CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÂY LAN HUỆ Cây Lan huệ bao gồm khoảng 90 loài và 600 dạng lai thuộc chi Lan huệ (Hippeastrum), họ Náng (Amaryllidaceae). Lan huệ có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới của châu Mỹ. Trên thế giới, cây Lan huệ được thương mại hóa từ rất sớm.
Chúng là loại hoa được sử dụng phổ biến trong trang trí cảnh quan và sản xuất hoa cắt cành. Ngoài ra, cây Lan huệ còn có giá trị dược liệu với 64 loại alkaloid đã được xác định. Cây Lan huệ mang đặc điểm chung của cây một lá mầm nhưng cũng mang những đặc điểm riêng của họ Náng và chi Lan huệ. Cây Lan huệ là cây thảo lâu năm, có thể sinh trưởng quanh năm hoặc có giai đoạn ngủ nghỉ trước khi ra hoa.
VỊ TRÍ PHÂN LOẠI, NGUỒN GỐC, PHÂN BỐ CỦA CHI LAN HUỆ 1. Vị trí phân loại Lan huệ gồm các loài thuộc chi Lan huệ (Hippeastrum), họ Náng (Amaryllidaceae), bộ Măng tây (Aparagales), phân lớp Hành (Liliidae), lớp thực vật một lá mầm (Liliopsida). Chi Lan huệ là một chi quan trọng trong họ Náng (Amaryllidaceae) với khoảng 90 loài, trong đó có một số loài điển hình như: H. vittatum,… và hơn 600 dạng lai đang được trồng phổ biến để sản xuất các sản phẩm hoa thương mại và sử dụng trong trang trí cảnh quan.
Hầu hết, các giống Lan huệ lai quan trọng được tạo ra và phát triển bởi Ludwig, Warmenhove và Van Meeuven ở Hà Lan và HADECO (Barnhoorn) ở Nam Phi (Read, 2004). Trong tiếng Hy Lạp, “Hippeastrum” có nghĩa là “Ngôi sao kỵ sĩ”, ngày nay được biết đến với cái tên “Ngôi sao của chàng kỵ sĩ” và cái tên Hippeastrum được đặt từ năm 1837 bởi mục sư William Herbert. Không ai biết lý do vị sư mục lại lựa chọn tên này, mặc dù người ta cho rằng cụm hoa khi chưa nở được bao bọc bởi 2 lá mo trông rất giống mắt ngựa và khi hoa nở trông rất giống ngôi sao. Trong nhiều năm, các nhà thực vật học đã có sự nhầm lẫn giữa tên chung Amaryllis và Hippeastrum; do vậy cho tới ngày nay, các loài trong 2 chi này vẫn được thương mại hóa với cùng 1 cái tên Amaryllis mặc dù tại Đại hội Thực vật Quốc tế lần thứ 14 năm 1987 đã tách 2 chi riêng biệt.
Thực ra, tên Amaryllis áp dụng cho củ có nguồn gốc từ Nam Phi, còn Hippeastrum là củ có nguồn gốc từ các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới của Nam Mỹ (từ phía bắc Argentina đến Mexico và Caribbean). Các củ Lan huệ được bán trên thị trường để chơi hoa vào dịp lễ giáng sinh thuộc chi Hippeastrum. Ngoài đặc điểm thực vật học, các 2 nghiên cứu về nhiễm sắc thể cũng chỉ ra sự khác biệt của 2 chi này (Poggio & cs. Nguồn gốc Hippeastrum được coi là các cây có nguồn gốc nhiệt đới vì chúng là cây bản địa của Trung và Nam Mỹ, tập trung chủ yếu ở Brazil và Peru, được phân bố từ Mexico đến Argentina.
Các loài Hippeastrum tập trung nhiều nhất ở hai trung tâm đa dạng sinh học của thế giới bao gồm miền đông Brazil và miền nam Andes thuộc Peru, Bolivia và Argentina. Ngoài ra, còn có vài loài sống xa lên phía bắc tại Mexico và miền tây Đông Ấn (Meerow, 2004). Lý do chi này được cho là có xuất xứ ở Brazil bởi vì tại đây có ít nhất 34 loài đã được được phát hiện (De Andrade & cs. Môi trường sống của Hippeastrum chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, mặc dù cũng có nhiều loài được tìm thấy ở phía nam xích đạo, hoặc ở độ cao đủ được coi là ôn đới.
Trên thế giới, Hippeastrum được tìm thấy trong một loạt các điều kiện sinh thái khác nhau. Nhiều loài ưa bóng được tìm thấy ở các tầng cây thấp, trong khi một số loài khác lại ưa sáng hoàn toàn. Một số loài phát triển mạnh ở những khu vực ngập nước như H. angustifolium, nhưng một số loài lại phát triển tốt trong điều kiện sống khô hạn.
Ngoài ra, một số loài bì sinh thuộc chi này như: H. arboricola lại yêu cầu môi trường xung quanh rễ phải thông thoáng để thuận lợi cho sự phát triển của bộ rễ, tương tự như ở loài Phong lan. 3 Hiện nay, sự đa dạng của chi Lan huệ là kết quả của lai hữu tính giữa các loài có họ hàng cùng chi, gần đây còn có thêm một số công bố về con lai khác chi của Lan huệ. Dạng lai hữu tính đầu tiên thực hiện vào năm 1799 do Athur Johnson tiến hành lai tạo giữa 2 loài H.
vittatum được đặt tên là Hippeastrum× johnsonii (Huxley & cs. Những giống Lan huệ đang được thương mại chủ yếu trên thị trường là các dạng lai của chi Hippeastrum với bộ gen phức tạp do kết quả của quá trình lai tạo giữa nhiều loài hoang dại và các dạng trồng trọt với nhau trong một thời gian dài. Các dạng lai này có khả năng thích nghi cao hơn so với dạng hoang dại, đa dạng hơn về màu sắc và cấu trúc cánh hoa. Hầu hết, các dạng lai được thương mại hóa hiện nay có tổ tiên từ các loài H.
Phân bố Lan huệ là loại cây trồng chịu nhiệt nên được trồng phổ biến ở khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới. Từ khu vực Nam Mỹ, cây Lan huệ được du nhập và trồng ở Bắc Âu (chủ yếu ở Hà Lan), Florida, nam California và Nam Phi (Rees, 1972). Sự thương mại hóa cây Lan huệ diễn ra từ rất sớm bắt đầu từ khi người Hà Lan nhập khẩu một vài loài từ Mexico và Nam Mỹ vào châu Âu từ thế kỷ XVIII. Cũng từ đó mà quá trình nhân giống và lai tạo diễn ra trong suốt thế kỷ XVIII.
Sau đó, loài hoa này bắt đầu phát triển ở khu vực Bắc Mỹ vào đầu thế kỷ XIX. 4 Đến năm 1946, người Hà Lan du nhập cây Lan huệ vào Nam Phi và bắt đầu trồng trọt tại đây. Và cho đến hiện nay, sự thương mại hóa các giống Lan huệ đang diễn ra mạnh mẽ, cây Lan huệ được trồng rộng rãi trên khắp thế giới. Mặc dù, các sản phẩm lai tạo của chi Lan huệ xuất phát từ Hà Lan và Nam Phi nhưng chúng lại được trồng rất phổ biến tại Anh, Isarel, Nhật Bản, Ấn Độ, Brazil, Australia.
Từ thế kỷ XX, Lan huệ ngoại bắt đầu được du nhập vào Việt Nam từ các nước Nhật Bản, Trung Quốc, Úc và một số quốc gia châu Âu với các giống có màu sắc hoa đa dạng. Chúng phân bố khắp cả nước, từ Bắc vào Nam, từ miền núi đến đồng bằng. Hoạt động trao đổi, mua bán cây Lan huệ hiện nay diễn ra khá phổ biến, nhiều loài mới thuộc chi Lan huệ du nhập vào Việt Nam theo con đường này, góp phần làm đa dạng nguồn gen Lan huệ bản địa Việt Nam. GIÁ TRỊ CỦA CÂY LAN HUỆ 1.
Giá trị thẩm mỹ Trên thế giới, hoa Lan huệ được trồng phổ biến tại nhiều khu vực bởi chúng có ưu điểm là hoa to, đẹp, đa dạng về màu sắc. Hơn thế, nhiều giống hoa Lan huệ có hương thơm dịu nhẹ, màu sắc thanh nhã, làm tăng vẻ đẹp cho căn nhà, làm thư thái tâm hồn người chơi hoa. Chính vì vậy, cây Lan huệ đã được sử dụng để trang trí sự kiện, trang trí cảnh quan và bày trí trong nhà từ rất lâu. 5 Tại Việt Nam, vẻ đẹp cùng ý nghĩa may mắn của cây Lan huệ đã khiến cho nhiều người chơi hoa đón nhận nồng nhiệt từ các giống bản địa, các giống mới được lai tạo, cả giống nhập nội và sử dụng với nhiều mục đích khác nhau như làm hoa chậu trang trí nhà cửa, hoa thảm trang trí khuôn viên, làm hoa cắt cành để cắm lọ, làm hoa bó, ghép giỏ hoa, trang trí tiệc… thậm chí củ và lá Lan huệ cũng được trang trí và đưa vào sử dụng.
Nhiều người chơi hoa đã xem Lan huệ như người bạn tri kỉ của mình và hết lòng chăm sóc, giữ gìn. Ngoài ra, cây Lan huệ cũng được xem là cầu nối gắn kết nhiều người yêu hoa từ nhiều vùng miền khác nhau để cùng nhau trao đổi, mua bán, quảng bá vẻ đẹp của loài hoa này. Giá trị y dược Nghiên cứu về các hợp chất có hoạt tính sinh học trên chi Lan huệ và các chi khác của họ Náng diễn ra từ những năm 1950. Các nhà khoa học đã tìm ra 64 loại alkaloid khác nhau trong các loài Lan huệ, các alkaloid này được xếp vào 9 nhóm cấu trúc (lycorine, tazettine, montanine, homolycorine, crinine, haemanthamine, glanthamine, narciclasine, miscellaneous).
Ngoài ra, còn có loại có cấu trúc khác vẫn chưa được xác định (De Andrade & cs. Nhóm lycorine: Là chất có hoạt tính sinh học với nhiều tác dụng đã được công bố như ức chế sự tổng hợp ascobic acid, sự phân chia tế bào, biệt hóa cơ quan ở thực vật bậc cao, tảo, nấm, ức chế chu trình tế bào ở kỳ trung gian. Thêm vào đó, 6 lycorine còn có tác dụng kháng virus, chống viêm, kháng nấm và động vật nguyên sinh; có tác dụng như thuốc diệt côn trùng sinh học tương tự như 3-O-acetylnarcissidine được tách chiết từ H. puniceum, có hoạt tính kháng côn trùng như Spodora littoralis nhưng không hiệu quả với Leptinotarsa decemlineata.
Ngoài ra, lycorine còn có tác dụng ức chế sự tăng sinh của các tế bào ung thư. Nghiên cứu trong ống nghiệm trên mô hình dòng tế bào bạch cầu HL-60 cho thấy, lycorine có khả năng ức chế sự sinh trưởng của các tế bào trong khối u, làm giảm khả năng sống sót của các tế bào thông qua sự bắt giữ chu kỳ tế bào, kích hoạt cơ chế chết theo chương trình. Như vậy, lycorine là hoạt chất triển vọng để sản xuất thuốc trong trị liệu ung thư bạch cầu. Lycorine cũng cho thấy hoạt tính ức chế sự nhân bản của virus HIV-1, tác nhân gây suy giảm hệ miễn dịch ở người trong thử nghiệm in vitro (Reyes-Chilpa & cs.
Nhóm homolycorine: Bao gồm Homolycorine, 8-O demethylhomolycorine và hippeastrine là các alkaloid gây độc tế bào. Homolycorine có tác dụng chống virus phiên mã ngược (retrovirus), hippeastrine có hoạt tính chống Herpes simplex typ 1, kháng nấm Candida albicans và có hoạt tính diệt côn trùng yếu. Candimine được tìm thấy đầu tiên ở H. candidum (Döpke, 1962), đã được chứng minh có tính kháng với Trichomonas vaginalis.
Alkaloid này ức chế enzyme NTPDase và ecto-5’-nucleotidase của T. vaginalis mạnh hơn cả lycorine (Giordani & cs. Tuy nhiên, hoạt tính sinh học của hầu hết các dạng homolycorine chưa được biết đến. 7 Nhóm haemanthamine: Haemanthamine cũng như crinamine, đã được chứng minh là chất gây cảm ứng chết theo chương trình mạnh trong các tế bào khối u ở nồng độ micromol (McNulty & cs.