Đặt vấn đề Cây hoa lan được mọi người yêu thích, trước hết là ở hương thơm, lan được gọi là “vương giả hương” (hương thơm vương giả), “hương tổ” (tổ tiên của hương thơm). Lan là biểu tượng của sự may mắn, phẩm chất cao thượng. Hoa lan là một món quà của tạo hóa, nó không chỉ là một loài hoa đẹp có giá trị về mặt tinh thần mà còn có giá trị kinh tế cao và hiện đang có thị trường tiêu thụ mạnh trong nước cũng như xuất khẩu. Ngày nay, chúng ta có thể thấy hoa lan ở khắp mọi nơi và dễ bị choáng ngợp trước vẻ đẹp quyến rũ, biến hóa muôn màu,muôn vẻ của các loài hoa như: Cattleya, Hồ Điệp, Dendrobium, Vanda, Cymbidium.
Hoa lan được ưa chuộng phải chăng bởi đó là biểu tượng của niềm khao khát cuộc sống phong lưu và hạnh phúc bền bỉ. Trên thế giới có hơn 25.000 giống khác nhau, cùng với những loài mới được khám phá và mô tả theo hàng năm. Chúng phân bố nhiều nơi trên thế giới và Việt Nam. Hoa lan được coi là loài hoa tinh khiết, hoa vương giả cao sang, vua của các loài hoa.
Hoa lan không những đẹp về màu sắc mà còn đẹp cả về hình dáng, cái đẹp của hoa lan thể hiện từ những đường nét của cánh hoa tao nhã đến dạng hình thân, lá, cành duyên dáng ít có loài hoa nào sánh nổi. Màu sắc thắm tươi, đủ vẻ, từ trong như ngọc, trắng như ngà, êm mượt như nhung, mịn màng như phấn, tím sậm, đỏ nhạt, nâu, xanh, vàng, tía cho đến chấm phá, loang sọc vằn… Hình dáng đa dạng phong phú, dù rằng phần lớn chỉ là 5 cánh bao bọc chung quanh một cái môi elip, nhưng mỗi thứ hoa lại có những dị biệt khác thường. Hoa lan có loại cánh tròn, có loại cánh dài nhọn hoắt, có loại cụp vào, có loại xoè ra có những đường chun xếp, vòng vèo, uốn éo, có loại có h 2 râu, có vòi quấn quýt, có những hoa giống như con bướm, con ong. Hoa lan có những bông nhỏ nhưng cũng có bụi lan rất lớn và nặng gần một tấn.
Ngoài ra lan rừng có giá trị kinh tế cao, được nhiều người ưa thích. Tuy nhiên, hầu hết các loài lan rừng chỉ được khai thác và nuôi trồng trong điều kiện tự nhiên, chưa được áp dụng các biện pháp kỹ thuật nên năng suất, chất lượng hoa không cao, chưa đáp ứng được nhu cầu thị hiếu người tiêu dùng. Trong khi các giống lan nhập nội lại có các ưu điểm như sinh trưởng, phát triển khỏe, sản lượng hoa cao, chất lượng hoa tốt: Hoa to, màu sắc đẹp, đa dạng, độ bền hoa kéo dài và điều khiển ra hoa được vào các dịp lễ tết, nên đã mang lại hiệu quả cao cho người trồng lan. Trên cơ sở đó tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu kỹ thuật gây trồng, chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh hại các loài lan rừng: Sóc ta (Rhynchostylis Retusa), Hài điểm ngọc (Paphiopedilum emersonii), Hoàng thảo nghệ tâm (Dendrobium loddigesii) tại vƣờn lan Hồ Núi Cốc”.
Đề tài hoàn thành là tài liệu tham khảo cho cán bộ sinh viên quan tâm và yêu thích lan rừng, góp phần hoàn thành khoá luận tốt nghiệp đại học, khoa Lâm nghiệp trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên.2 Mục tiêu nghiên cứu - Xác định được kỹ thuật gây trồng và chăm sóc 03 loài lan: Sóc ta, Hài điểm ngọc, Hoàng thảo nghệ tâm. - Xác định khả năng sinh trưởng của 03 loài lan: Sóc ta, Hài điểm ngọc, Hoàng thảo nghệ tâm tại khu vực nghiên cứu. - Đề xuất được một số biện pháp chăm sóc các loài lan được nghiên cứu.1 Ý nghĩa về khoa học - Việc nghiên cứu về một số kỹ thuật gây trồng và chăm sóc kỹ thuật phòng trừ sâu bệnh hại của các loài lan nhằm đề suất một số biện pháp bảo tồn. - Nhận thức được tầm quan trọng của công tác bảo tồn và những vai trò mà loài lan mang lại cho cuộc sống.
Tuyên truyền cho nhân dân và các cán bộ quản lý tài nguyên rừng cần có biện pháp bảo vệ và bảo tồn các loại lan một cách hợp lý.2 Ý nghĩa trong thực tiễn - Giúp tôi hiểu thêm các kỹ thuật gây trồng và chăm sóc lan: Sóc ta, Hài điểm ngọc, Hoàng thảo nghệ tâm. - Ứng dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn. - Hiểu được vai trò sinh thái của lan rừng trong tự nhiên. h 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 2.1 Về cơ sở sinh học Công việc nghiên cứu đối với bất kỳ loài cây rừng nào chúng ta cũng cần phải nắm rõ đặc điểm sinh học của từng loài.Việc hiểu rõ về đặc tính sinh học của loài giúp chúng ta có những biện pháp tác động phù hợp, sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý và bảo vệ hệ động vật quý hiếm, từ đó giúp chúng ta hiểu rõ hơn về thiên nhiên sinh vật.2 Cơ sở trồng, chăm sóc, bảo vệ lan rừng Một trong những đặc điểm sinh học đặc trưng của lan là có khả năng chịu cớm cao, ưa ẩm và bóng râm, nhưng nếu thiếu ánh sáng cũng giảm năng suất và phẩm chất.
Đối với phong lan: Không để cho nắng trời trực tiếp chiếu vào, đặc biệt “kỵ” với nắng quái chiều và gió tây (gió Lào). Chú ý phun tưới (tốt nhất là phun sương mù nhân tạo) cho toàn bộ cây và giá thể theo kinh nghiệm “2 ướt 1 khô” trong ngày, đó là vào các thời điểm trước bình minh và sau hoàng hôn. Lượng nước vừa đủ để làm mát cây, ướt rễ và dự trữ. Đối với địa lan: Chăm sóc như đối với phong lan, cần chú ý đảm bảo đất nền tơi xốp, nhiều màu ở thể hữu cơ đang hoại mục là tốt nhất.
Nên bổ sung từ 10-20% vụn gỗ mục (cả vỏ), 10-20% (theo khối lượng tổng thể) các mẫu than gỗ nhỏ, luôn ẩm (nhưng không ướt sũng) để nhử rễ ăn ra (gọi là hồ rễ). Tránh gió khô, nóng lùa qua phần nổi của cây. Làm mát đất bằng phun tưới nước loang theo bóng tán. Cần loại bỏ ngay những lá già để ngăn chặn sâu bệnh bội nhiễm, tỉa các cành khô, rễ đã hết chức năng hấp thụ hơi nước và cộng sinh với vi khuẩn cố định đạm nuôi cây.
h 5 Không nên dùng NPK – loại dùng cho cây hoa màu, cây lương thực để bón cho lan. Để cây tươi lâu, đẹp bền, hoa sai thắm màu, hương đậm có thể thúc cho lan (phun tưới toàn bộ giá thể) với nước gạo mới vo, nước ngâm tro và rắc xỉ than (nguồn phân vi lượng tổng hợp). Nếu có điều kiện lấy bông (hoặc vải cotton) nhúng vào dung dịch glycerin 10-15% cuốn vào cổ rễ để giữ ẩm cho cây. Kỹ thuật chăm sóc lan ra hoa: Cây sau khi ra hoa nếu không đáp ứng độ ẩm sẽ khiến rễ, lá teo nhăn lại rất khó hồi phục.
Nếu mới trồng, nên tưới phân số 1 (phân nhiều đạm) hay phân số 2 (phân trung hòa đạm và NPK) nồng độ 1- 2g/lít nước. Trung bình nên tưới nước cho cây hai lần/ngày, tưới vào buổi sáng sớm và buổi chiều mát. Làm đúng như vậy thì cây sẽ ra hoa.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc 2.1 Tình hình nghiên cứu thực vật trên thế giới Họ Lan (Orchidaceae) là một họ thực vật có hoa, thuộc bộ Lan Orchidales, lớp thực vật một lá mầm. Lan thuộc vào loài hoa đông đảo với khoảng 750 loài và hơn 25.000 giống nguyên thủy và khoảng một triệu giống đã được lai giống nhân tạo hay thiên tạo.
Người ta thường gọi lầm tất cả các loại hoa lan là phong lan. Hoa lan mọc ở các điều kiện, giá thể khác nhau và được chia làm 4 loại: 1. Epiphytes: Phong lan bám vào cành hay thân cây gỗ đang sống. Terestrials: Địa lan mọc dưới đất.
Lithophytes: Thạch lan mọc ở các kẽ đá. Saprophytes: Loại lan mọc trên lớp rêu hay gỗ mục. Đối với các loài lan (phong lan và địa lan), hầu như từ trước tới nay, người dân mới biết đến chúng là những loài được sử dụng làm cây cảnh trang h 6 trí ở các hộ gia đình mà chưa biết rằng trong số hàng ngàn loài lan đã phát hiện có một số loài còn có tác dụng cung cấp các hoạt chất sinh học làm nguyên liệu chế biến thuốc và thực phẩm chức năng. Trong số những loài đó người ta đã phát hiện trong lan Thạch hộc tía và lan Kim tuyến có chứa một loại hoạt chất để sản xuất thuốc chữa ung thư.
Chính vì vậy, giá thị trường hiện nay rất cao như lan Thạch hộc tía lên tới hàng triệu đồng/kg. [15] - Phân bố: Đây là một trong những họ lớn nhất của thực vật, và chúng phân bố nhiều nơi trên thế giới. Gần như có mặt trong mọi môi trường sống, ngoại trừ các xa mạc và sông băng. Phần lớn các loài được tìm thấy trong khu vực nhiệt đới, chủ yếu là châu Á, Nam Mỹ và Trung Mỹ.
Chúng cũng được tìm thấy tại các vĩ độ cao hơn vòng Bắc cực, ở miền nam Patagonia và thậm chí trên đảo Macquarie, gần với châu Nam Cực. Nó chiếm khoảng 6–11% số lượng loài thực vật có hoa. Theo Helmut Bechtel (1982) [9] hiện nay trên thế giới có hơn 750 loài lan rừng, gồm hơn 25.000 giống được xác định, chưa kể một số lượng khổng lồ Lan lai không thể thống kê chính xác số lượng. Lan rừng phân bố trên thế giới gồm 5 khu vực: + Vùng nhiệt đới châu Á gồm các giống: Bulbophyllum, Calanthe, Ceologyne, Cymbidium, Dendrobium, Paphiopedilum, Phaius, Phalaenopsis, Vanda, Anoectochillus… + Vùng nhiệt châu Mỹ gồm các giống: Brassavola, Catasetum, Cattleya, Cynoches, Pleurothaillis, Stanhopea, Zygopetalum, Spathoglottis.
+ Châu Phi gồm các giống: Lissochilus, Polystachiya, Ansellia, Disa… + Châu Úc gồm các giống: Bulbophyllum, Calanthe, Phaius, Cymbidium, Eria, Dendrobium, Pholidota, Sarchochilus… h 7 + Vùng ôn đới của châu Âu, Bắc Mỹ và Đông Bắc châu Á gồm các giống: Cypripedium, Orchis, Spiranthes… Danh sách dưới đây liệt kê gần đúng sự phân bố của họ Orchidaceae: Nhiệt đới châu Mỹ: 250 - 270 chi Nhiệt đới châu Á: 260 - 300 chi Nhiệt đới châu Phi: 230 - 270 chi Châu Đại Dương: 50 - 70 chi Châu Âu và ôn đới châu Á: 40 - 60 chi Bắc Mỹ: 20 - 25 chi -Những nghiên cứu về lan: Cây hoa lan được biết đến đầu tiên từ năm 2800 TCN, trải qua lịch sử phát triển lâu dài, đến nay ở nhiều quốc gia đã lai tạo, nhân nhanh được giống mới đem lại kinh tế cao. Chính vì vậy, việc nghiên cứu và sản xuất hoa lan trên thế giới ngày càng được quan tâm, chú ý nhiều hơn, đặc biệt nhất là Thái lan.