Mở đầu là cuộc cách mạng Tân Hợi (1911) ở Trung Quốc, phong trào Duy Tân ở Nhật Bản và các phong trào đấu tranh của các nước thuộc địa ở Châu Âu. Tiến đến là thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, là cuộc cách mạng thành công làm xuất hiện nhà nước chủ nghĩa xã hội đầu tiên ở Liên Xô và Quốc tế cộng sản ra đời năm 1919, đã cổ vũ mạnh mẽ cho các phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới, đặc biệt là ở Việt Nam. Cách mạng tháng Mười đã cổ vũ mạnh mẽ cho phong trào yêu nước của châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh. Hàng loạt các tổ chức Đảng được thành lập, phong trào yêu nước ở Trung Quốc, Nhật Bản nổ ra và ảnh hướng lớn đến cách mạng Việt Nam.
Sau chiến tranh Thế giới thứ hai (1939 – 1945) hàng loạt quốc gia thuộc địa giành được chính quyền và đi lên chủ nghĩa xã hội như Việt Nam, Trung Quốc, Cu Ba,… 13 Vậy, chủ nghĩa Mác – Lênin và cách mạng tháng Mười Nga đã tác động sâu sắc đến tư tưởng, trí tuệ và nhân cách của Hồ Chí Minh, từ người yêu nước trở thành người cộng sản, chuyển từ đạo đức truyền thống đến đạo đức mới. Qua đó làm cơ sở khoa học cho sự tích hợp giữa các nền văn hóa thế giới và vận dụng hài hòa vào bản thân. Người đã xây dựng và để lại giá trị sâu sắc, một nền tư tưởng vĩ đại: đạo đức Hồ Chí Minh. Tiền đề lý luận hình thành tư tưởng đạo đức Hồ Chí Mình về trung – hiếu Giá trị truyền thống đạo đức Việt Nam về trung – hiếu Giá trị truyền thống Việt Nam được hun đúc qua mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, từ thời Hùng Vương đến nay đã trở thành nét văn hóa riêng của người Việt.
Giá trị truyền thống Việt Nam thể hiện qua những câu ca dao, tục ngữ: Một miếng khi đói, một gói khi no; Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn,…đã đúc kết nên những đức tính: yêu nước thương dân, nhân, nghĩa, trí, dũng và coi trọng tình làng nghĩa xóm,… và nó trở thành nền tảng đạo đức của xã hội Việt Nam. Trong đó lòng yêu nước - thương dân thể hiện qua hai phạm trù trung – hiếu với hai cấp độ: tiểu hiếu và đại hiếu. Đạo hiếu của người Việt Nam chịu ảnh hưởng nhiều của đạo đức Nho giáo, song đạo hiếu ở Việt Nam lại có những sắc thái độc đáo riêng, không hà khắc và cứng nhắc như trong quan niệm của Nho giáo. Ngay cả những người thuộc tầng lớp Nho sĩ, họ cũng tiếp biến đạo hiếu phù hợp với truyền thống, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở nước ta.
Hiếu ở Việt Nam là sự kết tinh của Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo và Thiên chúa giáo, do đó hiếu Việt Nam hiểu rộng hơn các quan điểm trước đó. Vì vậy Đạo hiếu được đạt đến hành động chứ không chỉ ở tư tưởng và lý luận, thể hiện rất rõ trong tục thờ cúng tổ tiên. Do đó, đạo hiếu Việt Nam không chỉ thể hiện tâm linh 14 của con người mà còn xây dựng nên chuẩn mực đạo đức xã hội, là giá trị thiêng liêng nhất trong truyền thống Việt Nam. Một là tiểu hiếu, có nghĩa là hiếu với tổ tiên, ông bà, cha mẹ, với những người trong gia đình.
Hiếu với tổ tiên, ông bà thể hiện qua tục thờ cúng tổ tiên. Hiếu là tưởng nhớ và tri ân tổ tiên, ông bà nhằm nhắc đến nguồn gốc tổ tiên như ca dao Việt Nam có ghi: “Con người có cố, có ông; Như cây có cội, như sông có nguồn”[102, 275]. Hay còn nhớ đến công đức của ông bà “Ngó lên nuộc lạt mái nhà, bao nhiêu nuộc lạt, nhớ ông bà bấy nhiêu [175]. Tình cảm giữa thế hệ trước và thế hệ sau không hề mất đi vì tổ tiên là tấm gương cho thế hệ sau tiếp nối như trong câu “Tổ tông tôn đức thiên niên thịnh.
Tử hiếu tôn hiền vạn đại xương”[102, 68]. Cho nên tổ tiên làm điều phước lành để con cháu được hưởng phúc. Quan niệm này có phần khác với Thiên chúa giáo, người hiếu với cha mẹ sẽ được Chúa ban phước lành. Do đó quan niệm hiếu ở phương Tây không mang tính gia tộc như ở hiếu Việt Nam.
Hiếu với cha mẹ không chỉ chăm nom mà còn kính trọng, đem lại điều tốt lành cho cha mẹ. Hiếu với cha mẹ thể hiện qua các câu ca dao, tục ngữ như sau: “Mẹ già ở túp liều tranh, sớm thăm, tối viếng mới đành dạ con”[102, 275] hay “Đói lòng ăn đọt chà là, để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng”[102, 276] và “Tôm rằm lột vỏ bỏ đuôi, gạo lúa nhe An Cựu mà nuôi mẹ già” [102, 279]. Bên cạnh đó còn thấy được công lao của cha mẹ như biển hồ lay láng: “Công cha như núi Thái Sơn, Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Một lòng thờ mẹ kính cha, Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con” [102, 278].
Do đó hiếu với cha mẹ là phải kính, khi cha mẹ làm trái cũng dùng lễ mà khuyên răn đồng thời còn phải nuối chí theo cha mẹ. Ngoài ra trong ca dao tục ngữ cũng phê phán tội bất hiếu, ngỗ nghịch của người con và sự mất mát của người con khi cha mẹ không còn: “Cá chẳng 15 ăn muối cá ươn, con cãi cha mẹ trăm đường con hư”[102, 274]. Hay “Mẹ nuôi con biển hồ lai láng. Con nuôi mẹ con kể tháng kể ngày”[102, 276] hoặc “Còn cha, gót đỏ như son, Đến khi cha mất, gót son đen sì”[102, 275] và “Lên non mới biết non cao.
Nuôi con mới biết công lao mẫu từ”[102, 276]. Do đó lòng hiếu thảo là thiêng liêng nhất, tự nhiên nhất. Ai hiếu thảo với cha mẹ cũng được hưởng những điều phúc lành. Qua đó xuất hiện nhiều tấm gương hiếu thảo trong lịch sử Việt Nam: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu,… và lòng hiếu thảo của Lê Thánh Tông hiếu với mẹ: Đại Việt sử ký toàn thư có ghi lại: “Khi Hoàng thái hậu chưa băng, mùa đông, vua cùng Hoàng thái tử ngày đêm chăm sóc, không lúc nào rời bên cạnh.
Khi dâng thuốc hay đồ ăn, vua nhất định tụ mình nếm trước; trong thì kêu với tổ tiên, ngoài thì dốc lòng cầu khẩn, không thần nào là không khẩn. Đến khi hấp hối cũng tự kêu gào, Thái hậu còn nhếch mép một chút, muốn nói để từ giã. Mọi việc mặc áo, khâm liệm, bỏ gạo vào miệng người chết, vua đều tự làm lấy cả để tỏ lòng đau xót” [50, 514]. Hay vua Tự Đức là nổi tiếng hiếu thảo với Bà Từ Dũ.
Trong Đạo nghĩa gia đình có nêu: Trong lần đi săn, quên báo cho Bà Từ Dũ biết, đến khi mưa to, bà cho quan quân đi tìm về, nghe rằng mẹ triệu, vua Tự Đức lên kiệu về thẳng cung Gia Thọ lạy xin chịu lỗi với mẹ. Bà Từ Dũ giận không nói gì, vua Tự Đức liền lấy một cây roi đặt lên ghế tràng kỷ và nằm đợi bà bắt phạt, nhưng bà không đánh mà dạy rằng “có một mẹ một con, con đi đâu lâu, thời mẹ trong đợi lắm. Sao không báo cho mẹ hay trước? Thôi tha cho, đi chơi để quan quân cực khổ thì phải ban thưởng cho người ta”[106, 162- 163]. Bên cạnh đó còn có Lục Vân Tiên trong tác phẩm “Lục Vân Tiên – Kiều Nguyệt Nga” của Nguyễn Đình Chiểu.
Khi nghe mẹ mất, Lục Vân Tiên đã khóc thương tiếc đến khi mắt bị mù lòa. 16 “Hai hàng lụy ngọc ròng ròng Tưởng bao nhiêu lại đau lòng bấy nhiêu Cánh buồm bao quản gió xiêu, Ngàn trùng biển rộng, chín chìu ruột đau. Thương thay chín chữ cù lao. Ba năm nhũ bộ biết bao nhiêu tình”[106, 69] Vậy hiếu với cha mẹ là chăm nom, thăm viếng mỗi ngày, phải vâng lời cha mẹ, khi cha mẹ sai trái thì nhẹ nhàng khuyên răn.
Do đó hiếu được xem là đức tính đầu tiên của điều thiện:“Làm trai nết đủ trăm đường; Trước tiên điều hiếu đạo thường xưa nay”[102, 279]. Ngoài ra lòng hiếu thảo không phân biệt trai hay gái, già hay trẻ mà lòng hiếu thảo luôn thể hiện ở hết thảy mọi người. Như lòng hiếu thảo của nàng Thúy Kiều trong Truyện Kiều của Nguyễn Du. Nàng đã chấp nhận bán mình để chuộc cha ra khỏi nhà lao.
“Quyết tình nàng mới hạ tình Dẽ cho để thiếp bán mình chuộc cha”[1, 45] Hiếu ở Việt Nam rộng hơn ở Nho giáo là hiếu với đầy đủ cả cha lẫn mẹ, mang tính hai chiều không phân biệt trai hay gái như thời kỳ Nho giáo cực đoan. Hiếu ở Việt Nam ca ngợi tình yêu thương của cha mẹ đối với con cái như núi Thái Sơn nên sự báo hiếu là hiển nhiên. Ca dao có nêu:“Thờ cha mẹ, ở hết lòng, Ấy là chữ hiếu đạo, dạy trong luân thường”[102, 278]. Do đó hiếu với cha mẹ không chỉ chăm lo, kính trọng cha mẹ mà còn hiếu với quốc gia.
Hai là đại hiếu, có nghĩa là hiếu với quốc gia, với vua với điều kiện vua phải trung thành với dân, với nước. Đó là lòng yêu nước thương dân được đúc kết thành tình cảm thiêng liêng của dân tộc nâng lên chủ nghĩa yêu nước. 17 Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đã được thử thách qua quá trình lịch sử. Trong tiềm thức mỗi người dân Việt Nam, dù thuộc tộc người đa số hay thiểu số, đều chứa đựng tình yêu quê hương đất nước nồng nàn kết tinh thành ý thức của dân với nước, được thể hiện sinh động trong mối quan hệ gắn bó hữu cơ của thiết chế Gia đình - Làng - Nước, thành sắc thái độc đáo của văn hoá Việt Nam.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng ngợi ca truyền thống yêu nước của nhân dân Việt Nam: "Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi sục, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước"[85, 171]. Lòng yêu nước, tình cảm gắn bó máu thịt và trách nhiệm của "con dân" với Nước đã đúc kết thành truyền thống và hơn thế trở thành chủ nghĩa yêu nước Việt Nam.
Một đánh giá rất có sức thuyết phục mang tính khoa học - thực tiễn phản ánh tính quy luật hình thành chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là truyền thống yêu nước của người Việt Nam.