Chương 1: Tổng quan nghiên cứu vấn đề lạm dụng điện thoại thông minh ở sinh viên đại học. Chương 2: Cơ sở lí luận về lạm dụng điện thoại thông minh ở sinh viên đại học Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực tiễn về lạm dụng điện thoại thông minh trên sinh viên đại học thành phố Hồ Chí Minh. 9 C ươ 1 TỔNG QUAN C C NGHIÊN CỨU VỀ LẠM DỤNG ĐIỆN THOẠI THÔNG MINH Ở SINH VIÊN ĐẠI HỌC Trên thế giới, các nghiên cứu về lạm dụng điện thoại thông minh ở sinh viên đang gia tăng đáng kể.
Các nghiên cứu về vấn đề này đã nhận được sự quan tâm từ các nhà nghiên cứu trên toàn thế giới (46 quốc gia khác nhau đại diện cho tất cả các nước trên thế giới). Các nhà nghiên cứu từ Hàn Quốc, Hoa Kỳ và Trung Quốc là những người tích cực nhất trong dòng nghiên cứu này. Các tài liệu công bố các nghiên cứu về lạm dụng điện thoại thông minh ở sinh viên được xuất bản từ năm 2000 đến năm 2020 đã cho thấy các nghiên cứu về lạm dụng điện thoại thông minh ở giai đoạn này được tập trung vào các vấn đề như: làm rõ các triệu chứng và mức độ lạm dụng điện thoại thông minh ở sinh viên đại học; Xác định công cụ đánh giá lạm dụng điện thoại thông minh; Thảo luận sự khác biệt về mức độ lạm dụng điện thoại thông minh theo giới tính, ngành học, trình độ học vấn, mức thu nhập của gia đình; Thảo luận về các yếu tố dẫn tới lạm dụng điện thoại thông minh ở sinh viên; Thảo luận về các biện pháp tham vấn, trị liệu lạm dụng điện thoại thông minh (Hafidha Suleiman Al-Barashdi, Abdelmajid Bouazza and Naeema H. Dưới đây, luận án cũng sẽ tập trung tổng quan các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam theo các hướng nghiên cứu này.Cá iê ứu về biểu iệ v ứ độ ạ dụ điệ t oại t ô i ở si viê đại 1.Trên thế giới Trên thế giới, các nghiên cứu về biểu hiện và mức độ lạm dụng điện thoại thông minh ở sinh viên đại học khá đa dạng và phong phú, điều này càng khẳng định thêm tầm quan trọng và sự cấp thiết của vấn đề nghiên cứu này trong giai đoạn hiện nay.
10 Trong một nghiên cứu về biểu hiện và mức độ lạm dụng điện thoại thông minh ở sinh viên đại học, Bianchi và Phillips đã lập luận rằng, vấn đề lạm dụng điện thoại thông minh có thể là một biểu hiện của sự thiếu hụt kiểm soát xung lực hoặc trầm cảm. Kết quả nghiên cứu của các tác giả này cũng tiết lộ rằng những người trẻ tuổi, trong đó có sinh viên dường như dễ bị sử dụng nhiều và lạm dụng điện thoại thông minh [52]. James và Drennan đã thực hiện nghiên cứu về việc sử dụng điện thoại thông minh của sinh viên Úc và phát hiện ra sinh viên trong mẫu nghiên cứu của họ sử dụng điện thoại thông minh từ 1,5 đến 5 giờ mỗi ngày. Phát hiện của họ về biểu hiện lạm dụng điện thoại thông minh ở sinh viên bao gồm một loạt các đặc điểm liên quan đến biểu hiện của người sử dụng chất gây nghiện như: bốc đồng, căng thẳng gia tăng trước khi sử dụng điện thoại thông minh, thất bại trong những chiến lược kiểm soát việc sử dụng điện thoại thông minh (James và Drennan, 2005) [99].
Trong một nghiên cứu của Perry và Lee cho thấy: từ 6% đến 11% sinh viên lạm dụng điện thoại thông minh có các biểu hiện như: khả năng chịu đựng, khả năng rút lui, trong khi học tập và làm việc không có khả năng giảm việc sử dụng điện thoại thông minh. Số lượng tin nhắn gửi đi và kỹ năng nhận thức khi sử dụng các tính năng và ứng dụng trên điện thoại thông minh là những yếu tố dự báo đáng kể về mức độ lạm dụng điện thoại thông minh ở sinh viên. Những sinh viên trong mẫu nghiên cứu được xác định là lạm dụng dụng thoại thông minh cho thấy việc gửi tin nhắn ở họ tăng gấp đôi hoặc gấp ba so với tỷ lệ được tìm thấy ở những sinh viên khác cùng mẫu nghiên cứu (Perry và Lee, 2007) [130]. Walsh và cộng sự đã thực hiện một nghiên cứu định tính để kiểm tra các hoạt động của sinh viên đại học liên quan đến việc sử dụng điện thoại thông minh.
Nghiên cứu đã sử dụng các tiêu chí chẩn đoán nghiện hành vi để xác định các biểu hiện lạm dụng điện thoại thông minh trên sinh viên thuộc 11 mẫu nghiên cứu. Nghiên cứu này kết luận rằng, sinh viên đại học lạm dụng điện thoại thông minh đến mức họ bộc lộ dấu hiệu của chứng ám ảnh hành vi (Walsh và cộng sự, 2008) [160]. Trong một nghiên cứu của Hassanzadeh và Rezaei đã kết luận, sự phụ thuộc vào tin nhắn văn bản trên điện thoại dưới các hình thức như tin nhắn trên email, zalo, facebook, messenger,… là hành vi bắt buộc liên quan đến tin nhắn văn bản gây ra các biểu hiện tâm lý hoặc hành vi, xuất hiện từ quá trình sử dụng tin nhắn văn bản giữa các sinh viên. Kết quả cho thấy sinh viên đại học lạm dụng điện thoại thông minh và lạm dụng việc sử dụng tin nhắn trên điện thoại thông minh đã trở thành một vấn đề ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khoẻ và tinh thần ở họ.
Hơn nữa việc sử dụng điện thoại thông minh có vấn đề có thể làm phức tạp thêm các vấn đề về sinh lý và tâm lý của người sử dụng (Hassanzadeh và Rezaei, 2011) [90]. Để xác nhận mức độ lạm dụng điện thoại thông minh, Park đã đề nghị những người được hỏi báo cáo số phút sử dụng điện thoại thông minh của họ và chia họ thành người lạm dụng điện thoại thông minh mức độ nhẹ, báo cáo sử dụng ít hơn 9 phút một lần, người lạm dụng điện thoại thông minh mức độ nhiều, báo cáo sử dụng nhiều hơn 9 phút một lần. Park cũng đã kết luận, những người lạm dụng điện thoại thông minh có 7 dấu hiệu biểu hiện sau: khoan dung, rút lui, sử dụng ngoài ý muốn, cắt giảm, sử dụng nhiều thời gian, thay thế các hoạt động khác và tiếp tục sử dụng điện thoại thông minh mặc dù đã nhìn thấy những hậu quả do điện thoại thông minh gây ra cho bản thân (Park, 2005)[128]. Tác giả Choliz đã thiết kế một bản câu hỏi kiểm tra mức độ lạm dụng điện thoại thông minh trên sinh viên gồm 3 tiêu chí biểu hiện: Thiếu kiểm soát; Chịu đựng; Không tự hạn chế việc sử dụng điện thoại thông minh.
Các tiêu chí này được xác định dựa trên các tiêu chí từ Cẩm nang Chẩn đoán và Thống kê rối loạn tâm thần – Phiên bản 4. Các tiêu chí này bao gồm: Sử dụng 12 quá mức, các vấn đề với cha mẹ, khó kiểm soát việc sử dụng, ảnh hưởng tới các hoạt động khác, cảm giác khó chịu khi không thể sử dụng điện thoại thông minh. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, các nữ sinh viên có mức độ phụ thuộc vào điện thoại thông minh nhiều hơn nam sinh viên. Tương tự như vậy, các nữ sinh viên đạt điểm cao hơn các nam sinh viên về từng yếu tố trong bản câu hỏi.
Nữ sinh viên có mức độ chịu đựng cao hơn và trải qua nhiều tác động hơn với các hoạt động khác. Nữ sinh viên cũng sử dụng điện thoại thông minh để lảng tránh trạng thái, tâm trạng khó chịu và họ cảm thấy tồi tệ nếu không được sử dụng. Nữ sinh viên cũng gặp phải nhiều khó khăn hơn về kinh tế, về các vấn đề liên quan tới gia đình do lạm dụng điện thoại thông minh gây ra (Chóliz M. Billieux J, Linden M, Rochat L.
và cộng sự đã nghiên cứu vai trò của sự thúc đẩy trong việc sử dụng điện thoại thông minh thực tế và sử dụng điện thoại thông minh có vấn đề. Kết quả nghiên cứu của họ đã báo cáo bốn thành phần khác nhau liên quan tới lạm dụng điện thoại thông minh gồm: hành vi bốc đồng, sự khẩn cấp, thiếu tính toán trước, thiếu kiên trì và tìm kiếm cảm giác. Bảng câu hỏi sử dụng điện thoại thông minh có vấn đề đã đo lường 4 khía cạnh khác nhau của việc lạm dụng điện thoại thông minh đó là: bị cấm sử dụng; sử dụng nguy hiểm; phụ thuộc và tài chính. Kết quả cho thấy, mặc dù mỗi loại xung lực đóng một vai trò cụ thể trong việc sử dụng điện thoại thông minh, nhưng “khẩn cấp” dường như là yếu tố dự đoán mạnh nhất về việc sử dụng điện thoại thông minh có vấn đề (Billieux J, Linden M, Rochat L, 2008) [54].
Ở Trung Quốc, Casey đã xác định các biểu hiện liên quan tới việc lạm dụng điện thoại thông minh ở sinh viên đại học. Phân tích nhân tố khám phá của thang đo mức độ nghiện điện thoại thông minh đã xác định được 5 biểu hiện đó là: coi thường hậu quả có hại, bận tâm, không thể kiểm soát sự thèm 13 muốn sử dụng; giảm năng suất làm việc và cảm thấy lo lắng và lạc lõng (Casey BM, 2012)[61]. Ở Hàn Quốc, dựa trên việc sử dụng thang đo chẩn đoán nghiện internet Kwon và cộng sự đã phát triển thang đo chẩn đoán lạm dụng điện thoại thông minh. Dựa trên kết quả phân tích nhân tố, thang đo phụ của thang đo Nghiện điện thoại thông minh (SAS) được xác định các biểu hiện nghiện điện thoại thông minh theo các biểu hiện: xáo trộn cuộc sống hàng ngày, dự đoán tích cực, rút tiền, mối quan hệ định hướng không gian mạng, phụ thuộc và khoan dung (Kwon và cộng sự, 2013) [113].Ở Việt Nam Các nghiên cứu về biểu hiện và mức độ lạm dụng điện thoại thông minh ở sinh viên đại học còn là vấn đề nghiên cứu khá mới mẻ.
Tổng quan các nghiên cứu về biểu hiện và mức độ lạm dụng điện thoại thông minh ở sinh viên đại học ở Việt Nam đến thời điểm hiện nay còn rất ít. Có thể nêu dẫn một vài công trình nghiên cứu sau đây: Nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Minh Tâm, Nguyễn Phúc Thành Nhân, Nguyễn Thị Thuý Hằng (2017) với tựa đề “Mối liên hệ giữa mức độ sử dụng điện thoại thông minh và các rối loạn giấc ngủ, rối loạn tâm lý ở học sinh trung học phổ thông và sinh viên” đã xác định được những học sinh, sinh viên lạm dụng dụng điện thoại thông minh có biểu hiện biểu hiện ở các khía cạnh xáo trộn sinh hoạt, dự đoán tích cực, thu hồi, mối quan hệ không gian mạng theo định hướng, sử dụng quá mức, và khả năng chống chịu, dung nạp [31].