CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Vai trò của giống cây rừng Giống là một trong những khâu có tầm quan trọng hàng đầu trong trồng rừng công nghiệp. Có giống tốt kết hợp với những biện pháp kỹ thuật trồng rừng thâm canh phù hợp sẽ đưa năng suất rừng trồng tăng lên mức đáng kể. Giống cây trồng lâm nghiệp là một loại vật tư kỹ thuật quan trọng và là tiền đề của công tác trồng rừng.
Có giống tốt và đủ giống thì mới hoàn thành được kế hoạch trồng rừng, đảm bảo rừng trồng đạt chất lượng và năng suất cao. Không thể thu được năng suất rừng tối đa khi không sử dụng những cây có chất lượng di truyền tốt nhất, ngược lại bất luận một giống cây rừng xuất sắc như thế nào về mặt di truyền vẫn không đạt được sản phẩm tối đa nếu không áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh trong một thời gian dài. Vì thế, khi nói đến cải thiện giống cây rừng, một mặt phải nghĩ đến việc áp dụng các nguyên lý di truyền học và chọn giống để nâng cao năng suất và chất lượng cây rừng đáp ứng mục tiêu kinh tế là chính, mặt khác không bao giờ được quên các biện pháp kỹ thuật lâm sinh thích hợp với đặc điểm sinh thái của các loài cây rừng (Lê Đình Khả, 1998) [11]. Cây trồng lâm nghiệp là cây dài ngày, nếu không được quan tâm đầu tư đúng đắn và khoa học từ đầu sẽ dẫn đến tổn thất lớn về kinh phí và thời gian.
Đặc biệt, với trồng rừng kinh doanh gỗ lớn thì việc đòi hỏi sử dụng nguồn giống có chất lượng di truyền cao ngày một lớn. Việc đưa các giống có khả năng chống chịu bệnh, sinh trưởng phát triển tốt vào trồng rừng nguyên liệu, rút ngắn chu kỳ kinh doanh góp phần giải quyết bài toán kinh tế trong kinh doanh rừng trồng. Mỗi giống cây lâm nghiệp có tính thích nghi nhất định với từng điều kiện vùng sinh thái. Do đó, việc lựa chọn giống cây trồng thích hợp với từng vùng sản xuất, điều kiện sinh thái, điều kiện canh tác vừa có ý nghĩa trong việc đảm bảo tốt nhất cho việc tạo năng suất và đảm bảo chất lượng rừng trồng thì nó còn có có một vai trò khác vô cùng quan trọng đó là mở rộng diện tích đất trồng rừng.
Trước tình hình biến đổi khí hậu đang diễn ra phức tạp: nhiệt độ trái đất tăng, nước biển dâng cao, tình trạng thiên 4 tai, dịch bệnh đang xảy ra ngày càng nhiều thì sản xuất lâm nghiệp Việt Nam đang đứng trước những thử thách lớn đó tình trạng khô hạn kéo dài, mưa lũ gây xói mòn rửa trôi, các dịch bệnh đang xảy ra với mức độ và tần suất ngày càng cao. Trong khi lâm nghiệp đang hướng đến nền lâm nghiệp bền vững thì vai trò của giống cây trồng then chốt giúp tạo sự ổn định sản xuất, giảm thiểu rủi ro và chi phí cho người dân. Việt Nam chúng ta đã có nhiều thành tựu quan trọng trong công tác chọn và lai tạo giống, cũng như có những chương trình chuyển giao công nghệ sản xuất mới, tuyển lựa giống cây trồng, thúc đẩy tăng sản lượng, chất lượng gỗ và làm đổi thay bộ mặt của ngành lâm nghiệp. Vấn đề quan trọng và trọng tâm của trồng rừng là chọn giống, chọn đất trồng phù hợp trên quy mô công nghiệp hiện đại, chuyên nghiệp, bền vững.
Đặc điểm của cây Keo lá tràm 1. Phân loại thực vật Keo lá tràm có tên khoa học là Acacia auriculiformis A. Benth, thuộc họ phụ Mimosoideae, họ Leguminosae, bộ Leguminosales đã được Cunningham (1878) nghiên cứu và đề cập trong bộ “Flora” của Bentham (Hoàng Văn Dưỡng, 2000) [3]. Ở miền Nam Việt Nam quen gọi là tràm bông vàng vì lá cây này có hình dáng gần giống với lá cây tràm (Melaleuca leucadendron) thuộc họ sim (Myrtaceae) và có hoa vàng để phân biệt với cây tràm có hoa đỏ (Cao Thọ Ứng, 1985) [27].
Đặc điểm hình thái Cây Keo lá tràm là loài cây gỗ có kích thước trung bình, cây sinh trưởng nhanh, đơn thân, đoạn thân dưới cành thẳng sau đó cong về phía trên, thường cao từ 10 – 20 m, ở những nơi có điều kiện thuận lợi cây cao đến 30 m, đường kính đạt từ 60 – 80 cm. Cây khi còn non có vỏ nhẵn, khi lớn vỏ có màu xám hoặc nâu, độ dày vỏ từ 3 đến 10 mm, nứt dọc nhỏ, khi già vỏ bong thành mảng. Tán lá dày, rậm và rộng, lá thường xanh, có nhiều cành nhánh. Loài cây này có lá kép lông chim trong thời kỳ cây mạ, sau đó là lá đơn mọc cách hình lưỡi giáo dài 15 đến 20 cm và rộng 2 đến 3 5 cm, có 3 gân chính chạy song song theo chiều dài của lá, phiến lá dày cứng, màu xanh lục, nhẵn, bóng, mép lá nguyên, đầu lá nhọn.
Hoa tự hình bông mọc thành chùm, dài, màu vàng tươi. Quả đậu hình dẹt, mỏng, lúc còn non thẳng, khi già hình cong và cuộn lại theo kiểu xoắn ốc không đều, mép ngoài của quả gợn sóng như vành tai. Quả dài 5 – 6 cm, rộng 1,5 cm. Hạt nhỏ dẹt hình bầu dục nằm ngang trong vỏ quả, mỗi hạt được bọc bởi một sợi râu màu vàng da cam.
Hạt chín màu nâu đen, có vỏ dày, cứng, rốn ở phía đầu nhỏ. Mỗi kg hạt có từ 30. Đặc điểm sinh thái Keo lá tràm là loài cây ưa sáng mạnh, sinh trưởng nhanh ở những vùng có khí hậu nóng ẩm hoặc cận ẩm, nhiệt độ không khí nóng quanh năm, nhiệt độ trung bình năm trên 240C, nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất là 32 - 340C và tháng lạnh nhất là 17 - 220C, lượng mưa hàng năm là 2.500mm và chỉ có 1 - 2 tháng mùa khô. Tuy nhiên, Keo lá tràm là cây có biên độ sinh thái rộng, có khả năng chịu hạn cao.
Chúng sống được ở vùng khô hạn có lượng mưa trung bình mưa hàng năm thấp hơn 700 mm, có mùa khô kéo dài từ 4 - 6 tháng, hoặc vùng có mùa đông lạnh xuống tới 100C. Nhưng ở những nơi đó Keo lá tràm sinh trưởng kém và cành nhánh nhiều (Cao Thọ Ứng, 1985) [27]. Keo lá tràm thuộc loài cây dễ thích nghi, sống được trên nhiều loại đất khác nhau từ đất cát ven biển đến đất sét, đất potzon, đất feralit, đất phát triển phiến thạch sét, phiến thạch mica, granit, đá vôi, bãi thải công nghiệp, đất chua phèn,… Biên độ có khả năng thích ứng của Keo lá tràm với pH từ 3 - 9,5, nhưng chúng sinh trưởng tốt trên đất còn giàu dinh dưỡng, tầng đất sâu, độ pH trung tính hoặc hơi chua (Turnbull, 1997) [42]. Đây là loài cây có phân bố tự nhiên ở Australia, và nhiều vùng của Papua New Guinea, kéo dài tới Irian Yaya và quần đảo Kali của Indonesia.
Phạm vi phân bố nằm giữa vĩ độ 5 và 170 Nam, nhưng chủ yếu ở các vĩ độ 8 – 160 Nam, độ cao tuyệt đối từ 0 đến 500 m nhưng chủ yếu phân bố từ 5 đến 100 m, đặc biệt cũng thấy Keo lá tràm 6 xuất hiện ở những vùng núi cao tới 1100 m như ở Zimbabue, tuy nhiên sinh trưởng kém và hình thân rất xấu, chủ yếu ở dạng cây bụi (Pinyopusarek, 1990) [39]. Keo lá tràm có khả năng thích nghi cao và sinh trưởng nhanh nên đã được trồng rộng rãi ở nhiều nước như Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Srilanka, Thái Lan, Philipine, Trung Quốc và Việt Nam. Đặc điểm lâm học Keo lá tràm thường mọc thành đai hẹp, chúng có thể là loài cây ưu thế hoặc là một trong những loài cây ưu thế của quần thể. Có thể tìm thấy chúng trong những vùng đất thấp của vùng nhiệt đới.
Keo lá tràm sinh trưởng cùng chung quần thể với Bạch đàn và Phi lao (Nguyễn Huy Sơn, 2003) [24]. Keo lá tràm không những có thể trồng rừng hỗn loài với các loài cây Bạch đàn, Phi lao, Sao đen, Dầu,…mà còn trồng rừng thuần loài đều sinh trưởng tốt. Cây Keo lá tràm thường ra hoa sau 2 - 3 tuổi, thời vụ ra hoa phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên ở nơi nó sinh sống. Ở Việt Nam, Keo lá tràm ra hoa cũng khác nhau, chúng ra hoa 2 lần trong một năm tại khu vực miền Trung, vụ xuân ra hoa vào tháng 2 - 3, thu hái quả tháng 4 - 5, vụ thu ra hoa tháng 8 - 9 thu hái quả tháng 11 - 12; khu vực Đông Nam Bộ cây ra hoa trong suốt mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, quả chín từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau (Cao Thọ Ứng và Nguyễn Xuân Quát, 1986) [28].
Keo lá tràm có khả năng tái sinh bằng hạt rất mạnh. Hạt chín rụng xuống đất khi gặp điều kiện thuận lợi hạt có thể nảy mầm ngay. Kết quả điều tra tái sinh rừng trồng từ tuổi 6 đến tuổi 10 tại Lâm trường Trị An – Đồng Nai cho thấy tổng số hạt giống nằm dưới tán rừng khoảng 14.000 hạt/ha, trong khi đó lượng hạt còn sót lại nằm trong đất từ năm trước khoảng 4.500 hạt/ha và lượng cây con tái sinh đạt 11. Keo lá tràm là loài cây sinh trưởng khá nhanh, tăng trưởng chiều cao những năm đầu có thể đạt 2 – 3 m mỗi năm.
Ở Việt Nam, trên các lập địa thích hợp đạt chiều cao từ 15 - 18m và đường kính 15 - 20 cm ở tuổi 12. Tại Ba Vì, sau một năm cây cao từ 2,2 - 2,5m với đường kính 2,7 - 3,3cm, sau hai năm có thể cao 5 - 6 m với đường 7 kính 4,5 – 5,6cm. Tại huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh Keo lá tràm có xuất xứ Coen River của Úc được trồng trên đất phèn lên líp, sau 20 năm chiều cao đạt 18 - 20 m với đường kính 35 - 40cm. Ở Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai cây Keo lá tràm trồng phân tán sau 30 năm cao 20 - 22m, với đường kính 40 - 60cm, cá biệt có cây đường kính đạt tới 80cm (Nguyễn Huy Sơn, 2003) [24].
Năng suất rừng trồng Keo lá tràm ở các tỉnh phía Bắc đạt từ 12 - 16 m3/ha/năm (Vũ Tiến Hinh, 1996) [7], ở vùng Đông Nam Bộ năng suất rừng trung bình đạt từ 18,6 - 20 m3/ha/năm và khi với nguồn vật liệu giống được cải thiện thì năng suất có thể đạt 25,2 m3/ha/năm (Phạm Thế Dũng, 2010) [1]. Keo lá tràm là cây xanh quanh năm, tán lá dày, rễ có nốt sần cố định đạm, cây có thể sống được trên đất đai nghèo kiệt và vùng đồi, biên độ sinh thái rộng, nên được coi là cây trồng cải tạo đất, chống xói mòn và làm cây xanh đô thị.