ĐẶT VẤN ĐỀ Keo lai (Acacia mangium và Acacia auriculiformis) có đặc tính sinh trưởng nhanh về đường kính, chiều cao và hình khối (thân cây thẳng, cành nhánh nhỏ, sinh trưởng và phát triển tốt), khả năng chống chịu sâu bệnh hại tốt, có khả năng thích ứng với nhiều điều kiện địa chất và các loại đất khác nhau. Ngoài giá trị về mặt kinh tế, cây keo lai còn có giá trị về mặt môi trường như có khả năng cải tạo đất, chống xói mòn nếu canh tác đúng kỹ thuật.Keo lai mọc nhanh, cành lá phát triển mạnh, sau khi trồng từ một đến hai năm rừng đã khép tán, cải thiện được tiểu khí hậu, đất đai nơi trồng, che chắn hạn chế dòng chảy, trả lại một lượng cành khô lá rụng cho đất. Keo lai hom năng suất đạt từ rừng trồng khoảng 18 đến 20 m3/ha/năm; năng suất rừng trồng mô từ 20 đến 25 m3/ha/năm; nơi đầu tư thâm canh cao và lập địa tốt có thể đạt hơn 30 m3/ha/năm. Chính vì những đặc điểm trên Keo lai đã và đang là loài cây trồng chính của hầu hết các Công ty lâm nghiệp, hợp tác xã, cá nhân và hộ gia đình trồng rừng trên cả nước.
Keo lai được trồng với mục đích sản xuất, phòng hộ, phủ xanh đất trống đồi núi trọc. Xét về mặt sinh thái nếu trồng độc nhất một loài cây trên một diện tích lớn sẽ làm mất cân bằng tính đa dạng, dễ phát sinh sâu bệnh hại và khó có thể kiểm soát. Tuy nhiên trong khi các nhà khoa học lâm nghiệp, các cơ sở ban ngành chưa tìm ra được loài cây rừng sinh trưởng phát triển tốt và đem lại hiệu quả kinh tế tức thời và dài hạn, đa dạng sản phẩm thì keo lai vẫn là ưu tiên hàng đầu và là nhân tố kinh tế mũi nhọn cho ngành Lâm nghiệp. Mặc dù vậy, cho đến thời điểm hiện tại, thực tế sinh trưởng của rừng trồng keo lai chưa đạt yêu cầu, chưa đạt hiệu quả sản xuất và phòng hộ cao nhất.
Có nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến sinh trưởng và năng suất cây trồng. Chính vì vậy đề tài “ Đánh giá sinh trưởng của loài Keo lai (Acacia mangium vàAcacia auriculiformis) trên địa bàn tỉnh Gia Lai” được đề xuất thực hiện với hy vọng đánh giá được thực tế sinh trưởng của loài ở một số tuổi, trên một số c điều kiện lập địa khác nhau. để tìm ra được những yếu tố ảnh hưởng chính để làm cơ sở đề xuất những giải pháp gây trồng, phát triển loài cây rừng trồng rừng có hiệu quả cao, nâng cao thu nhập cho người trồng rừng. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Trên thế giới Những nghiên cứu trên thế giới đặc biệt ở Malaysia, Australia hay Indonesia, Thái Lan, Trung Quốc về loài Keo nói chung và Keo lai nói riêng được thực hiện rất sớm từ những năm đầu thập niên 90. Đa số những nghiên cứu đều đánh giá sinh trưởng của loài Keo dựa trên xuất xứ, nguồn giống, mật độ, phân bón và kỹ thuật nhân giống. Năm 1980, một loạt các khảo nghiệm xuất xứ về Keo lá tràm bắt đầu được xây dựng. Kết quả cho thấy giữa các xuất xứ có sự sai khác rất rõ rệt về sinh trưởng và chất lượng thân cây (Yang and Zeng, 1993; Awang và cộng sự, 1994; Venkateswarlu và cộng sự, 1994…).Qua đó cho thấy rằng có thể tăng năng suất rừng trồng Keo lá tràm thông qua việc sử dụng các xuất xứ tốt.
Nghiên cứu của Nor Aini và cộng sự (1997) tại Malaysia trên khảo nghiệm xuất xứ 4 năm tuổi cho thấy không những các xuất xứ khác nhau thì sinh trưởng khác nhau mà tỷ trọng của gỗ cũng sai khác rất lớn. Các xuất xứ có sinh trưởng tốt nhất đồng thời cũng là những xuất xứ cho tỷ trọng gỗ cao nhất, trong khi các xuất xứ sinh trưởng kém có tỷ trọng gỗ thấp nhất. Tính chất chống chịu của Keo lá tràm cũng đã được các nhà khoa học quan tâm trong quá trình chọn giống. Nghiên cứu của Marcar và cộng sự (1991) cho thấy các xuất xứ Keo lá tràm có sự khác biệt rất lớn về khả năng chịu mặn và chịu úng ngập, điều đáng chú ý là sinh trưởng của các xuất xứ không có sự tương quan với các chỉ tiêu này.
Các nghiên cứu di truyền phân tử được dùng trong đánh giá mức độ đa dạng di truyền trong quần thể và giữa các quần thể, tỷ lệ giao phấn chéo trong quần thể. Các nghiên cứu của Wickne swari. M (1993) sử dụng chất isozyme trong đánh giá đa dạng di truyền của quần thể Keo lá tràm tự nhiên c tại Australia cho thấy sự sai khác khá cao giữa các quần thểvà sự sai khác di truyền là do sự sai khác giữa các cá thể trong quần thể. Điều này có thể lý giải sự sai khác về sinh trưởng cũng như khả năng thích nghi của các xuất xứ trong các khảo nghiệm và là cơ sở quan trọng trong chọn lọc cá thể.
Trong công trình “Nghiên cứu sử dụng giống keo lai tự nhiên giữa keo tai tượng và keo lá tràm ở Việt Nam” Lê Đình Khả đã đề cập đến những nghiên cứu đánh giá sinh trưởng của loài keo trên thế giới như: Tại Philipines, những năm 1980 đã tiến hành trồng khảo nghiệm và nghiên cứu về khả năng sinh trưởng của một số loài keo như keo tai tượng, keo đa thân. Năm 1993 tiếp tục nghiên cứu đánh giá sinh trưởng các loài Keo tai tượng, Keo lá tràm. Tại Malaysia, những năm 1990 cũng có những nghiên cứu đánh giá sinh trưởng của keo tai tượng và Keo lá tràm phục vụ cho việc lựa chọn loài cây trồng rừng. Đến năm 1997 tiếp tục khảo nghiệm với một số loài keo khác trong đó có loài Keo lá liềm.
Tại Trung Quốc Keo đen (A. mearnsil) được gây trồng rộng rãi để sản xuất tannin từ vỏ và mục tiêu của chương trình chọn giống là làm tăng năng xuất từ vỏ. Chương nghiên cứu trồng khảo nghiệm giống keo đen được chú trọng và thực hiện trong những năm 1980. Tại Indonesia những năm 1990 tiến hành khảo nghiệm keo tai tượng để lựa chọn giống tốt xây dựng vườn ươm giống.
Đây là một hướng đi đơn giản, ít tốn kém và có hiệu quả tốt. Năm 1991 Cyrin Pinso và Robert NaSi đã thấy tại khu Ulukukut cây lai tựnhiên đời F1 sinh trưởng khá hơn các xuất xứ của keo tai tượng ở Sabah. Các tácgiả này cũng thấy rằng gỗ của keo lai là trung gian giữa keo tai tượng và keo látràm, có phẩm chất tốt hơn keo tai tượng. Tại Thái Lan (Kij Kar,1992), keo lai được tìm thấy ở vườn ươm Keo tai tượng (lấy giống từ Malaisia) tại trạm nghiên cứu Jon – Pu của Viện nghiên cứu c Lâm nghiệp Đài Loan (Kiang Tao et al,1989).
Trong giai đoạn vườn ươm keo lai hình thành lá giả (Phylod) sớm hơn Keo tai tượng và muộn hơn Keo lá tràm, dẫn theo Lê Đình Khả (1997). Tại Việt Nam Keo lai được phát hiện và khảo nghiệm đợt 1 từ năm 1993 - 1995, đến năm 1996 Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng đã phối hợp với các đơn vị khác tiếp tục nghiên cứu về keo lai. Các nghiên cứu này là chọn lọc thêm các cây trội keo lai tự nhiên, xây dựng khảo nghiệm các dòng vô tính, tiến hành đánh giá tiềm năng bộtgiấy của keo lai cũng như tiến hành khảo nghiệm các dòng keo lai được lựa chọn ở các vùng sinh thái khác nhau (Lê Đình Khả, Phạm Văn Tuấn, Nguyễn Văn Thảo vàcác cộng sự, 1999; Lê Đình Khả, 1999). Kết quả cho thấy keo lai có ưu thế lairõ rệt về sinh trưởng so với keo tai tượng và keo lá tràm, có nhiều đặc điểm hình thái trung gian giữa keo tai tượng và keo lá tràm.
Khi cắt cây để tạo chồi thì keo lai cho rất nhiều chồi (trung bình 289 hom/1gốc). Các hom này có tỷ lệ ra rễ trungbình 47%, trong đó có 11 dòng cho ra rễ từ 57 – 85%. Sai khác giữa các dòng về sinh trưởng là khá rõ. Một số dòng vô tính sinh trưởng rất nhanh nhưng các chỉ tiêuchất lượng không đạt yêu cầu, một số dòng vừa sinh trưởng nhanh vừa có các chỉ tiêu chất lượng tốt có thể nhân giống nhanh và số lượng nhiều đưa vào sản xuất như các dòng BV5, BV10, BV16, BV29, BV32.
Nghiên cứu của Lê Đình Khả và các cộng sự năm 1997, cho thấy không nên dùng hạt của keo lai trồng rừng mới. Cây lai đời F1 có hình thái trung gian giữa hai loài bố mẹ và đồng nhất tương đối về hình thái. Song khi sinh sản bằng hạt đ ểcho thế hệ lai thứ hai (F2) lại bị phân ly hình thái và bị thoái hoá, vì vậy khi trồngrừng bằng cây con mọc từ hạt của cây lai F1 cây trồng sẽ bị phân hoá về sinh trưởngvà hình thái, đồng thời ưu thế lai cũng bị giảm xuống. Chính vì vậy, việc nhângiống bằng hom hoặc nhân giống bằng nuôi cấy mô là phương pháp bảo đảm nhấtđể giữ ưu thế lai đời F1.
c * Nghiên cứu về sinh trưởng của cây Keo lai Nghiên cứu so sánh tại rừng trồng ở Ba Vì đã cho thấy lúc 2,5 tuổi keo lai cóchiều cao 4,5m, đường kính ngang ngực trung bình từ 5,21cm, trong khi keo taitượng có chiều cao là 2,77m và đường kính là 2,63m (Lê Đình Khả, Phạm VănTuấn, Nguyễn Đình Hải, 1993). Nghiên cứu của Đoàn Ngọc Giao (2003) cho thấy khảo nghiệm tại Ba Vì (Hà Tây) ở phương thức thâm canh keo lai 78 tháng tuổi chiều cao vút ngọn trung bình 15m, đường kính trung bình D1.3 là 14,3 cm, thể tích thân cây Keo lai đạt172,2 dm3/cây, gấp 1,42 – 1,48 lần keo tai tượng và gấp 5,6 – 10,5 lần thể tích keo látràm. Khảo nghiệm tại Bình Thanh (Hoà Bình) ở công thức thâm canh 7 tuổi chiềucao trung bình Keo lai là 22,3m, đường kính trung bình D1.3 là 20,7cm, thể tích thân cây keo lai đạt 383,1dm3/cây ở công thức quảng canh keo lai có chiều cao 22,9m,đường kính D1.3 là 19,3cm, còn thể tích thân cây là 344,2 dm3/cây. Khảo nghiệm tại Đại Lải (Vĩnh Phúc) ở đất đồi lateritic nghèo dinh dưỡng, cómùa đông lạnh, sau 6 năm tuổi ở công thức thâm canh Hvn trung bình đạt 15,5m,D1.3 trung bình 11,7cm, thể tích thân cây đạt 86,2dm3/cây, trong khi đó thể tích thâncây keo tai tượng là 16,2 – 31,3dm3/cây.
Khảo nghiệm tại Đông Hà (Quảng Trị) chothấy ở 5,5 tuổi Hvn keo lai là 16,7m, D1.3 trung bình 17,2cm, thể tích thân cây là 202,2dm3/cây. * Những nghiên cứu về năng suất và sản lượng keo lai Nghiên cứu giống Keo lai và vai trò các biện pháp thâm canh khác trong tăng năng suất rừng trồng của Lê Đình Khả, Hồ Quang Vinh (1998) cho thấy cải thiện giống và các biện pháp thâm canh đều có vai trò quan trọng trong tăng năng suấtrừng trồng.