại các cấp của hệ thống chăm sóc sức khỏe, trong nuôi trồng thủy sản, trong chăn nuôi và trong cộng đồng [41]. Theo Dịch vụ y tế quốc gia Anh: Kháng kháng sinh là hiện tượng tự nhiên xảy ra khi vi sinh vật tiếp xúc với thuốc kháng sinh.

Dưới sự chọn lọc của kháng sinh, vi khuẩn nhạy cảm bị tiêu diệt hoặc ức chế, trong khi vi khuẩn kháng tự nhiên (hoặc nội tại) hoặc có đặc điểm kháng kháng sinh có cơ hội sống sót và nhân lên cao hơn. Không chỉ việc lạm dụng kháng sinh mà việc sử dụng kháng sinh không hợp lý (như lựa chọn không phù hợp, sử dụng không đúng liều lượng và không tuân thủ đúng hướng dẫn điều trị) góp phần làm tăng tình trạng kháng kháng sinh. Có bốn lĩnh vực chính liên quan đến sự phát triển của tình trạng kháng kháng sinh: - Sử dụng thuốc cho con người trong cộng đồng, - Chăn nuôi và nông nghiệp, - Lĩnh vực môi trường và - Sử dụng thuốc trong bệnh viện [46]. Theo Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Mỹ: Tình trạng kháng kháng sinh xảy ra khi vi khuẩn và nấm phát triển khả năng chống lại các loại thuốc được thiết kế để tiêu diệt chúng.

Kháng kháng sinh là mối đe dọa khẩn cấp đối với sức khỏe của người dân trên toàn cầu. Tình trạng kháng kháng sinh ảnh hưởng tới con người ở bất kì 3 giai đoạn nào trong cuộc sống, ảnh hưởng đến cả lĩnh vực thú y và nông nghiệp. Điều này khiến nó trở thành một trong những vấn đề sức khỏe cộng đồng cấp bách nhất trên toàn thế giới. Vi khuẩn không nhất thiết phải kháng lại tất cả các loại kháng sinh mới gây ra nguy hiểm, mà việc kháng lại dù chỉ là một loại kháng sinh cũng có thể gây ra các vấn đề nghiêm trọng, ví dụ như: - Nhiễm trùng do vi khuẩn kháng kháng sinh khiến bệnh nhân phải sử dụng phương pháp điều trị bậc hai và bậc ba có thể gây hại cho bệnh nhân do có thể gây ra các tác dụng phụ nghiêm trọng, chẳng hạn như suy nội tạng, kéo dài thời gian chăm sóc và phục hồi (đôi khi kéo dài trong nhiều tháng).

- Nhiều tiến bộ y học phụ thuộc vào khả năng chống nhiễm trùng bằng kháng sinh, bao gồm: thay khớp, cấy ghép nội tạng, điều trị ung thư và điều trị các bệnh mãn tính như tiểu đường, hen suyễn và viêm khớp dạng thấp. - Trong một số trường hợp, những bệnh nhiễm trùng này không có thuốc để điều trị [42]. Theo Hiệp hội Nhiễm trùng Thế giới, tình trạng kháng kháng sinh xảy ra khi vi khuẩn phát triển khả năng phòng vệ chống lại các loại kháng sinh được thiết kế để tiêu diệt chúng. Nếu một loại kháng sinh đã bị đề kháng lại bởi vi khuẩn thì cần có các loại kháng sinh khác để điều trị.

Đôi khi vi khuẩn có thể trở nên đề kháng với tất cả các loại kháng sinh hiện có khiến bệnh nhân bị nhiễm trùng do vi khuẩn này không còn lựa chọn nào để điều trị. Hơn nữa, vi khuẩn kháng thuốc có thể lây sang người khác ở cơ sở chăm sóc sức khỏe hoặc tại nhà. Tình trạng kháng kháng sinh có thể xuất hiện bất cứ lúc nào kháng sinh được sử dụng, ngay cả khi chúng được kê đơn và sử dụng hợp lý. Trên thực tế, tình trạng kháng kháng sinh có thể xuất phát từ nhiều nguồn khác nhau và xảy ra một cách tự nhiên khi vi khuẩn tiến hóa.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ