phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục các công trình liên quan tới luận án, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án đƣợc kết cấu theo 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lí luận nghiên cứu kỹ năng tuyên truyền bằng lời tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về đạo đức của báo cáo viên cơ sở Chƣơng 2. Tổ chức và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3. Kết quả nghiên cứu thực trạng và thực nghiệm kỹ năng tuyên truyền bằng lời tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về đạo đức của báo cáo viên cơ sở.
5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN NGHIÊN CỨU KỸ NĂNG TUYÊN TRUYỀN BẰNG LỜI TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC CỦA BÁO CÁO VIÊN CƠ SỞ 1.TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu ở nƣớc ngoài 1. Nghiên cứu về tuyên truyền, kỹ năng tuyên truyền nói chung Thuật ngữ “Tuyên truyền” (theo tiếng La tinh là Propagare, tiếng Anh là Propaganda) có nguồn gốc từ châu Âu vào năm 1622 khi Giáo hoàng La Mã XV thành lập một bộ phận đặc biệt trong Giáo hội Công giáo để có hệ thống truyền giáo lý Tin lành trên khắp thế giới. Thuật ngữ này đƣợc sử dụng với ý nghĩa gây ảnh hƣởng đến niềm tin về các vấn đề tôn giáo, đặc biệt là để phổ biến các ý tƣởng nhằm thuyết phục, lôi kéo ngƣời khác phấn đấu theo đức tin của đạo Tin lành.
Đến thế kỷ thứ XVIII, thuật ngữ “Tuyên truyền” đã trở nên phổ biến hơn khi chính phủ các nƣớc và các tổ chức chính trị, xã hội nhận thức đƣợc tầm quan trọng của nó trong việc thuyết phục quần chúng. Đặc biệt sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, ← đã trở thành chủ đề tranh luận, nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trên thế giới, nhất là ở Pháp, Mỹ, Đức, Liên Xô (cũ). Đến nay có nhiều công trình nghiên cứu lí luận và phƣơng pháp luận về TT nhƣng phần lớn mới dừng ở đặc điểm riêng biệt gắn với điều kiện chính trị, xã hội cụ thể, vì thế hiện còn thiếu vắng các nghiên cứu chuyên biệt dƣới góc độ tâm lý học về TT. Nghiên cứu TT chủ yếu bàn về bản chất, mục đích, vai trò, đặc điểm của TT trong đời sống chính trị, xã hội cụ thể nhiều hơn là chỉ ra những đặ c điểm đặc trƣng, các cơ chế tâm lý, kỹ năng với tƣ cách là những vấn đề có lý luận và phƣơng pháp luận chung từ góc độ khoa học tâm lý.
Đáng quan tâm là có sự khác biệt lớn trong tiếp cận thuật ngữ “Tuyên truyền” và KNTT ở Mỹ, Tây Âu (Đức, Pháp, Ý…) với Liên Xô (cũ) và các nƣớc Đông Âu diễn ra vào những năm đầu thế kỷ XIX. Với những nghiên cứu mà chúng tôi tiếp cận đƣợc đã cho thấy có hai hƣớng nghiên cứu cơ bản về tuyên truyền và kỹ năng tuyên truyền ở nƣớc ngoài. 6 ← Hướng thứ nhất: Tiếp cận tuyên truyền, kỹ năng tuyên truyền theo hướng điều khiển, điều chỉnh quan điểm, hành vi của người được tuyên truyền Đại diện cho hƣớng này là các nhà nghiên cứu ở Mỹ, Đức, Pháp, Ý và Tây Âu. Nhà tâm lý học ngƣời Mỹ Edward Bernays (2005) quan niệm, bản chất thuật ngữ “tuyên truyền” là lành mạnh và trong sáng nhƣng hoạt động TT thì trung tính, không xấu và không tốt, hoạt động TT xấu hay tốt phụ thuộc vào việc sử dụng những thông tin đƣợc công bố.
Bernays nhấn mạnh “Tuyên truyền chỉ trở nên xấu xa và bị khiển trách khi người ta gieo rắc một cách có ý thức và có chủ tâm những gì họ biết là nói dối hay khi họ định tác động những gì họ biết là gây tổn hại đến công chúng” [128, tr. Theo Bernays bản chất TT là sự thiết lập mối quan hệ hiểu biết lẫn nhau giữa một cá nhân và một nhóm. Đây là một hoạt động phức tạp nên không đòi hỏi một cách tuyệt đối hoá vào kết quả của nó, bởi còn phụ thuộc nhiều vào các yếu tố bên ngoài. Bernays cho rằng, TT có thể điều khiển làm thay đổi quan điểm của công chúng ở một mức độ nhất định với những cơ chế xác định, nếu các cá nhân, tổ chức TT hiểu đƣợc cơ chế, động cơ của tâm nhóm; đồng thời cần có mục tiêu và cố gắng đạt đƣợc mục tiêu thông qua sự hiểu biết chính xác về quần chúng; lựa chọn thời điểm tinh tế, thích hợp, xử lý sáng tạo trong các tình huống, biết dàn dựng những vấn đề, sự kiện có tính nổi bật để ← Theo tác giả, nhà TT cần xây dựng cơ chế kiểm soát tâm nhóm, làm cho công chúng chấp nhận cho một ý tƣởng cụ thể hoặc hàng hoá tiến hành bằng cách tập trung, lựa chọn những ngƣời có vị trí, vai trò chính trong các nhóm để tuyên truyền và thông qua họ lan truyền ý tƣởng tới các thành viên trong nhóm.
Đồng thời, nhà TT cũng phải biết thu hút sự chú ý, biết khai sáng cho công chúng thông qua các công cụ của TT. Tất cả các công cụ để chuyển tải ý tƣởng của con ngƣời với nhau đều là công cụ của TT. Vấn đề quan trọng đối với nhà TT là sử dụng công cụ nào cho hợp lý với từng đối tƣợng công chúng, bởi mỗi công cụ có giá trị tƣơng đối của nó [128]. Jacques Ellul (1965) lại cho rằng, TT là hoạt động có nhu cầu kép: nhu cầu thực hiện hoạt động TT của hệ thống cai trị và nhu cầu của ngƣời chịu ảnh hƣởng của hoạt động tuyên truyền.
Ellul cho rằng, mục đích của tuyên truyền không phải chỉ dừng ở việc thay đổi các ý tƣởng mà là khơi dậy hành động, là để khiến cá nhân trung thành một 7 cách không có lý trí vào một quá trình hành động, mất đi những sự phản ứng ngƣợc lại, là để dấy lên một hành động và một niềm tin huyền bí. Tuy nhiên, muốn đạt đƣợc mục đích đó, TT cần có điều kiện để tồn tại nhƣ: môi trƣờng xã hội có tính cá nhân và tính tập thể; có công cụ, phƣơng tiện điều khiển tâm lý, gây ảnh hƣởng tới công chúng; có các quan điểm, hệ tƣ tƣởng; có mức sống đạt tiêu chuẩn trung bình, có một nền văn hoá trung bình và có thông tin. Theo Ellul, TT cần mang tính tổng thể, phải sử dụng tất cả những phƣơng tiện, công cụ để TT nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp; phải kết hợp tuyên truyền bằng lời và hành động; phải kết hợp TT kín với công khai. TT cần tiến hành liên tục, kéo dài, không để lại một khoảng trống nào, từng giây, từng phút trong cuộc sống cá nhân, nó bao gồm những kích động liên tục, không ngắt quãng.
TT cần có tổ chức; nội dung bên trong của TT cần có sự phù hợp với tâm thế con ngƣời. Nhà TT phải biết chính xác tình cảm, quan điểm, khuynh hƣớng hiện tại và khuôn mẫu trong đám đông mà mình đang muốn tiếp cận. TT phải diễn tả những dòng chảy cơ bản của xã hội, nó phải đƣợc kết hợp với tất cả sự phát triển thuộc kinh tế, chính trị, xã hội, hành chính và giáo dục. ← phải đúng lúc, sát với thực tế.
Với những cách thức nhƣ trên, Ellul cho rằng hoạt động tuyên truyền có thể ảnh hƣởng tới tâm lý con ngƣời. TT có thể hoàn thiện nhân cách và sắp xếp các đặc điểm nhân cách của một cá nhân thành một hệ thống và làm thành khuôn mẫu. TT làm cho con ngƣời thay đổi theo những quan điểm, quan niệm đã định sẵn nhƣng nó cũng làm khơi dậy ý thức cá nhân và ý thức nhóm [134]. Đồng tình với những quan điểm của Ellul, tác giả Radal Marlin (2002) cho rằng, dù đƣợc tiếp cận ở góc độ nào thì bản chất TT vẫn là đè nén tự do, tự chủ cá nhân.
Marlin cho rằng, TT trƣớc tiên là nhằm mục đích gây ảnh hƣởng đến nhiều ngƣời ở cách tổ chức và có chủ ý. TT có thể đánh lừa đối tƣợng mục tiêu và sử dụng ảnh hƣởng tâm lý để ngăn chặn hoặc bỏ qua những suy nghĩ lý trí. Đó là sự nỗ lực của các tổ chức thông qua truyền thông ảnh hƣởng một cách sâu sắc tới niềm tin hay hành động hoặc thái độ của đông đảo các tầng lớp trong xã hội bằng cách ngăn chặn hoặc phá hoại những thông tin đầy đủ, đúng đắn tới họ. Vì thế, có vấn đề thuộc về đạo đức trong tuyên truyền chính là đã sử dụng thông tin sai lệch để tạo tình cảm và gây áp lực tâm lý đối với nhiều ngƣời, là sự thiếu dân chủ, áp đặt thông tin tới công chúng.
TT sẽ trở nên tốt đẹp nếu nó mang tới cá nhân trong xã hội những thông tin đầy đủ, chính xác, không ngăn chặn hoặc làm sai lệch thông tin [138]. 8 Richard Alan Nelson (1996) đã thể hiện sự nhất trí với quan điểm của Marlin khi cho rằng, TT là ngăn chặn hoặc phá huỷ thông tin. Tuy nhiên, Nelson nhấn mạnh vào tính hệ thống, tính mục đích và phƣơng tiện của TT đó là nỗ lực gây ảnh hƣởng đến cảm xúc, thái độ, quan điểm và hành động của đối tƣợng vì mục tiêu chính trị cụ thể hay mục đích thƣơng mại bằng cách kiểm soát thông điệp trên các phƣơng tiện truyền thông đại chúng và các kênh TT trực tiếp…Theo Nelson, sự thành công của TT nhờ vào khả năng huy động các lực lƣợng, phƣơng tiện để gây ảnh hƣởng tới mọi ngƣời trong xã hội. Nhƣng quan trọng nhất là phải kiểm soát các luồng thông tin tới cá nhân, nhóm xã hội, nhà TT phải làm cho những thông tin đó phù hợp với mục đích của TT [139].
Cũng đồng tình với quan điểm cho rằng, TT là điều khiển, điều chỉnh quan điểm, hành vi của ngƣời đƣợc TT để họ chấp nhận quan điểm của nhà TT một cách vô thức nhƣng hai tác giả Garth S.Jowett và Vitoria O’. Donnell (2008) đã xem xét tuyên truyền và các kỹ thuật TT ở một góc độ tích cực hơn. Theo họ, TT là hoạt động chủ ý, tác động gây ảnh hƣởng đến nhận thức, thái độ và hành vi của con ngƣời. Hoạt động này vì lợi ích của nhà TT nhƣng trong đó cũng có một chút ít của ngƣời đƣợc TT.
Các tác giả đã xem xét TT trong mối quan hệ với phƣơng tiện truyền thông đại chúng, với quảng cáo, với thuyết phục. Họ cho rằng, TT và cách thức tiến hành nó cũng nhƣ truyền thông nhƣng phức tạp và bao quát hơn. Truyền thông chỉ là một cách thức của TT và ở đó diễn ra sự truyền đạt thông tin theo một chủ đề nhất định để thúc đẩy sự hƣởng ứng tự giác theo ý muốn của ngƣời truyền thông.