Chương 1 NHŨNG VẤN ĐỀ Cơ BẢN VỂ ĐẦU TƯ CHÚNG KHOÁN VÀ PHÂN TÍCH CHÚNG KHOÁN 1.1 ĐẦU TƯ CHÚNG KHOÁN 1.1 ĐTCK và các nhân tố ảnh hưởng đến ĐTCK 1.1 Khái niệm và mục đích ĐTCK Đầu tư theo nghĩa chung nhất là quá trình sử dụng các nguồn lực hiện tậi nhằm thu lại lợi ích nào đó trong tương lai. Các nguồn lực sử dụng vào quá trình đầu tư được gọi là vốn đầu tư và có thể được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: vốn bằng tiền (nội tệ, ngoại tệ), kim khí quý, đá quí, đất đai, bất động sản, tài nguyên, giá trị thương hiệu, phát minh sáng ch ế. Lợi ích của đầu tư cũng được xem xét ở nhiều góc độ khác nhau tuỳ theo mục đích của hoạt động đầu tư như: lợi ích kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh quốc phòng, bảo vệ môi trường. Trong hoạt động kinh tế mục đích chủ yếu và trước hết của hoạt động đầu tư là để thu lợi nhuận.
Hoạt động đầu tư có thể do một tổ chức hoặc một các nhân thực hiện dưới nhiều hình thức. Song nếu căn cứ vào mối liên hộ trực tiếp giữa chủ đầu tư và đối tượng đầu tư người ta thường chia thành đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp. Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư trong đó chủ đầu tư trực tiếp tham gia quản lý điều hành đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư, được thực hiện dựới các hình thức như góp vốn kinh doanh hoặc thực hiện các 15 hợp đồng hợp tác kinh doanh. Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư m à chủ đầu tư không trực tiếp tham gia điều hành hoạt động của đối tượng m à họ bỏ vốn đầu tư, được thực hiện dưới các hình thức như đầu tư chứng khoán hoặc cho vay đầu tư đối với các tổ chức kinh tế.
Như vậy đầu tư chứng khoán là m ột trong những hình thức đầu tư gián tiếp của nhà đầu tư vào các doanh nghiệp, ở đó chủ đầu tư bỏ vốn để m ua các chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu) của doanh nghiệp đang lưu hành trên thị trường chứng khoán nhằm đạt được những lợi ích nhất định. Đầu tư chứng khoán là m ột hình thức đầu tư khá phổ biến ở các nước có nền kinh tế thị trường và thị trường chứng khoán phát triển. M ục đích của đầu tư chứng khoán trước hết là nhằm thu được lợi nhuận từ số tiền đã bỏ ra đầu tư. Phần lợi nhuận này được hình thành từ lợi tức chứng khoán mà chủ doanh nghiệp trả cho người đầu tư theo qui định và phần chênh lệch giá chứng khoán khi họ chuyển nhượng quyền sở hữu chứng khoán trên thị trường.
Tiếp đến m ục đích của đầu tư chứng khoán là để phân tán rủi ro eó thể gặp trong tương lai nhờ đa dạng hoá các hình thức đầu tư; để thực hiện quyền kiểm soát hoặc tham gia quản trị doanh nghiệp với tư cách người nắm cổ phần, vốn góp chi phối. Các mục đích có thể khác nhau tuỳ theo ý định của từng nhà đầu tư, song cũng có thể là tổng hợp các mục tiêu trên trong những tình huống cụ thể.2 Mức sinh lời và các rủi ro trong ĐTCK Giống như các hình thức đầu tư khác đầu tư chứng khoán cũng luôn gắn liền với rủi ro. Lý luận và thực tiễn đầu tư chứng khoán cũng chỉ ra rằng: khả nâng sinh lời trong đầu tư chứng 16 khoán luôn gắn liền với những rủi ro mà nhà đầu tư chứng khoán có thể gặp phải, thông thường lợi nhuận càng cao thì khả năng gặp phải rủi ro càng lớn. Vì thế việc xem xét, đánh giá khả năng sinh lời cũng như mức độ rủi ro có thể gặp là một việc làm bắt buộc trong đầu tư chứng khoán.1 Mức sinh lời trong đầu tư chứng khoán Mức sinh lời trong đầu tư chứng khoán phản ánh khả năng đem lại lợi nhuận cho nhà đầu tư chứng khoán trong một khoảng thời gian nhất định từ số vốn gốc mà họ đã bỏ ra ban đầu.
Mức sinh lời trong đầu tư chứng khoán có thể đo bằng số tuyệt đối hoặc tương đối. Mức sinh lòi tuyệt đối là phần chênh lệch giữa tổng thu nhập từ đầu tư chứng khoán (bao gồm số lợi tức chứng khoán cộng mức lãi hoặc lỗ về vốn) với số tiền đầu tư ban đầu (vốn gốc). Nếu tính theo số tương đối, mức sinh lời chứng khoán là tỷ lệ phần trăm giữa tổng số lợi nhuận thu được từ đầu tư chứng khoán so với vốn gốc. Do đầu tư chứng khoán là hình thức đầu tư dài hạn, vì thế người ta thường đánh giá mức sinh lời chứng khoán trong một khoảng thòi gian dài (lớn hơn 1 năm).
Giả đinh toàn bộ số lợi tức thu được từ đầu tư chứng khoán được sử dụng để tái-đầu tư với mức lợi tức không đổi, khi đó mức sinh lời chứng khoán trong một khoảng thòi gian nhất định (ví dụ 2, 3 hoặc n năm) sẽ bằng tổng mức sinh lời chứng khoán trong khoảng thời gian tương ứng. Ví dụ: Một khoản đầu tư chứng khoán trong 3 năm đem lại mức sinh lời (ri) hàng năm theo thứ tự là 12%, 8% và 10%. Giả sử toàn bộ số lợi tức chứng khoán hàng năm được tái đầu tư 17 trong các năm tiếp theo thì mức sinh lời trong 3 năm của khoản tiền đầu tư chứng khoán sẽ là: M = [(1 + Tj) (l+ r2) ( l+ r 3)] - 1 = [(1+ 0,12) (1+ 0,08) (1+ 0,10)] - 1 = 1,33 - 1 = 0,33 Người ta cũng có thể tính mức sinh lời binh quân hàng năm để đánh giá khả năng sinh lời trung bình của đầu tư chứng khoán trong một khoảng thời gian nhất định. N ếu tính theo mức sinh lời binh quán số học thì đó là trung bình cộng của mức sinh lời hàng năm.
+ r t t Nếu tính mức sinh lời luỹ kế bình quân hàng năm với giả định toàn bộ số lợi tức chứng khoán hàng nãm được tái đầu tư trong các năm tiếp theo thì mức sinh lời luỹ kế bình quân hàng năm so với vốn gốc sẽ được tính cụ thể như sau: M hàng năm = 0 ^ (1 + r,)(l + r2).(l + rt) - 1 Đôi khi nhà đầu tư cũng m uốn đánh giá với mức sinh lời như thế nào sẽ đảm bảo cho giá trị hiện tại của sô' tiền lãi thu được từ đầu tư chứng khoán hàng năm ngang bằng với số tiền đầu tư chứng khoán m à họ đã bỏ ra ban đầu. Mức sinh lời đó được gọi là mức doanh lợi nội bộ từ đầu tư chứng khoán (IRR) Việc xác định mức doanh lợi nội bộ có thể xác định theo các phương pháp “nội suy” , phương pháp đồ thị hoặc phương pháp “thử và xử \ý các sai số” sẽ được trình bày ở các phần sau.2 Rủi ro trong đầu tư chứng khoán Rủi ro trong đầu tư chứng khoán được hiểu là khả năng xảy ra những kết quả không mong đợi trong tương lai. Điều đó có thể là sự sụt giảm, thua lỗ hoặc những biến động thất thường về mức sinh lợi trong hoạt động đầu tư chứng khoán. Rủi ro trong đầu tư chứng khoán cũng có nhiều loại, có thể phân thành các 2 loại chủ yếu là rủi ro hệ thống và rủi ro không hộ thống.
+ Rủi ro hệ thống: là những rủi ro có ảnh hường đồng thời đến hầu hết các loại chứng khoán đang được lưu hành trên thị trường. Nguyên nhân của rủi ro hệ thống thường là các tác nhân kinh tế nằm ngoài sự kiểm soát của các công ty phát hành như: tình trạng ĩạm phát hoặc thiểu phát của nền kinh tế, những biến động bất lợi của tỷ giá hối đoái hoặc lãi suất thị trường, sự suv thoái hay khủng hoảng của nền kinh tế. Các loại rủi ro hệ thống tiêu biểu bao gồm: rủi ro thị trường, rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá hối đoái, rủi ro sức mua. Rủi ro thi trường là rủi ro do sự biến động của giá cả chứng khoán trên thị trường.
Đó là kết quả của những hiệu ứng về tương quan giữa cung và cầu của các loại chứng khoán trên thị trường. Nguyên nhân của những biến động giá cả chứng khoán thường rất phức tạp, có thể cả những sự kiện hữu hình hoặc vô hình, cả những yếu tố bên trong hoặc ngoài doanh nghiệp. Sự đánh giá khác nhau của các nhà đầu tư về mức sinh lời của một loại chứng khoán nào đó được giao dịch trên thị trường cũng có thể gây nên hiệu ứng dây chuyền (hiệu ứng đôminô) đối VỚI 19 giá cả các loại chứng khoán khác, làm cho giá chứng khoán trên thị trường nói chung bị sụt giảm. Rủi ro lãi suất là loại rủi ro do sự biến động lãi suất trên thị trường.
Giá cả chứng khoán luôn biến động tỷ lệ nghịch với lãi suất thị trường, lãi suất thị trường tăng sẽ làm cho giá thị trường của chứng khoán bị sụt giảm và ngược lại. V ì th ế sự biến động lãi suất sẽ làm cho giá trị hiện tại của các khoản thu nhập nhận được từ đầu tư chứng khoán ở các thòi điểm khác nhau có giá trị khác nhau, do đó ảnh hưởng đến m ức doanh lợi thu được của đầu tư chứng khoán. Rủi ro sức mua (còn gọi là rủi vo lạm phát) là loại rủi ro do sự giảm sút về sức mua đồng tiền. N hà đầu tư nắm giữ chứng khoán mặc dù có khả năng thu được lợi nhuận trong tương lai nhưng họ lại m ất đi cơ hội m ua sắm các loại hàng hoá, dịch vụ trong thời hạn nắm giữ chứng khoán.
N ếu trong khoảng thời gian đó giá cả hàng hoá, dịch vụ tăng lên do yếu tố lạm phát, họ sẽ m ất đi m ột phần sức m ua từ số thu nhập sẽ có được trong tương lai. Giá trị phần sức m ua bị giảm sút do lạm phát phản ánh mức rủi ro sức m ua của nhà đầu tư chứng khoán. + Rủi ro không hệ thống: là những rủi ro có nguyên nhân từ nội tại của m ột công ty hoặc một ngành kinh doanh cụ thể mà không gắn liền với toàn bộ thị trường. Ảnh hưởng của các rủi ro không hệ thống vì thế chỉ tác động trong phạm vi m ột công ty, một ngành hay m ột số loại chứng khoán nhất định.
Rủi ro không hộ thống thường bao gồm các loại như: rủi ro kinh doanh, rủi ro tài chính, rủi ro quản lý. trong hoạt động 20 của một cống ty hoặc một ngành kinh doanh nhất định.