CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG CÂU HỎI TRONG ĐỀ KIỂM TRA NĂNG LỰC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh theo hướng tiếp cận năng lực 1.1 Khái niệm kiểm tra, đánh giá - Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học do Hoàng Phê chủ biên "kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét" [25,tr 504]. Trong giáo dục, kiểm tra được hiểu là hoạt động đo lường để đưa ra các kết quả, các nhận xét, phán quyết dựa vào các thông tin thu được theo công cụ đã chuẩn bị trước với mục đích xác định xem cái gì đã đạt được, cái gì chưa đạt được. Và như vậy kiểm tra cũng là một hoạt động đánh giá.
kết quả của kiểm tra được sử dụng để phản hồi, làm cơ sở cho các quyết định giáo dục như đánh giá, xếp loại, giải trình, báo cáo, tư vấn… - Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định phán đoán về kết quả công việc dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng điều chỉnh nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc [8, tr5] Như vậy, đánh giá là quá trình đưa ra những quyết định trên cơ sở đo lường, làm sáng tỏ số liệu thu thập được một cách có hệ thống để xét đoán giá trị. Trong giáo dục, đánh giá được hiểu là là quá trình thu thập và lý giải kịp thời có hệ thống các thông tin về hiện trạng khả năng hay nguyên nhân về chất lượng và hiệu quả giáo dục căn cứ vào mục tiêu giáo dục, làm cơ sở cho việc điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện những chủ trương biện pháp và hành 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com động giáo dục tiếp theo. Trong dạy học, kiểm tra, đánh giá được xem xét như một quá trình liên tục và là một phần của hoạt động dạy học. Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh 1.
Khái niệm kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh Đánh giá kết quả học tập là thuật ngữ chỉ quá trình hình thành những nhận định, rút ra những kết luận hoặc phán đoán về trình độ, phẩm chất của người học, hoặc đưa ra những quyết định về việc dạy học dựa trên cơ sở những thông tin đã thu thập được một cách hệ thống trong quá trình kiểm tra. Theo đó, khi đánh giá kết quả học tập của học sinh, giáo viên đưa ra những nhận định, những phán đoán về mức độ thực hiện mục tiêu dạy học đã đề ra của học sinh, từ đó có các giải pháp điều chỉnh phương pháp dạy học phù hợp, đưa ra các khuyến nghị góp phần thay đổi các chính sách giáo dục. Một số yêu cầu đối với kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh. - Phải đánh giá được các năng lực khác nhau của học sinh.
Mỗi cá nhân để thành công trong học tập, thành đạt trong cuộc sống cần phải sở hữu nhiều loại năng lực khác nhau. Quá trình giáo dục cũng hướng đến phát triển toàn diện cho học sinh với những năng lực khác nhau đó. Do vậy giáo viên phải sử dụng đa dạng các loại hình, các công cụ khác nhau nhằm kiểm tra đánh giá được các loại năng lực khác nhau của người học, để kịp thời phản hồi, điều chỉnh hoạt động dạy học và giáo dục. - Đảm bảo tính khách quan: nguyên tắc khách quan được thực hiện trong quá trình kiểm tra và đánh giá nhằm đảm bảo kết quả thu thập được ít chịu ảnh hưởng từ những yếu tố chủ quan khác.
- Đảm bảo sự công bằng: nguyên tắc công bằng trong đánh giá kết quả học tập nhằm đảm bảo rằng những học sinh thực hiện các hoạt động học tập với cùng một mức độ và thể hiện cùng một nỗ lực trong học tập sẽ nhận được những kết quả như nhau. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Đảm bảo tính toàn diện: quá trình đánh giá kết quả học tập của học sinh nhằm đảm bảo kết quả học sinh đạt được qua kiểm tra phản ánh được mức độ đạt được về kiến thức, kỹ năng, thái độ trên bình diện lý thuyết cũng như thực hành, ứng dụng với các mức độ nhận thức khác nhau trong hoạt động học tập của họ. - Đảm bảo tính công khai: đánh giá phải là một tiến trình công khai. Do vậy, các tiêu chí và yêu cầu đánh giá, các nhiệm vụ hay bài tập, bài thi cần được công bố đến học sinh trước khi họ thực hiện.
Việc công khai các yêu cầu hoặc tiêu chí đánh giá tạo điều kiện cho học sinh có cơ sở để xem xét tính chính xác, tính thích hợp trong đánh giá của giáo viên cũng như tham gia đánh giá kết quả học tập của bạn học và của bản thân. Điều này sẽ góp phần làm cho hoạt động kiểm tra đánh giá trong nhà trường khách quan và công bằng hơn. - Đảm bảo tính giáo dục: đánh giá phải góp phần nâng cao hiệu quả học tập và khả năng tự học, tự giáo dục của học sinh. Từ những điều đã học được, học sinh định ra cách tự điều chỉnh hành vi học tập về sau của bản thân.
Những nhận xét của giáo viên trong bài kiểm tra về những gì mà học sinh làm được; những gì mà học sinh có thể làm được tốt hơn; những gì học sinh cần được hỗ trợ thêm; những gì học sinh cần tìm hiểu thêm. sẽ giúp học sinh nhận thấy được sự tiến bộ của bản thân, những gì cần cố gắng hơn trong môn học, cũng như nhận thấy sự khẳng định của giáo viên về khả năng của họ. Điều này có tác dụng động viên người học rất lớn, góp phần quan trọng vào việc thực hiện chức năng giáo dục và phát triển của đánh giá giáo dục. - Đảm bảo tính phát triển: đánh giá hướng đến việc duy trì sự phấn đấu và tiến bộ của người học cũng như góp phần phát triển động cơ học tập đúng đắn trong người học.
Qua những phán đoán, nhận xét về việc học của học sinh, giáo viên giúp các em nhận ra chiều hướng phát triển trong tương lai của 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bản thân, nhận ra tiềm năng của mình. Nhờ vậy, thúc đẩy các em phát triển lòng tự tin, hướng phấn đấu và hình thành năng lực tự đánh giá cho học sinh. Năng lực và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh theo hướng tiếp cận năng lực 1. Năng lực Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học do Hoàng Phê chủ biên, từ năng lực có thể hiểu theo hai nghĩa: "năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó"; năng lực còn là "phẩm chất tâm lí, sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao [25, tr 639].
Hiện nay, khái niệm năng lực được hiểu theo nhiều nghĩa: - Theo T.S Bùi Minh Đức: năng lực là “khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức tạp dựa trên việc huy động những nguồn lực tâm lý (bao gồm cả kĩ năng và thái độ) trong một hoàn cảnh cụ thể” [2, tr41] - Theo PGS - TS Đỗ Ngọc Thống "năng lực là sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố: kiến thức, kỹ năng, thái độ, tình cảm, ý chí, kinh nghiệm và nhiều nguồn lực tinh thần khác để giải quyết một cách hiệu quả các vấn đề đặt ra trong cuộc sống" [2, tr14]. Như vậy “năng lực là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kỹ năng, thái độ và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lý vào thực hiện thành công nhiệm vụ hoặc giải quyết hiệu quả vấn đề đặt ra của cuộc sống. Năng lực là một cấu trúc động (trừu tượng), có tính mở, đa thành tố, đa tầng bậc, hàm chứa trong nó không chỉ là kiến thức, kỹ năng…mà cả niềm tin, giá trị, trách nhiệm xã hội…thể hiện ở tính sẵn sàng hành động trong những điều kiện thực tế hoàn cảnh thay đổi” [6, tr. Năng lực thường tồn tại dưới hai hình thức: năng lực chung và năng lực chuyên biệt.
12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Năng lực chung là những năng lực cần thiết để cá nhân có thể tham gia hiệu quả trong nhiều hoạt động và các bối cảnh khác nhau của đời sống xã hội. Năng lực chung cần thiết cho mọi người. - Năng lực chuyên biệt thường liên quan đến một số môn học cụ thể hoặc một lĩnh vực hoạt động có tính chuyên biệt, cần thiết ở một hoạt động cụ thể, đối với một số người hoặc cần thiết ở những bối cảnh nhất định. Các năng lực chuyên biệt không thể thay thế năng lực chung.
Ở bậc giáo dục trung học phổ thông, năng lực của học sinh không chỉ là vốn kiến thức, kỹ năng, thái độ sống phù hợp với lứa tuổi mà còn là sự kết hợp hài hòa của cả ba yếu tố này thể hiện ở khả năng hành động (thực hiện) hiệu quả, muốn hành động và sẵn sàng hành động (gồm động cơ, ý chí, tự tin, trách nhiệm xã hội…). Các tác giả nghiên cứu dự thảo chương trình giáo dục phổ thông sau 2015 phân chia các năng lực chung gồm: + Nhóm năng lực làm chủ và phát triển bản thân gồm: năng lực tự học; năng lực giải quyết vấn đề; năng lực sáng tạo; năng lực tự quản lý. + Nhóm năng lực về quan hệ xã hội gồm: năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác. + Nhóm năng lực công cụ gồm: năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông; năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực tính toán.
- Năng lực chuyên biệt thường liên quan đến một số môn học cụ thể (Ví dụ: năng lực cảm thụ văn học trong môn Ngữ văn) hoặc một lĩnh vực hoạt động có tính chuyên biệt (Ví dụ: năng lực chơi một loại nhạc cụ); cần thiết ở một hoạt động cụ thể, đối với một số người hoặc cần thiết ở những bối cảnh nhất định. Năng lực của cá nhân thể hiện qua hoạt động có thể quan sát được ở các tình huống, hoàn cảnh khác nhau và có thể đo lường/đánh giá được. Mỗi 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hoạt động kiểm tra đánh giá cụ thể phải thu thập được các chứng cứ cốt lõi về các kiến thức, kỹ năng, thái độ,. được tích hợp trong những tình huống, ngữ cảnh thực tế.