Đặt vấn đề Ngày nay, khi nền kinh tế đang từng bước chuyền minh và phát trién mạnh mẽ được thê hiện rõ ràng qua nhiều khía cạnh của cuộc sống. Cùng với đó con người đặc biệt quan tâm nhiều đến trách nhiệm về môi trường và lối sống bền vững. Điều này đã thúc đầy thị trường cây cảnh và làm cho con người hướng tới lối sống gần gũi với thiên nhiên, không những đóng vai trò quan trong trong đời sống tinh thần mà còn làm đẹp cho cảnh quan và môi trường, tạo ra không gian sống xanh. Vì vậy việc quan tâm phát triển cây cảnh là vấn đề cần thiết.
Cây lá bạc silver dollar baby blue (Eucalyptus pulverulenta) là loài cây cảnh được nhập khâu đang được ưa chuộng và sử dụng rộng rãi tại Việt Nam. Cây lá bạc gây ấn tượng và thu hút người nhìn với vẻ ngoài độc đáo bởi những chiếc lá hình tựa trái tim cùng lớp phấn bạc thật lạ mắt tựa như đồng xu, mang ý nghĩa về sự may mắn, tài lộc và sung túc. Bên cạnh đó, cây cũng chứa hàm lượng tinh dầu eucalyptol cao, cho thấy tiềm năng kinh tế to lớn mà cây lá bạc mang lại. Vì vậy, trong những năm gần đây, cây lá bạc đã có cho mình điểm đứng trên thị trường cây cảnh nhộn nhịp và đầy biến động.
Ở nước ta, nguồn giống cây lá bạc được sản xuất chủ yếu ở khu vực Tây Nguyên. Việc vận chuyên cây giống từ nguồn cung ứng đến nơi tiêu thụ còn phải trải qua nhiều giai đoạn phức tạp. Vì thế việc cung ứng cây giống cho thị trường còn thiếu chủ động, chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng nhanh của thị trường. Bên cạnh đó, từ trước đến nay, cây lá bạc được nhân giỗng chủ yếu bằng cách ươm từ hạt.
Tuy nhiên, với phương thức nhân giống này, hệ số nhân thấp, tốn nhiều thời gian và công sức, đồng thời cây giống không đồng đều, dé bị nhiễm bệnh. Việc sử dụng kỹ thuật nuôi cấy in vitro là một trong những phương pháp hữu hiệu nhất hiện nay có thé giải quyết được những khó khăn trên một cách đơn giản. Phương pháp này cho phép nhân nhanh, tạo ra một số lượng cây giống lớn, đồng nhất về mặt di truyền, sạch bệnh, nâng cao chất lượng và giảm giá thành sản phẩm. Đây là kỹ thuật tiên tiến đã được ứng dụng thành công trên thế giới và Việt Nam đem lại hiệu quả kinh tế cao cho hàng loạt cây trồng khác nhau.
Nhưng hiện nay trên thế giới và Việt Nam, vẫn chưa có nhiều nghiên cứu liên quan, chưa có công bố nào về việc sử dụng kỹ thuật này trong nhân giống cây lá bạc. Xuất phát từ những giá trị thực tiễn trên đề tài “Bước đầu nhân giống cây lá bạc silver dollar baby blue (Eucalyptus pulverulenta) bằng kỹ thuật nuôi cay in vitro” được thực hiện. Mục tiêu của đề tài: Xác định được thời gian và loại chất khử trùng tốt nhất cho việc vô mẫu cây lá bạc. Xác định được nồng độ một số chất điều hòa sinh trưởng tốt nhất cho sự tạo chồi từ mẫu cây lá bạc.
Xác định được nồng độ IBA va NAA tốt nhất cho sự tạo rễ từ mẫu chéi cây lá bạc. Nội dung thực hiện: Nội dung 1: Khảo sát thời gian khử trùng của Ca(OCI)2 10%, H2O2 10% đến việc khử trùng mẫu. Nội dung 2: Đánh giá ảnh hưởng của nồng độ BA, Ki đến khả năng tạo chỗồi cây lá bạc. Nội dung 3: Khảo sát ảnh hưởng của nồng độ IBA và NAA đến khả năng tạo rễ từ mẫu chôi cây lá bạc.
TONG QUAN TÀI LIEU 2. Giới thiệu chung về cây lá bac (Eucalyptus pulverulenta) 2. Nguồn gốc và phân loại Cây lá bạc (Eucalyptus pulverulenta) lần đầu được mô ta và đặt tên bởi Sims (1819), nhà thực vật học người Anh. Cây lá bạc có nguồn gốc từ Tasmania, một bang của Australia và được phân loại như sau: Giới: Plantae Ngành: Angiospermae Lớp: Eudicots Bộ: Myrtales Họ: Myrtaceae Chi: Eucalyptus Loai: Eucalyptus pulverulenta 2.
Dac diém hinh thai va sinh thai 2. Đặc điểm hình thái Cây lá bạc (Eucalyptus pulverulenta) thuộc cây thân gỗ nhỏ, tao bóng mát, có nhiều cành phân nhánh, chiều cao khoảng 1 — 6 m có thé đạt tới 10 m (Pryor, 1981). Cây thuộc họ khuynh diệp nên cành lá đều thơm nhẹ mùi tinh dầu tạo cảm giác dé chịu, thư giãn cho người xung quanh. Vỏ cây nhẫn, màu xám hoặc màu đồng, bong thành dai dài.
Thân non có màu xám xanh (Pryor, 1981). Lá cây non tròn nhỏ hoặc lá hình tim, mọc đối xứng, không có cuống, có màu xanh lục phủ một lớp phan trang nhẹ, dai và rộng 5 cm, có đặc điểm duy trì trên cây trưởng thành. Rất hiếm khi lá trưởng thành có cuống, hình bầu dục đến hình mác, màu xám xanh, dài 10 cm và rộng 2 cm (Brooker và Kleinig, 1999; Hall, 1980; Pryor, 1981). Hoa của cây moc dưới nach lá, thành chùm ngắn, nhiều sợi nhị nhỏ, ở giữa có màu vàng nhạt, không có cuống mọc thành cụm ba bông.
Cây lá bạc ra hoa từ tháng 5 đến tháng 12 (Benson và Dougall, 1998). Loài này được thụ phan nhờ côn trùng, có thé giới hạn phạm vi phát tán phan hoa ở khoảng 250 m. Qua hình chén hoặc ban cầu gồm 3 — 4 ngăn, dài 5 — 8 mm, đường kính 6 — 8 mm (Benson va Dougall, 1998). Đặc điểm sinh thái Cây lá bạc xuất hiện ở các đỉnh hoặc sườn phía trên của sườn đồi hoặc núi có độ dốc vừa phải (Briggs va Leigh, 1990; Chippendale, 1988), ở độ cao 800 — 1000 m so với mực nước biển (Peters và ctv, 1990).
Moc ở vùng đất nông như một loại cây tầng thấp trong rừng thưa với độ cao tán 5 — 10 m (Briggs va Leigh, 1990). Cây lá bạc phát triển ở vùng đất cát trên đá aplite, đá phiến sét, đá rhyolite,. it dưỡng chất (Benson và Dougall, 1998). Cây lá bạc thích đất thoát nước tốt, có độ chua nhẹ đến pH trung tính (5,5 — 7,5).
Cây có nguồn gốc từ các vùng ôn đới, mát mẻ của New South Wales, nơi có mùa đông mát mẻ, mùa hè ôn hòa. Cây có thé chịu được nhiệt độ tối thiểu từ -7°C đến -1°C. Cây nhạy cảm với sương giá và có thé bi hư hại nếu tiếp xúc với nhiệt độ lạnh kéo dài. Eucalyptus pulverulenta là cây ưa sáng và sẽ không phát triển tốt ở những nơi có nhiều bóng râm.
Cây cần ít nhất là 6 giờ chiếu sáng ánh sáng mặt trời hàng ngày đề phát triển và tạo ra những tán lá màu xám bạc đặc trưng. Cây có thé chịu được hạn hán, tưới nước quá nhiều có thé dẫn đến thối rễ và các bệnh nam khác, vì vậy việc dé đất khô một chút giữa các lần tưới là điều cần thiết. Cây không cần bón phân nhiều, bón vừa phải vào đầu mùa xuân có thê giúp thúc đây sự phát triển khỏe mạnh và tạo ra tán lá. Tránh bón quá nhiều phân bón giàu nito, điều này có thé khiến lá phát triển quá mức, ảnh hưởng đến việc ra hoa và quả.
Cây tương đối ít sâu bệnh nhưng có thể đễ bị bệnh nắm ở những khu vực có độ am cao hoặc đất thoát nước kém. Theo dõi các dấu hiệu của bệnh đốm lá, bệnh phan trang và thối rễ và xử lý khi cần thiết bằng thuốc diệt nam. Cây cũng có thé thu hút côn trùng có vảy. Phân bố Chi Eucalyptus phân bố chủ yếu ở Australia và New Zealand.
Ngoài ra, loại cây này còn được tìm thấy ở Indonesia, New Guinea, Philippines, bán đảo Ấn Độ, vùng Dia Trung Hải, Trung Đông và Đài Loan. Ở Việt Nam, cây lá bạc được trồng nhiều nhất ở khu vực Tây Nguyên. Giá trị kinh tế Cây lá bạc (Eucalyptus pulverulenta) được trồng thương mại dé làm cảnh và cắt lá cho ngành bán hoa, nơi được gọi là "Đô la bạc của người bán hoa". Ngày nay, Ý là nước dẫn đầu ở châu Âu về sản xuất và xuất khâu Eucalyptus cắt cành, chủ yếu được bán ở thị trường Bắc Âu, nơi cành tươi và khô được sử dụng trong ngành hoa (Pacifici va ctv, 2007).
Loài này cũng được sử dụng rộng rãi làm cây cảnh, đặc biệt là 6 California, Hoa Kỳ. Cây cũng được sử dụng cho nghiên cứu nhân giống thực nghiệm (Pryor, 1981). Năm 1985, Brophy va ctv đã nghiên cứu thu nhận tinh dau Eucalyptus pulverulenta với thành phần chứa 41 hợp chat, 32 trong số đó đã được xác định. Ngoài 1,8-cineole (82,5%), một số thành phần vi lượng, 6-terpineol, cis-1(7),8-menthadien-2- ol và trans-1(7),8-menthadien-2-ol trước đây không được phát hiện ở Eucalyptus cũng đã được xác định.
Mặt khác, nhóm tác gia Danna va ctv (2021) đã nghiên cứu vi hình thai, hóa thực vật, hoạt tính độc tố thực vật và khả năng chiết xuất tinh dầu của mẫu lá Eucalyptus gunnii va Eucalyptus pulverulenta. So sánh giữa hai mẫu cho thay Eucalyptus pulverulenta cô mật độ tuyến dầu cao hơn cũng như hiệu suất thu được tinh dầu cao hơn so với Eucalyptus gunnii. Trong đó, 1,8-cineol là hợp chất chính (~75%); eugenol là thành phan thứ hai trong tinh dau Eucalyptus pulverulenta. Đồng thời, eucalyptol (1,8-cineole) đã được báo cáo là có tác dung kháng khuan, chống viêm, chống oxy hóa, giảm đau và chống co thắt trong một số bệnh bao gồm cảm lạnh, cúm, các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp khác, viêm mũi và viêm xoang (Sadlon và Lamson, 2010).
Bên cạnh đó nhóm nghiên cứu của Kuppusamy và ctv (2021) đã thiết lập được mối tương quan giữa thành phần hóa học và khả năng chống oxy hóa của tinh dầu Eucalyptus pulverulenta với sự hiện diện của phenol, terpen, hợp chất hydrocacbon. trong tinh dầu có thể được dùng làm chất phụ gia chống oxy hóa trong ngành mỹ phẩm. thực phẩm và đồ uống. Các phương pháp nhân giống thực vật 2.
Phương pháp nhân giống truyền thống Gieo bang hạt giống, đây là phương pháp phổ biến nhất được sử dụng. Thông thường sẽ tiến hành gieo trồng vào mùa xuân khi các quả đã già và sắp bung hat. Hạt giống có thể nảy mầm ngay vì không xảy ra trạng thái ngủ nghỉ. Hạt giống thường được gieo trên các mặt đất đã được xử lý nắm bệnh, ở nơi râm mát hoặc phủ nhựa trắng.
Sau đó trồng cây con vào các chậu nhỏ. Giâm cành, được thực hiện vào cuối mùa hè chọn những cây từ 2 đến 12 tháng tuôi. Cắt một cành đài 12 cm và nhúng vào dung dịch kích thích ra rễ. Giâm cành vào chậu, đặt chậu dưới ánh nang nhẹ dé giữ cho cây ở nhiệt độ khoảng 22°C.
Trong khoảng một tháng, rễ sẽ hình thành. Phương pháp nhân giống in vitro Theo George (1993), quá trình nhân giống in vitro bao gồm 5 giai đoạn sau: Giai đoạn 1, chọn lọc và chuẩn bị cây mẹ.