ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP TRƢỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ ĐỒNG THÁP GIÁO TRÌNH MÔ ĐUN: KTN – PTB VẬT NUÔI KHÁC NGÀNH, NGHỀ: THÚ Y TRÌNH ĐỘ: TRUNG CẤP/CAO ĐẲNG (Ban hành kèm theo Quyết định số 257/QĐ-TCĐNĐT-ĐT ngày 13 tháng 07 năm 2017 của Hiệu trưởng trường Cao đẳng Nghề Đồng Tháp) Đồng Tháp, năm 2017 LỜI GIỚI THIỆU Ở nước ta đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa, nhằm đưa Việt Nam trở thành nước văn minh hiện đại. Trong sự nghiệp phát triển to lớn đó, công tác đào tạo nhân lực luôn giữ vai trò quan trọng. Theo báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam tại Đại Hội Đảng lần thứ IX đã chỉ rõ: ”Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp hóa, công nghiêp hóa, là điều kiện để phát triển nhân lực con người – yếu tố cơ bản để phát triển xã hội tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”. Trên cơ sở chương trình khung của Bộ Lao Động Thương Binh và Xã Hội đã ban hành và những kinh nghiệm đã rút ra từ thực tế đào tạo, Trường Cao Đẳng Nghề Đồng Tháp tổ chức biên soạn chương trình, giáo trình một cách khoa học, hệ thống và cập nhật những kiến thức thực tiễn phù hợp với đối tượng học sinh trung cấp nghề.
Bộ giáo trình này là tài liệu giảng dạy và học tập các trung cấp nghề, đồng thời là tài liệu tham khảo hữu ích cho các bạn đọc quan tâm đến nghề chăn nuôi. Việc tổ chức biên soạn chương trình, giáo trình là một trong những hoạt động thiết thực. Đây là lần đầu tiên biên soạn chương trình, giáo trình. Dù đã hết sức cố gắng nhưng không tránh khỏi những thiếu sót, bất cập.
Chúng tôi mong những ý kiến đóng góp của các bạn đọc để từng bước hoàn thiện những giáo trình. Biên soạn 1 CHƢƠNG TRÌNH MÔ ĐUN KỸ THUẬT NUÔI VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO CÚT Mã số của mô-đun: MĐ - 35 Thời gian của mô-đun: 40 giờ (Lý thuyết:18 giờ; Thực hành: 22 giờ) MỤC TIÊU MÔ ĐUN: Sau khi học xong mô đun này, người học có khả năng - Trình bày được các kiến thức về đặc điểm sinh học giống; chuồng trại; dinh dưỡng và thức ăn; chăm sóc nuôi dưỡng; phòng và trị bệnh cho cút - Thực hiện được các công việc xây dựng chuồng trại; chăm sóc nuôi dưỡng; phòng và trị bệnh cho cút - Tuân thủ quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng hình thành đạo đức, tác phong công nghiệp. NỘI DUNG MÔ-ĐUN:. Nội dung tổng quát và phân phối thời gian : Thời gian Kiểm Thực STT Tên các bài trong mô đun Tổng Lý tra* hành, số thuyết (LT hoặc bài tập TH) 1 Bài 1: Kỹ thuật nuôi chim cút 28 13 14 1 Bài 2: Phòng và trị một số bệnh 2 12 5 6 1 thƣờng gặp ở chim cút Cộng 40 18 20 2 2 Bài 1: Kỹ thuật nuôi chim cút Mục tiêu của bài Học xong bài này người học có khả năng: - Trình bày được đặc điểm sinh học cơ bản ở cút nuôi - Trình bày được yêu cầu chuồng trại, dụng cụ trong chăn nuôi cút - Trình bày được nhu cầu dinh dưỡng trong chăn nuôi cút - Xây dựng chuồng trại, phối trộn khẩu phần ăn, chăm sóc nuôi dưỡng.1 Đặc điểm sinh học cơ bản 2.1 Giống, nguồn gốc Chim cút hay chim cun cút là tên chỉ một loài vật nuôi đã được con người thuần hóa từ tự nhiên có nguồn gốc Châu Á.
Chúng sống thích hợp ở những vùng khí hậu ấm áp và hơi nóng. Chim cút có nhiều giống khác nhau: chuyên trứng, chuyên thịt, để săn bắn, để làm cảnh; v.v… Sự thuần hóa chim cút của con người là một điều kỳ diệu, từ một loài chim nhút nhát, sống chui lủi, cực kỳ hoang dã, phải trên 6 tháng tuổi mới thành thục sinh dục và chỉ đẻ vài chục trứng mỗi năm ; sau khi được thuần hóa và chọn lọc đã trở thành một loài chim chỉ 5-6 tuần tuổi đã đẻ và đẻ được đến 400 trứng/năm. Với những ưu điểm như vậy, chim cút được nuôi ở nhiều vùng miền trên thế giới. Trong quá trình tiến hóa, 2 chi trước đã biến thành 2 cánh; thân có lông vũ che phủ; phổi có mang ống khí và túi khí, hô hấp kép; tim 4 ngăn; hàm có vỏ bọc sừng; thân nhiệt cao và ổn định; đẻ trứng to có vỏ đá vôi; trứng được nở nhờ quá trình ấp của bố mẹ.
Da của chim bao phủ toàn thân và có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc trao đổi nhiệt giữa cơ thể với môi trường, nhất là ở chim non. Da gồm 2 phần chính, lớp biểu bì với lớp tế bào hình trụ cùng với lớp mô liên kết mỏng và sợi collagen tạo thành lớp da ngoài bền chắc, nghèo mạch máu và hầu như không có tuyến ngoại tiết. Dưới lớp biểu bì là lớp mô liên kết mỏng gần giống như mô mỡ, có chứa nhiều mạch máu và dây thần kinh. 3 Đặc điểm lớn nhất của da chim là mỏng, nghèo các tuyến dưới da, không có tuyến mồ hôi.
Người ta cho rằng, cùng với việc phát triển của lớp da, khả năng điều chỉnh nhiệt của nó dần dần thay đổi, cho phép cơ thể chim thích nghi với sự thay đổi nhiệt độ của môi trường xung quanh. Lông phân bố không đều trên bề mặt cơ thể chim non cũng như trưởng thành, chiếm tỷ lệ 4-9 % khối lượng cơ thể và chứa 82% protein. Thay lông là sự rụng lông cũ và mọc lại lông mới, là thay đổi thường kỳ của lông và thành phần cấu trúc biểu bì của da. Đối với chim hoang dã, sự thay lông có tính mùa vụ, thường là bắt đầu vào mùa thu, khi di chuyển chỗ ở hoặc lúc bắt đầu mùa đông giá lạnh.
Vì vậy thay lông là sự thích nghi sinh học của chim với việc thay đổi điều kiện sống. Chim đã được thuần hoá đã nhận được tính di truyền này từ tổ tiên của chúng. Người ta phân biệt thay lông của chim non (thay lông non) và thay lông thường kỳ (hàng năm) của chim trưởng thành, trùng với mùa nhất định. Chim có thể thay toàn bộ hay một phần của bộ lông.
Khi thay lông, trong cơ thể chim xảy ra những thay đổi về hoạt động của hệ thần kinh về cơ quan nội tiết, đồng thời diễn ra quá trình tăng cường trao đổi chất, chủ yếu là trao đổi protein và muối khoáng, cơ thể rất mất cân bằng, giảm sức đề kháng với bệnh tật, dễ ốm, chim trưởng thành giảm nhanh hoặc ngừng đẻ trứng. Quá trình thay lông liên quan chặt chẽ với sức đẻ trứng của chim, ở những chim mái thay lông sớm, sức đẻ trứng trong năm sẽ thấp, còn ở những con thay lông muộn sẽ có sức đẻ trứng cao hơn. Rút ngắn chu kỳ thay lông của chim sinh sản sẽ làm tăng sức đẻ của chúng, ở những chim mái thay lông nhanh, sản lượng trứng được hồi phục trong thời gian ngắn, đây là một trong những tính trạng để chọn giống. Những thay đổi mạnh của thức ăn và điều kiện nuôi dưỡng, các tác nhân strees (nhiệt độ, độ ẩm cao, thấp; bệnh tật.) đều có thể gây nên hiện tượng thay lông trước thời hạn.
Thay lông của chim trưởng thành được nhắc lại mỗi năm một lần trong đời và thường diễn ra vào một mùa cố định trong năm, khi thời gian chiếu sáng thay đổi: từ ngày 4 dài chuyển sang ngày ngắn, thường gặp vào cuối mùa hè và mùa thu, thỉnh thoảng vào mùa đông. Quá trình thay lông có thể khác nhau. Việc thay lông chậm thường gặp ở chim đẻ nuôi lồng trong điều kiện tiểu khí hậu được điều chỉnh ổn định. Lông của chúng rụng dần dần, việc đẻ trứng không bị gián đoạn.
Khi thay lông nhanh, chim có thể thay một lúc vài chiếc lông cánh và xuất hiện những khoảng da trần trên cơ thể. Cơ chế thay lông của chim chưa được nghiên cứu đầy đủ. Sự xuất hiện của mùa thay lông liên quan chủ yếu tới độ dài ngày chiếu sáng. Ánh sáng là tác nhân mạnh kích thích cơ quan thụ cảm thị giác và tác dụng qua vùng dưới đồi thị lên tuyến yên.
Tuyến yên tăng cường hoặc giảm bớt sự hình thành các hocmon hướng sinh dục qua máu, tác động lên hoạt động của các tuyến sinh dục, từ đó tác động lên sự thay lông. Việc tăng cường chức năng của tuyến giáp trạng hoặc tiêm hocmon của nó vào cơ thể chim sẽ làm cho cơ thể bắt đầu thay lông. Nếu cấy tuyến giáp trạng vào cơ thể, sau một thời gian ngắn, bắt đầu thay lông mạnh và nhanh, chim rụng hết lông chỉ trong vài ngày. Vào giai đoạn thay lông của chim, khi mà việc thay lông diễn ra mạnh nhất, hoạt tính chức năng của tuyến giáp trạng và tuyến cận giáp tăng lên thì khối lượng của chim cũng tăng lên một ít.
Quá trình mọc và hình thành lông ở chim liên quan chặt chẽ với việc tăng cường độ trao đổi chất và năng lượng trong cơ thể, tăng tính hấp thu và tiêu hoá thức ăn. Chim cút có thị giác rất phát triển nên có khả năng nhận biết và chọn lọc thức ăn cao, nhưng vị giác và khứu giác lại kém phát triển nên khó nhận biết mùi vị thức ăn. Vì vậy, cút rất dễ bị ngộ độc thức ăn do ăn phải thức ăn ôi, mốc. Từ tập tính này chúng ta cần chú ý khi chọn lựa nguyên liệu thức ăn, bảo quản thức ăn làm sao bảo đảm các yêu cầu kỹ thuật, bảo đảm chất lượng, không bị ẩm mốc, ôi thiu.
Chim cút mặc dầu đã được thuần hóa nuôi dưỡng từ lâu nhưng còn mang nhiều đặc tính hoang dã. Đáng chú ý là vẫn sợ tiếng động, tiếng ồn, thường bay lên va vào thành lồng, chết. Từ đặc điểm này cần chú ý ngay từ khâu làm chuồng trại: chọn những vật liệu 5 làm nóc chuồng mềm, co dãn để nếu chim bay nhảy lên va đầu vào thì cũng không bị chấn thương, ít nguy hiểm đến tính mạng. Mặt khác trong quá trình chăm sóc cũng cần chú ý thao tác nhẹ nhàng, chậm rãi, theo thói quen, tránh thay đổi đột ngột, động tác bất thình lình để chim cút quen với những động tác, màu sắc, âm thanh, hình dạng… mà không bị hoảng sợ.
Giống chim cút: Cút Anh: Nhập vào nước ta từ lâu, thân to trung bình(khoảng 220 – 240g), lông màu nâu, trứng nâu nhạt với những đốm to, đen sậm. Cút Pharaoh: Nhỏ con (trọng lượng trung bình 180 – 200 g), trứng có vỏ trắng với những đốm to, đen nhạt. Cút Pharaoh còn mang nặng tính hoang dã nên ít thích hợp việc nuôi trong chuồng. Do đó người ta chỉ thường nuôi các con lai của giống này.