MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Không điệu đà như hoa huệ, không rực rỡ như hoa hồng, hoa lan mang trong mình một vẻ đẹp đằm thắm, dịu dàng rất riêng, chính nhờ có vẻ đẹp ấy mà loài hoa lan không chỉ được coi là loài hoa quý hiếm trên thế giới mà ngay cả ở Việt Nam loài hoa này cũng mang lại một giá trị kinh tế rất cao. Trước đây hoa lan được coi là hình ảnh tượng trưng cho các bậc vua chúa, vương giả và ngày nay nó chính là niềm tự hào của người dân Việt Nam trong mắt bạn bè, du khách quốc tế. Hoa lan không những đẹp về màu sắc còn đẹp cả về hình dáng. Màu sắc thắm tươi, đủ vẻ, từ trong như ngọc, trắng như ngà, êm mượt như nhung, mịn màng như phấn, tím sậm, đỏ nhạt, nâu, xanh, vàng, tía cho đến chấm phá, loang, sọc, vằn thẩy đều không thiếu.
Hình dáng đa dạng phong phú, mỗi thứ hoa lại có một dị biệt hác thường. Hoa lan có loại cánh tròn, có loại cánh dài nhọn hoắt, có loại cụp vào, có loại xòe ra có những đường chun xếp, vòng vèo, uốn éo, có loại có râu, có vòi cuốn, có những hoa giống như con bướm, con ong. Hoa lan có những bông nhỏ nhưng cũng có bụi lan rất lớn và nặng. Hương lan thơm ngát, dịu dàng, thoang thoảng, ngọt ngào, thanh cao, vương giả.
Hoa lan nếu được nuôi giữ ở nhiệt độ và ẩm độ thích hợp có thể giữ được nguyên hương, nguyên sắc từ 2 tuần lễ cho đến 2 tháng, có những bông lâu đến 4 tháng, có những giống nở hoa liên tiếp quanh năm. Cũng giống như một số quốc gia khác trên thế giới, ở Việt Nam hoa phong lan có sự đa dạng về hình dáng, màu sắc cũng như chủng loại. Các nhà khoa học dựa trên đặc điểm của các loài lan mà phân chia chúng thành hai h 2 nhóm lớn là phong lan và địa lan. Phong lan là loài hoa sống được nhờ vào các thân cây ẩm ướt ở trên núi cao hoặc trong rừng, còn địa lan là loài hoa sống nhờ đất ẩm ướt ở bờ suối, sườn núi, dưới mặt đất hay ở tán từng… Hoa lan là cây cảnh được nhiều người ưa chuộng và có hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Nếu phát triển hoa lan hợp lý, đồng bộ, không chỉ đáp ứng cho nhu cầu chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng hiệu quả, bền vững, đủ sản phẩm cho tiêu thụ tại chỗ mà còn cung cấp sản phẩm hoa, giống cho thị trường nội địa và nước ngoài. Để tìm hiểu một số kỹ thuật trồng và chăm sóc hoa lan trong điều kiện sinh cảnh tự nhiên ở huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên phục vụ công tác bảo tồn và phát triển các loài Lan rừng, tôi nghiên cứu khóa luận: “Nghiên cứu kỹ thuật gây trồng, chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh hại các loại lan rừng: Hài lông (Paphiopedilum hirsutissimum), Hoàng thảo hoa vàng (Dendrobium chrysanthum), Tục đoạn mềm (Pholidota chinensis) tại vườn lan Hồ Núi Cốc.2 Mục tiêu nghiên cứu Xác định được kỹ thuật gây trồng các loai lan: Hài lông (Paphiopedilum hirsutissimum), Hoàng thảo hoa vàng (Dendrobium chrysanthum), Tục đoạn mềm (Pholidota chinensis). Đánh giá được mức sinh trưởng của Hài lông (Paphiopedilum hirsutissimum), Hoàng thảo hoa vàng (Dendrobium chrysanthum), Tục đoạn mềm (Pholidota chinensis). Đề xuất các biện pháp gây trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh hại cho 3 loài lan nghiên cứu.3 Ý nghĩa của đề tài 1.1 Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học về khả năng sinh trưởng và ra hoa của hài lông, hoàng thảo hoa vàng và tục đoạn mềm.
Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo trong giảng dạy và nghiên cứu về hoa.2 Ý nghĩa trong thực tiễn Giúp tôi hiểu thêm về đặc điểm sinh thái của các loài lan được nghiên cứu. Ứng dụng được kiến thức đã học vào trong thực tiễn. Kết quả đề tài góp phần giải quyết yêu cầu thực tế sản xuất của các hộ nông dân, các doanh nghiệp trồng hoa lan để lựa chọn các biện pháp kỹ thuật tốt nhất để nuôi trồng các loài lan. Tạo tiền đề thúc đẩy nghề trồng hoa lan ở Thái Nguyên, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.
h 4 Phần 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu Về cơ sở sinh học Việc nghiên cứu đối với bất kỳ loài cây rừng nào chúng ta cũng cần phải nắm rõ được đặc điểm sinh học của từng loài lan. Việc hiểu rõ hơn về đặc tính sinh học của loài giúp chúng ta có những biện pháp tác động phù hợp và kịp thời, sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý và bảo vệ hệ động thực vật quý hiếm, từ đó giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn về thiên nhiên sinh vật một cách khái quát hơn. Cơ sở thực tiễn Đối với phong lan: Không để cho nắng trời trực tiếp chiếu vào, đặc biệt "kỵ" với nắng quái chiều và gió tây (gió Lào). Chú ý phun tưới (tốt nhất là phun sương mù nhân tạo) cho toàn bộ cây và giá thể theo kinh nghiệm "2 ướt - 1 khô" trong ngày, đó là vào các thời điểm trước bình minh và sau hoàng hôn.
Lượng nước vừa đủ để làm mát cây, ướt rễ và dự trữ. Đối với địa lan: Chăm sóc như đối với phong lan, cần chú ý đảm bảo đất nền tơi xốp, nhiều màu ở thể hữu cơ đang hoai mục là tốt nhất. Nên bổ sung từ 10-20% vụn gỗ mục (cả vỏ), 10-20% (theo khối lượng tổng thể) các mẫu than gỗ nhỏ, luôn ẩm (nhưng không ướt sũng) để nhử rễ ăn ra (gọi là hồ rễ). Tránh gió khô, nóng lùa qua phần nổi của cây.
Làm mát đất bằng phun tưới nước loang theo bóng tán. Cần loại bỏ ngay những lá già để ngăn chặn sâu bệnh bội nhiễm, tỉa các cành khô, rễ đã hết chức năng hấp thụ hơi nước và cộng sinh với vi khuẩn cố định đạm nuôi cây. Không nên dùng NPK - loại dùng cho cây hoa màu, cây lương thực để bón cho lan. Để cây tươi lâu, đẹp bền, hoa sai thắm màu, hương đậm có thể h 5 thúc cho lan (phun tưới toàn bộ giá thể) với nước gạo mới vo, nước ngâm tro hoai và rắc xỉ than (nguồn phân vi lượng tổng hợp).
Nếu có điều kiện lấy bông (hoặc vải cotton) nhúng vào dung dịch glycerin 10-15% cuốn vào cổ rễ để giữ ẩm cho cây. Kỹ thuật chăm sóc lan ra hoa: Cây sau khi ra hoa nếu không đáp ứng độ ẩm sẽ khiến rễ, lá teo nhăn lại rất khó hồi phục. Nếu mới trồng, nên tưới phân số 1 (phân nhiều đạm) hay phân số 2 (phân trung hòa đạm và NPK) nồng độ 1- 2g/lít nước. Trung bình nên tưới nước cho cây hai lần/ngày, tưới vào buổi sáng sớm và buổi chiều mát.
Làm đúng như vậy thì cây sẽ ra hoa.2 Tổng quan về các loài lan 2.1 Đặc điểm sinh thái Hoa là nguồn tài nguyên, là vẻ đẹp tôn quý của thiên nhiên ban tặng cho con người, cùng với sự phát triển về kinh tế, xã hội nghề trồng hoa và thú vui chơi hoa trong những năm gần đây dần đi theo chiều sâu, thưởng thức những loài hoa có chất lượng cao và có giá trị kinh tế lớn. Trong các loài hoa, hoa lan đang là nhu cầu của nhiều thị trường trong và ngoài nước. - Đặc điểm thực vật Họ Lan (Orchidaceae) là một họ thực vật có hoa, thuộc bộ Lan Orchidales, lớp thực vật một lá mầm. Lan thuộc vào loài hoa đông đảo với khoảng 750 loài và hơn 25.000 giống nguyên thủy và khoảng một triệu giống đã được lai giống nhân tạo hay thiên tạo, hoa lan (Orchidaceae) là một loài hoa đông đảo vào bậc thứ nhì sau hoa cúc (Asteraceae).
Người ta thường gọi lầm tất cả các loại hoa lan là phong lan. Hoa lan mọc ở các điều kiện, giá thể khác nhau và được chia làm 4 loại: 1. Epiphytes: Phong lan bám vào cành hay thân cây gỗ đang sống. Terestrials: Địa lan mọc dưới đất.
Lithophytes: Thạch lan mọc ở các kẽ đá. Saprophytes: Loại lan mọc trên lớp rêu hay gỗ mục. Đối với các loài lan (phong lan và địa lan), hầu như từ trước tới nay, người dân mới biết đến chúng là những loài được sử dụng làm cây cảnh trang trí ở các hộ gia đình mà chưa biết rằng trong số hàng ngàn loài lan đã phát hiện có một số loài còn có tác dụng cung cấp các hoạt chất sinh học làm nguyên liệu chế biến thuốc và thực phẩm chức năng. Trong số những loài đó người ta đã phát hiện trong lan Thạch hộc tía và lan kim tuyến có chứa một loại hoạt chất để sản xuất thuốc chữa ung thư.
Chính vì vậy, giá thị trường hiện nay lên tới 7 triệu đồng/kg lan Thạch hộc tía.2 Đặc điểm phân bố - Phân bố Đây là một trong những họ lớn nhất của thực vật, và chúng phân bố nhiều nơi trên thế giới. Gần như có mặt trong mọi môi trường sống, ngoại trừ các sa mạc và sông băng. Phần lớn các loài được tìm thấy trong khu vực nhiệt đới, chủ yếu là châu Á, Nam Mỹ và Trung Mỹ. Chúng cũng được tìm thấy tại các vĩ độ cao hơn vòng Bắc cực, ở miền nam Patagonia và thậm chí trên đảo Macquarie, gần với châu Nam Cực.
Nó chiếm khoảng 6–11% số lượng loài thực vật có hoa. Theo Helmut Bechtel (1982) [13], hiện nay trên thế giới có hơn 750 loài lan rừng, gồm hơn 25.000 giống được xác định, chưa kể một số lượng khổng lồ Lan lai không thể thống kê chính xác số lượng. Lan rừng phân bố trên thế giới gồm 05 khu vực: + Vùng nhiệt đới Châu Á gồm các giống: Bulbophyllum, Calanthe, Ceologyne, Cymbidium, Dendrobium, Paphiopedilum, Phaius, Phalaenopsis, Vanda, Anoectochillus… h 7 + Vùng nhiệt châu Mỹ gồm các giống: Brassavola, Catasetum, Cattleya, Cynoches, Pleurothaillis, Stanhopea, Zygopetalum, Spathoglottis. + Châu Phi gồm các giống: Lissochilus, Polystachiya, Ansellia, Disa… + Châu Úc gồm các giống: Bulbophyllum, Calanthe, Cymbidium, Dendrobium, Eria, Phaius, Pholidota, Sarchochilus… + Vùng ôn đới của Châu Âu, Bắc Mỹ và Đông Bắc Châu Á gồm các giống: Cypripedium, Orchis, Spiranthes… Danh sách dưới đây liệt kê gần đúng sự phân bố của họ Orchidaceae: Nhiệt đới châu Mỹ: 250 - 270 chi Nhiệt đới châu Á: 260 - 300 chi Nhiệt đới châu Phi: 230 - 270 chi Châu Đại Dương: 50 - 70 chi Châu Âu và ôn đới châu Á: 40 - 60 chi Bắc Mỹ: 20 - 25 chi 2.3 Đặc điểm hình thái Lan rừng Việt Nam – Nguồn gốc, đặc điểm thực vật học đã được rất nhiều tác gia để cập đến.