Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ mang tên “Kỹ năng tuyên truyền bằng lời tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức của báo cáo viên” do nghiên cứu sinh Đinh Thị Mai thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội vào năm 2013, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Trần Thị Minh Đức và PGS.TS Nguyễn Hồi Loan. Công trình thuộc chuyên ngành Tâm lý học xã hội (mã số chuyên ngành đào tạo thí điểm).
Về tính cấp thiết, tác giả lập luận rằng đạo đức là nền tảng cốt lõi của xã hội. Trong bối cảnh hiện nay, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức được xác định là sản phẩm tinh thần quý giá của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam, đóng vai trò là nền tảng đạo đức xã hội. Hoạt động tuyên truyền tư tưởng này giúp cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân củng cố niềm tin chính trị, hình thành thế giới quan và nhân sinh quan đúng đắn. Trong số các hình thức tuyên truyền, tuyên truyền bằng lời (TTBL) nói miệng trực tiếp giữ vị trí cơ bản và được áp dụng phổ biến nhất. Tuy nhiên, hiệu quả công tác này trên thực tế còn bộc lộ nhiều hạn chế do trình độ kỹ năng của đội ngũ báo cáo viên, đặc biệt là báo cáo viên cấp ủy cơ sở (BCVCS), chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ. Nhiều báo cáo viên còn lúng túng trong thiết lập quan hệ với người nghe, hạn chế về năng lực quan sát, kỹ năng thuyết phục chưa sâu và thiếu năng lực đối thoại hai chiều.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả chỉ rõ: phần lớn các nghiên cứu trước đây về công tác tuyên truyền chủ yếu tiếp cận dưới góc độ khoa học chính trị hoặc đường lối tư tưởng của Đảng, mang tính chất tổng kết kinh nghiệm thực tiễn hoặc liệt kê phẩm chất mang tính quy phạm. Cho đến thời điểm đề tài được thực hiện, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách chuyên biệt, hệ thống dưới góc độ tâm lý học xã hội để làm sáng tỏ bản chất, cấu trúc kỹ năng, thang đo đánh giá và các yếu tố tâm lý tác động đến kỹ năng tuyên truyền bằng lời của người báo cáo viên cơ sở.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là từ việc làm rõ cơ sở lý luận và khảo nghiệm thực trạng kỹ năng tuyên truyền bằng lời của BCVCS, luận án đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao kỹ năng tuyên truyền bằng lời tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cho đội ngũ này, góp phần gia tăng hiệu quả tuyên truyền tại cơ sở.
Hệ thống nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm:
- Xây dựng cơ sở lý luận về kỹ năng tuyên truyền bằng lời tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức của BCVCS (xác định khái niệm công cụ, biểu hiện, mức độ biểu hiện của 4 kỹ năng cụ thể và các yếu tố tác động).
- Khảo sát thực trạng mức độ biểu hiện của các kỹ năng này và phân tích ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan, khách quan.
- Tổ chức thực nghiệm tác động nhằm kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của biện pháp nâng cao kỹ năng cho BCVCS.
Luận án xây dựng 3 giả thuyết nghiên cứu chính:
- Các kỹ năng quan trọng đảm bảo cho hoạt động TTBL tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức của BCVCS (thiết lập mối quan hệ, quan sát, thuyết phục, đối thoại) chỉ đạt ở mức trung bình; trong đó, kỹ năng thiết lập mối quan hệ thực hiện tốt hơn, kỹ năng thuyết phục còn nhiều hạn chế hơn.
- Kỹ năng tuyên truyền bằng lời của BCVCS chịu sự tác động chính từ các yếu tố chủ quan, nổi bật là động cơ tuyên truyền, sự hiểu biết và công tác bồi dưỡng, tập huấn.
- Nếu tổ chức bồi dưỡng, tập huấn các chuyên đề về tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và kỹ năng tuyên truyền bằng lời thì có thể góp phần nâng cao kỹ năng này ở đội ngũ BCVCS.
Đối tượng nghiên cứu là biểu hiện, mức độ biểu hiện một số kỹ năng tuyên truyền bằng lời tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức của BCVCS và các yếu tố tác động tới kỹ năng này. Phạm vi nghiên cứu giới hạn vào 4 kỹ năng cụ thể: kỹ năng thiết lập mối quan hệ, kỹ năng quan sát, kỹ năng thuyết phục và kỹ năng đối thoại. Khách thể nghiên cứu được xác định là báo cáo viên cấp ủy cơ sở. Về không gian, nghiên cứu khảo sát tại 4 địa bàn có nét tương đồng về kinh tế, chính trị và xã hội: thành phố Hà Nội, tỉnh Bắc Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Đồng Nai.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu của luận án được chia tách thành các nhóm vấn đề ở phạm vi quốc tế và trong nước:
Ở nước ngoài, các công trình nghiên cứu về tuyên truyền và kỹ năng tuyên truyền phân hóa theo hai hướng tiếp cận chính:
- Hướng tiếp cận tuyên truyền theo hướng điều khiển, điều chỉnh quan điểm, hành vi: Đại diện tiêu biểu là các học giả phương Tây như Edward Bernays (2005) xem bản chất tuyên truyền là trung tính nhưng có thể điều khiển công chúng qua cơ chế tâm lý nhóm; Jacques Ellul (1965) xem tuyên truyền là hoạt động mang tính tổng thể, kích động liên tục nhằm khơi dậy hành động trung thành không lý trí; Radal Marlin (2002) và Richard Alan Nelson (1996) nhấn mạnh tuyên truyền gắn với việc kiểm soát, ngăn chặn hoặc bóp méo thông tin để định hướng cảm xúc phục vụ mục tiêu chính trị hoặc thương mại; Garth S. Jowett và Victoria O'Donnell (2008) xem truyền thông, quảng cáo và thuyết phục là các phương tiện kỹ thuật của tuyên truyền.
- Hướng tiếp cận tuyên truyền theo hướng thuyết phục, cảm hóa: Các nhà tâm lý học Liên Xô cũ như V. Pravotorov (1983) tiếp cận tuyên truyền là sự tác động qua lại nhằm nâng cao tính tích cực nhận thức của người tiếp nhận; X. Covaliev (1982) xem đây là hiện tượng tâm lý xã hội trong giao tiếp trực tiếp; A. Nadirasvili (1981) nhấn mạnh việc chuẩn bị tài liệu, lập luận song phương và tính logic để thay đổi tâm thế; V. Platonov (1978) nhấn mạnh tính chân thật, dễ hiểu và sức mạnh thuyết phục của ngôn từ. Bên cạnh đó, quan điểm của các nhà lý luận Đảng Cộng sản Trung Quốc (Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân) coi bản chất của tuyên truyền là sự thuyết phục quần chúng dựa trên sự gương mẫu của người làm công tác tuyên truyền.
Về tuyên truyền bằng lời và kỹ năng cụ thể, tác giả phân tích hai nhánh:
- Nhánh gắn với công tác đảng: V. Lênin nhấn mạnh tính tư tưởng, tính giản dị, dễ hiểu và yêu cầu dùng việc thực, người thực; L. Bregionev yêu cầu loại bỏ sự sáo rỗng, máy móc; E. Rakhomancunov (1978) phân tích ưu thế giao tiếp trực tiếp giúp nắm bắt tâm trạng người nghe; E. Nogin (1984) xem tuyên truyền bằng lời là nghệ thuật phát biểu miệng tổng hòa các kỹ năng, kỹ xảo sư phạm và tâm lý.
- Nhánh nghiên cứu kỹ năng độc lập: Dale Carnegie (1926) tập trung vào sự tự tin và cách chế ngự nỗi sợ hãi khi diễn thuyết; D. Torrington (1994) phân tích các bẫy tâm lý phi ngôn ngữ khi thuyết trình; Carmine (2006) đề cao nhiệt huyết, cử chỉ linh hoạt và sự súc tích.
Tại Việt Nam, tác giả tổng kết các công trình theo hai hướng:
- Hướng gắn với công tác tư tưởng của Đảng: Di sản của Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định rõ ba cách tuyên truyền (bằng lời, bằng văn tự, bằng hành động), yêu cầu cán bộ phải nói giản đơn, thiết thực, xuất phát từ đối tượng; các nghiên cứu của Hoàng Tùng (1986), Lương Khắc Hiếu (2008), Hoàng Quốc Bảo (2004) chỉ ra đặc trưng phương pháp tuyên truyền Hồ Chí Minh; công trình của Hà Học Hợi (2002), Đào Duy Quát (2000) nêu các thao tác chuẩn bị và tiến hành phát biểu; nghiên cứu của Nguyễn Chí Mỳ (2009) đi sâu vào kỹ năng đối thoại trực tiếp, bình đẳng và dân chủ.
- Hướng tiếp cận dưới góc độ tâm lý học chuyên ngành: Hà Thị Bình Hòa (2001) nghiên cứu nhu cầu thông tin của khách thể tuyên truyền; Nguyễn Hữu Thụ (2005) khảo sát tác động tâm lý của tuyên truyền quảng cáo bằng lời; Nguyễn Hoàng Lân (2008) là tác giả đầu tiên làm rõ kỹ năng tuyên truyền của cán bộ chính trị cấp cơ sở trong quân đội theo các giai đoạn hình thành kỹ năng.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Phần lớn công trình trong nước chỉ dừng ở mức độ liệt kê kinh nghiệm thực tế hoặc quy phạm chính trị, chưa thao tác hóa được hệ thống khái niệm kỹ năng tuyên truyền bằng lời dưới lăng kính tâm lý học xã hội. Luận án xác lập vị trí nghiên cứu tiên phong trong việc chuẩn hóa cấu trúc 4 kỹ năng cụ thể, xây dựng hệ thống tiêu chí đo lường định lượng và định tính đối với kỹ năng tuyên truyền bằng lời tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức ở cấp cơ sở.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về mặt lý luận, tác giả hệ thống hóa các hướng tiếp cận khái niệm kỹ năng trong tâm lý học:
- Kỹ năng là thao tác, kỹ thuật hành động: Quan điểm của V. Cruchetxki, V. Covaliov, Đào Thị Oanh, Bùi Xuân Mai nhấn mạnh việc vận dụng tri thức vào thực hiện hành động đúng phương thức.
- Kỹ năng là năng lực, khả năng thực hiện hành động có kết quả: Quan điểm của K. Platonov, N. Levitov, V. Tsebuseva, A. Petrovski, P. Glotoskin, Nguyễn Quang Uẩn, Vũ Dũng, Trần Quốc Thành, Nguyễn Ánh Tuyết khẳng định kỹ năng đòi hỏi sự linh hoạt, bền vững và hiệu quả thực tế.
- Kỹ năng là hành vi ứng xử: Quan điểm của S. Richard (2003) gắn kỹ năng với thái độ, giá trị và biểu hiện hành vi ra bên ngoài.
Từ việc tổng hợp các hướng trên, tác giả định nghĩa:
- Tuyên truyền bằng lời (TTBL): Là hoạt động tác động bằng lời nói trực tiếp của người tuyên truyền tới người được tuyên truyền trong điều kiện và hoàn cảnh cụ thể để thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi của họ theo mục đích nhất định.
- Kỹ năng tuyên truyền bằng lời (KNTTBL): Là sự vận dụng tri thức, kinh nghiệm hoạt động TTBL của người tuyên truyền để thực hiện có kết quả hành động tác động bằng lời nói trực tiếp tới người được tuyên truyền trong điều kiện và hoàn cảnh cụ thể nhằm thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi của họ theo mục đích nhất định.
- Kỹ năng tuyên truyền bằng lời tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức của BCVCS: Là khái niệm chuyên biệt do luận án xây dựng, bao gồm 4 kỹ năng thành phần: kỹ năng thiết lập mối quan hệ, kỹ năng quan sát, kỹ năng thuyết phục và kỹ năng đối thoại.
Tiêu chí đánh giá mức độ kỹ năng dựa trên 3 tiêu chí: tính đầy đủ, tính thuần thục và tính linh hoạt của các thao tác hành động.
Về phương pháp luận, công trình dựa trên 3 nguyên tắc căn bản:
- Nguyên tắc tâm lý học liên ngành (kết hợp tâm lý học xã hội, tâm lý học tuyên truyền và tâm lý học chính trị).
- Nguyên tắc hoạt động (tâm lý hình thành, bộc lộ và biến đổi thông qua hoạt động thực tiễn).
- Nguyên tắc hệ thống (xem xét các kỹ năng trong mối quan hệ hữu cơ với nhau và với các yếu tố chủ quan, khách quan).
Về tổ chức nghiên cứu thực tiễn, tác giả sử dụng phối hợp các phương pháp: nghiên cứu tài liệu văn bản, điều tra bảng hỏi, phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm, phân tích sản phẩm hoạt động, bài tập tình huống giả định, phương pháp chuyên gia, quan sát và thực nghiệm tác động. Số liệu khảo sát được xử lý bằng phần mềm SPSS phiên bản 16.0 (tính điểm trung bình - ĐTB, độ lệch chuẩn - ĐLC, kiểm định sai biệt và tương quan).
Bảng dưới đây tổng hợp quy mô các nhóm khách thể tham gia nghiên cứu thực tiễn theo văn bản luận án:
| Nhóm khách thể nghiên cứu |
Mục đích thực hiện |
Số lượng (N) |
| Chuyên gia, BCVCS và CBTG |
Thăm dò ý kiến thiết kế công cụ điều tra (6 chuyên gia, 40 BCVCS, 30 CBTG) |
76 |
| Báo cáo viên cơ sở tại Hà Nội |
Khảo sát điều tra thử nghiệm công cụ đo lường |
40 |
| Báo cáo viên cơ sở (BCVCS) |
Điều tra chính thức tại 4 địa bàn (Hà Nội, Bắc Ninh, TP.HCM, Đồng Nai) |
182 |
| Cán bộ tuyên giáo (CBTG) |
Điều tra chính thức tại cấp tỉnh, huyện và tương đương |
125 |
| Người được tuyên truyền (người nghe) |
Điều tra chính thức đánh giá chéo về báo cáo viên |
278 |
| Phỏng vấn sâu chuyên sâu |
Thu thập định tính (20 BCVCS, 10 CBTG, 20 người được tuyên truyền) |
50 |
| Báo cáo viên cơ sở tại Hà Nội |
Tham gia chương trình thực nghiệm tác động bồi dưỡng kỹ năng |
11 |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lí luận nghiên cứu kỹ năng tuyên truyền bằng lời tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức của báo cáo viên cơ sở
Chương này tập trung xây dựng hệ thống khái niệm và khung lý thuyết. Sau khi phân tích tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, tác giả đi sâu luận giải các vấn đề lý luận về kỹ năng, tuyên truyền, tuyên truyền bằng lời và xác lập các đặc thù của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức (tính nhân văn, hướng tới con người, chuẩn mực cho cán bộ đảng viên).
Tác giả xác định cấu trúc 4 kỹ năng cơ bản của BCVCS bao gồm:
- Kỹ năng thiết lập mối quan hệ: Thể hiện qua các thao tác tiếp xúc ban đầu, tạo bầu không khí tâm lý cởi mở, phá vỡ khoảng cách tâm lý và duy trì thiện cảm trong suốt quá trình nói chuyện.
- Kỹ năng quan sát: Thể hiện qua khả năng bao quát không gian hội trường, nhận biết nhanh chóng các biểu hiện phi ngôn ngữ (ánh mắt, nét mặt, tư thế ngồi, cử chỉ) của người nghe để nhận diện tâm trạng và mức độ chú ý.
- Kỹ năng thuyết phục: Thể hiện qua khả năng lựa chọn luận cứ xác thực, phân tích logic, kết hợp giữa lý lẽ sắc bén với việc truyền cảm xúc, liên hệ thực tiễn sinh động nhằm định hướng niềm tin và hành động.
- Kỹ năng đối thoại: Thể hiện qua cách gợi mở vấn đề, lắng nghe tích cực câu hỏi phản hồi, chấp nhận các ý kiến khác biệt và giải đáp thấu đáo các vấn đề người nghe quan tâm theo nguyên tắc dân chủ, bình đẳng.
Tác giả xây dựng Bảng danh mục các biểu hiện KNTTBL (Bảng 1.1) và thiết lập 4 nguyên tắc bắt buộc: rõ ràng và dễ hiểu; phù hợp với đối tượng; phù hợp với hoàn cảnh; chân thành, tự nhiên, tránh giáo điều khô cứng. Đồng thời, chương 1 phân tích cơ chế chi phối của 2 nhóm yếu tố: nhóm chủ quan (động cơ tuyên truyền, mức độ hiểu biết tư tưởng Hồ Chí Minh, thái độ nghề nghiệp) và nhóm khách quan (sự lãnh đạo của cấp ủy, điều kiện phương tiện kỹ thuật, công tác bồi dưỡng tập huấn).
Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết quy trình thiết kế công cụ và quy trình triển khai nghiên cứu thực địa. Tác giả tiến hành thiết kế bảng hỏi qua hai bước thăm dò ý kiến chuyên gia và khảo nghiệm thử nghiệm trên 40 BCVCS tại Hà Nội để kiểm tra độ tin cậy và độ giá trị của thang đo.
Sau khi hoàn thiện công cụ, quá trình khảo sát chính thức được triển khai đồng bộ trên 585 khách thể tại 4 tỉnh, thành phố (Hà Nội, Bắc Ninh, TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai). Mẫu khảo sát được phân tầng theo độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn và thâm niên công tác tuyên giáo. Tác giả kết hợp thu thập định lượng (phiếu an-két) với thu thập định tính qua 50 cuộc phỏng vấn sâu, quan sát trực tiếp các buổi báo cáo thời sự tại cơ sở và phương pháp giải bài tập tình huống thực tế. Chương này cũng trình bày chi tiết thang đo 5 mức độ đánh giá kỹ năng (Kém, Yếu, Trung bình, Khá, Tốt) và quy trình xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 16.0.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu thực trạng và thực nghiệm kỹ năng tuyên truyền bằng lời tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức của báo cáo viên cơ sở
Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm và khảo sát thống kê cụ thể:
- Thực trạng chung: Đánh giá tổng hợp từ 3 nhóm khách thể (BCVCS tự đánh giá, CBTG đánh giá và người nghe đánh giá) cho thấy mức độ KNTTBL tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức của BCVCS nói chung chỉ đạt mức trung bình (ĐTB dao động quanh ngưỡng trung bình). Hiệu quả tuyên truyền cũng được ghi nhận ở mức trung bình khá.
- Thực trạng từng kỹ năng cụ thể:
- Kỹ năng thiết lập mối quan hệ đạt điểm trung bình cao nhất trong 4 kỹ năng. BCVCS thể hiện tốt ở khâu chào hỏi ban đầu và tạo sự gần gũi, nhưng kỹ năng duy trì mối quan hệ tương tác liên tục trong suốt buổi nói chuyện còn hạn chế.
- Kỹ năng quan sát đạt mức trung bình. Phần lớn BCVCS chỉ bao quát được bề mặt hội trường, chưa tinh nhạy trong việc phát hiện những biến đổi tâm lý ngầm qua ánh mắt, nét mặt của người nghe để kịp thời điều chỉnh tốc độ hoặc nội dung bài nói.
- Kỹ năng thuyết phục đạt mức điểm thấp nhất và bộc lộ nhiều khoảng trống nhất. BCVCS còn nặng về thuyết trình lý thuyết một chiều, thiếu dẫn chứng sinh động từ thực tế đời sống địa phương, lập luận chưa có tính phản biện sắc bén để giải tỏa những băn khoăn về đạo đức xã hội.
- Kỹ năng đối thoại chỉ đạt mức trung bình. Đa số buổi tuyên truyền vẫn mang tính độc thoại; BCVCS ít khi chủ động tạo tình huống tranh luận hoặc lúng túng khi nhận được các câu hỏi phản biện gai góc, phức tạp từ người nghe.
- Tương quan giữa các kỹ năng và yếu tố tác động: Phân tích thống kê chỉ ra mối tương quan thuận có ý nghĩa giữa 4 kỹ năng (Sơ đồ 3.1). Về các yếu tố chi phối, các yếu tố chủ quan (đặc biệt là động cơ tuyên truyền và sự hiểu biết sâu sắc về tư tưởng Hồ Chí Minh) có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến kỹ năng. Về yếu tố khách quan, công tác bồi dưỡng, tập huấn của tổ chức đảng đóng vai trò then chốt trong việc thay đổi mức độ thành thạo kỹ năng của BCVCS (Bảng 3.8 đến Bảng 3.15).
- Kết quả thực nghiệm tác động: Tác giả xây dựng chương trình bồi dưỡng chuyên đề và tập huấn kỹ năng thực hành cho nhóm 11 BCVCS tại Hà Nội. Kết quả kiểm tra sau thực nghiệm cho thấy điểm trung bình của cả 4 kỹ năng (thiết lập quan hệ, quan sát, thuyết phục, đối thoại) đều có sự tăng trưởng rõ rệt so với trước thực nghiệm (Biểu đồ 3.9 đến Biểu đồ 3.14), qua đó khẳng định tính khả thi của mô hình can thiệp sư phạm - tâm lý.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án chỉ ra các đóng góp mới cụ thể về mặt lý luận và thực tiễn:
Về lý luận:
- Hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về kỹ năng, tuyên truyền bằng lời dưới góc độ tâm lý học xã hội và tâm lý học chính trị.
- Xây dựng và thao tác hóa thành công khái niệm mới: “Kỹ năng tuyên truyền bằng lời tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức của báo cáo viên cơ sở”.
- Xác định cấu trúc, tiêu chí đánh giá và bảng biểu hiện cụ thể của 4 kỹ năng thành phần then chốt: thiết lập mối quan hệ, quan sát, thuyết phục và đối thoại trong hoạt động tuyên truyền miệng chính trị.
Về thực tiễn:
- Cung cấp bức tranh thực trạng toàn diện, khách quan về mức độ kỹ năng của đội ngũ BCVCS tại 4 địa bàn trọng điểm thông qua phương pháp đánh giá chéo đa chiều (báo cáo viên tự đánh giá, cán bộ quản lý tuyên giáo đánh giá và đối tượng người nghe trực tiếp đánh giá).
- Xác định rõ thứ bậc kỹ năng: kỹ năng thiết lập mối quan hệ đạt mức khá nhất, trong khi kỹ năng thuyết phục và kỹ năng đối thoại là hai khâu yếu nhất.
- Chứng minh bằng thực nghiệm rằng kỹ năng tuyên truyền bằng lời hoàn toàn có thể được cải thiện rõ rệt thông qua các biện pháp bồi dưỡng chuyên đề kết hợp rèn luyện thao tác tình huống giả định.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất từ luận án:
- Cấp ủy đảng các cấp cần đổi mới nội dung và phương thức tập huấn bồi dưỡng BCVCS, chuyển từ trang bị tri thức thuần túy sang rèn luyện kỹ năng thực hành (đặc biệt là kỹ thuật thuyết phục và nghệ thuật đối thoại hai chiều).
- Quan tâm xây dựng động cơ làm việc đúng đắn, nâng cao chế độ đãi ngộ và trang bị cơ sở vật chất, phương tiện hỗ trợ cho báo cáo viên cơ sở.
- Thường xuyên kiểm tra, đánh giá chất lượng các buổi tuyên truyền miệng thông qua việc lấy ý kiến phản hồi định kỳ từ phía người dân.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, văn bản luận án nêu rõ:
- Đề tài không thể bao quát toàn bộ hệ thống các kỹ năng tuyên truyền bằng lời mà chỉ tập trung đi sâu vào 4 kỹ năng cụ thể được xác định là cốt lõi (thiết lập mối quan hệ, quan sát, thuyết phục, đối thoại).
- Về khách thể, nghiên cứu chỉ giới hạn ở nhóm báo cáo viên thuộc cấp ủy cơ sở (xã, phường, thị trấn hoặc đơn vị tương đương), chưa mở rộng lên cấp huyện, tỉnh hay trung ương.
- Về địa bàn, diện khảo sát mới chỉ tập trung tại 4 tỉnh, thành phố lớn đại diện cho miền Bắc và miền Nam (Hà Nội, Bắc Ninh, TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai).
- Quy mô mẫu thực nghiệm tác động còn khiêm tốn (11 BCVCS trên địa bàn Hà Nội) do điều kiện tổ chức tập huấn chuyên sâu đòi hỏi thời gian và nguồn lực.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở:
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các cấp độ báo cáo viên khác trong hệ thống tuyên giáo.
- Triển khai khảo sát bổ sung tại các khu vực đặc thù như địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
- Mở rộng quy mô khách thể thực nghiệm tác động và nghiên cứu thêm các kỹ năng phụ trợ hiện đại như kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong tuyên truyền miệng.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:
- Đối với các nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Tâm lý học, Xây dựng Đảng, Tuyên giáo: Công trình là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận nghiên cứu tâm lý học liên ngành; cung cấp hệ thống công cụ đo lường chuẩn hóa, bảng danh mục biểu hiện hành vi và thang đo mức độ kỹ năng tuyên truyền miệng có thể tái sử dụng cho các nghiên cứu tiếp theo.
- Đối với ban tuyên giáo các cấp và cơ quan lãnh đạo của Đảng: Luận án cung cấp luận cứ khoa học thực chứng để xây dựng lại khung chương trình đào tạo, tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ báo cáo viên cơ sở; giúp chuyển trọng tâm từ lối truyền đạt áp đặt một chiều sang mô hình giao tiếp đối thoại, thuyết phục dựa trên tâm lý học tiếp nhận.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án lựa chọn khảo sát những kỹ năng cụ thể nào của báo cáo viên cơ sở?
Luận án không nghiên cứu toàn bộ các kỹ năng tuyên truyền mà giới hạn vào 4 kỹ năng cốt lõi: kỹ năng thiết lập mối quan hệ, kỹ năng quan sát, kỹ năng thuyết phục và kỹ năng đối thoại.
2. Khách thể khảo sát chính thức của luận án bao gồm những nhóm nào và số lượng bao nhiêu?
Khảo sát điều tra chính thức được thực hiện trên 585 khách thể, gồm: 182 báo cáo viên cơ sở, 125 cán bộ tuyên giáo cấp tỉnh, huyện (và tương đương), cùng 278 người nghe đã tham dự các buổi tuyên truyền của báo cáo viên cơ sở tại 4 địa bàn (Hà Nội, Bắc Ninh, TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai). Ngoài ra còn có 50 khách thể tham gia phỏng vấn sâu và 11 khách thể tham gia thực nghiệm.
3. Kết quả khảo sát thực trạng chỉ ra kỹ năng nào của báo cáo viên cơ sở đạt mức tốt nhất và kỹ năng nào hạn chế nhất?
Trong số 4 kỹ năng được khảo sát, kỹ năng thiết lập mối quan hệ đạt điểm trung bình cao nhất; ngược lại, kỹ năng thuyết phục đạt mức điểm thấp nhất và bộc lộ nhiều hạn chế nhất trong thực tiễn của báo cáo viên cơ sở.
4. Dữ liệu khảo sát thực tiễn của luận án được xử lý bằng công cụ nào?
Toàn bộ dữ liệu định lượng thu thập từ các phiếu điều tra bảng hỏi được nhập và phân tích thống kê toán học bằng phần mềm SPSS phiên bản 16.0.
5. Nhóm yếu tố nào được xác định là có ảnh hưởng trực tiếp và quyết định nhất tới kỹ năng tuyên truyền của báo cáo viên cơ sở?
Theo kết quả phân tích thống kê và kiểm định giả thuyết của luận án, nhóm yếu tố chủ quan đóng vai trò quyết định, trong đó các yếu tố tác động mạnh và rõ nét nhất là động cơ tuyên truyền, mức độ hiểu biết sâu sắc về tư tưởng Hồ Chí Minh và công tác bồi dưỡng, tập huấn chuyên môn.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Đinh Thị Mai là công trình khoa học chuyên ngành tâm lý học xã hội nghiên cứu có hệ thống về kỹ năng tuyên truyền bằng lời tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức của đội ngũ báo cáo viên cấp cơ sở. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu lý luận, điều tra thực tiễn trên diện rộng tại 4 tỉnh, thành phố và tiến hành thực nghiệm tác động sư phạm, luận án đã làm rõ cấu trúc 4 kỹ năng cốt lõi cùng các yếu tố tâm lý chi phối. Kết quả nghiên cứu khẳng định kỹ năng của báo cáo viên cơ sở hiện nay nhìn chung chỉ ở mức trung bình, đồng thời chỉ ra tính khả thi của mô hình bồi dưỡng kỹ năng thực hành nhằm nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền miệng trong giai đoạn hiện nay.