Tư Tưởng Đạo Đức Hồ Chí Minh Về Trung - Hiếu Và Giáo Dục Đạo Đức Người Việt Nam

Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh về trung hiếu và ý nghĩa trong giáo dục đạo đức con người Việt Nam hiện nay. Khám phá giá trị và ứng dụng.

Chuyên ngành

Triết học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

126
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Tư Tưởng Đạo Đức Hồ Chí Minh Về Trung Hiếu

Đạo đức xã hội là nền tảng văn hóa của mỗi quốc gia dân tộc. Đạo đức gắn liền với con người, là gốc của con người, được thể hiện qua thái độ và hành vi của họ. Người có đạo đức thì luôn hoàn thành tốt công việc được giao, góp phần làm giàu cho quê hương đất nước, biết hy sinh cái nhỏ cho cái lớn và hy sinh lợi ích cá nhân cho lợi ích xã hội. Thông qua đó đánh giá nhân cách, giáo dục và hoàn thiện con người. Trong sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực cho công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, để đảm bảo thực hiện mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" thì tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là kim chỉ nam cho việc đào tạo con người, bởi đạo đức là gốc của người cách mạng và được gắn liền với tài năng. Do đó, người có tài thì phải gắn với đức và ngược lại, người có đức thì phải đi đôi với tài năng. Hồ Chí Minh khẳng định: “Tài và đức đi đôi với nhau, nếu có tài mà không có đức thì không hoàn thành nhiệm vụ được giao” hoặc nếu có đức mà không có tài cũng như Ông Bụt ngồi trong Chùa mặc dù không hại ai nhưng cũng không làm lợi cho loài người mà thực tế đã chứng minh.

1.1. Vai Trò Của Đạo Đức Trong Sự Phát Triển Xã Hội

Đạo đức đóng vai trò then chốt trong việc định hình xã hội và con người. Nó không chỉ là những quy tắc ứng xử mà còn là nền tảng cho sự phát triển bền vững. Một xã hội có đạo đức là một xã hội công bằng, văn minh, nơi mọi người tôn trọng lẫn nhau và cùng nhau xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn. Giá trị đạo đức Hồ Chí Minh là kim chỉ nam cho sự phát triển này.

1.2. Mối Quan Hệ Giữa Tài Năng Và Đạo Đức Theo Hồ Chí Minh

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, tài năng và đạo đức là hai yếu tố không thể tách rời. Người có tài mà không có đức thì dễ sa vào con đường sai trái, gây hại cho xã hội. Ngược lại, người có đức mà không có tài thì khó có thể đóng góp hiệu quả cho sự phát triển của đất nước. Sự kết hợp giữa tài và đức là điều kiện tiên quyết để xây dựng một xã hội phồn vinh.

II. Bối Cảnh Hình Thành Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Trung Hiếu

Cuối thế kỷ XIX, Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp và chịu sự ảnh hưởng tuyệt đối của Pháp trên các mặt của đời sống xã hội: kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, xã hội,… Về chính trị, chúng chia Việt Nam ra thành ba khu vực (Bắc, Trung, Nam) với ba chính sách cai trị khác nhau, và cùng mục đích đẩy dân ta đến cuộc sống bần hàn, làm nô lệ cho chúng. Chúng xây dựng ở nước ta bộ máy cai trị khắc nghiệt, thiết lập hệ thống quân sự, cảnh sát, tòa án và nhà tù hết sức nghiêm ngặt. Chúng dùng phương pháp “dùng người Việt trị người Việt”, và “Lấy binh lính thuộc địa bảo vệ thuộc địa”nhằm tạo ra tập đoàn tay sai rộng lớn cùng với nhà cầm quyền của chúng đàn áp, bóc lột nhân dân và những cuộc cách mạng nỗi dậy chống lại chúng. Chúng còn dùng nhiều thủ đoạn để thui chột tinh thần đấu tranh của nhân dân. Do đó hệ thống tòa án, nhà tù thực dân Pháp lập ra dày đặc khắp Việt Nam, nhà tù, đại lý rượu bia nhiều hơn trường học. Ngoài ra, chúng còn cho phép nhà cầm quyền của chúng giết hại đồng bào ta. Hồ Chí Minh viết: “Khi hỏi cung tù nhân, quan công sứ thường lấy thanh gươm đâm vào đùi họ…” và “một lần khác, có mấy người lính khố xanh làm trái ý ông ta, ông ta bèn cho đem chôn họ đến tận cổ, mãi đến khi họ ngắc ngoải mới cho moi lên”.

2.1. Ảnh Hưởng Của Chế Độ Thực Dân Pháp Đến Đạo Đức Xã Hội

Chế độ thực dân Pháp không chỉ bóc lột về kinh tế mà còn gây ra những tác động tiêu cực đến đạo đức xã hội Việt Nam. Chính sách ngu dân, mị dân, cùng với sự du nhập của lối sống trụy lạc, đã làm xói mòn những giá trị đạo đức truyền thống. Tư tưởng Hồ Chí Minh ra đời như một sự phản kháng mạnh mẽ trước tình trạng này.

2.2. Vai Trò Của Văn Hóa Truyền Thống Trong Tư Tưởng Hồ Chí Minh

Mặc dù chịu ảnh hưởng của văn hóa phương Tây, Hồ Chí Minh vẫn luôn đề cao vai trò của văn hóa truyền thống Việt Nam. Những giá trị như yêu nước, thương dân, cần cù, hiếu học... là nền tảng cho tư tưởng đạo đức của Người. Trung hiếu trong văn hóa Việt Nam được Người kế thừa và phát triển.

III. Nội Dung Cốt Lõi Tư Tưởng Đạo Đức Hồ Chí Minh Về Trung Hiếu

Về kinh tế, bọn chúng ra sức khai thác thuộc địa, làm đời sống của người dân Việt Nam bị biến động sâu sắc, sự phân hóa giai cấp trong xã hội mạnh mẽ, xuất hiện những từng lớp dân cư mới, gia cấp tư sản và tiểu tư sản ra đời, tăng thêm lực lượng tay sai cho chúng. Trong điều kiện đó, đời sống của nông dân và công dân bị bần cùng hóa, bị bóc lột đến xương tủy với hàng trăm thứ thuế khắc nghiệt: thuế đất, thuế thân, thuế chợ, thuế muối,… Bọn thực dân Pháp còn ra sức bóc lột và đàn áp nhân dân ta. Chúng cướp bóc ruộng đất để lập ra nhiều đồn điền, xí nghiệp, nhà máy dẫn đến mất ruộng đất, làm cho cuộc sống nhân dân ngày càng điêu đứng. Chúng sản xuất rượu, bia và thuốc phiện nhằm biến dân ta thành con nghiện tiêu thụ hàng hóa của chúng, đánh mất sức chiến đấu của nhân dân để chúng dễ bề nô dịch. Chúng tăng cường bóc lột nhân dân ta, vơ vét của cải ở Việt Nam về làm giàu cho chính quốc gia chúng.

3.1. Quan Niệm Của Hồ Chí Minh Về Trung Với Nước Hiếu Với Dân

Tư tưởng Hồ Chí Minh về trung với nước, hiếu với dân không phải là sự kế thừa một cách máy móc những quan niệm truyền thống, mà là sự phát triển sáng tạo, phù hợp với điều kiện lịch sử mới. Trung không phải là trung với vua, mà là trung với Tổ quốc, với nhân dân. Hiếu không phải là hiếu với cha mẹ một cách mù quáng, mà là hiếu với dân tộc, với đồng bào.

3.2. Mối Quan Hệ Biện Chứng Giữa Trung Và Hiếu Trong Tư Tưởng Hồ Chí Minh

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, trung và hiếu có mối quan hệ biện chứng, thống nhất. Trung với nước là tiền đề để hiếu với dân. Hiếu với dân là biểu hiện cụ thể của trung với nước. Người yêu nước phải thương dân, người thương dân phải yêu nước. Đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh thể hiện rõ điều này.

3.3. Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Cần Kiệm Liêm Chính Chí Công Vô Tư

Ngoài trung hiếu, tư tưởng Hồ Chí Minh còn đề cao các phẩm chất đạo đức khác như cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Đây là những phẩm chất cần thiết để xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là trách nhiệm của mỗi người dân Việt Nam.

IV. Ý Nghĩa Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Trung Hiếu Với Giáo Dục

Về văn hóa, chúng dùng chính sách ngu dân, mị dân nhằm làm cho dân ta mù chữ để chúng dễ bề cai trị. Xã hội lúc bấy giờ có hơn 95% dân số bị mù chữ. Chúng cấm dân ta mở trường lớp dạy học và sản xuất rượu bia. Nhưng chúng mở trường lớp để đào tạo lực lượng tay sai làm việc cho chúng, mở ra nhiều đại lý rượu bia và nhà tù để đầu độc, đàn áp người Việt Nam yêu nước. Chúng đưa văn hóa tư sản tràn vào nước ta với những lối sống trụy lạc, gian xảo,. làm băng hoại đạo đức xã hội và làm mất vai trò của văn hóa truyền thống. Nhưng đứng trước âm mưu và tội ác của chúng, văn học Việt Nam lúc bấy giờ xuất hiện nhiều tác phẩm văn học nhằm tố cáo tội ác của bọn thực dân và tay sai, phản ánh đời sống cùng cực của nhân dân ta.

4.1. Vận Dụng Tư Tưởng Hồ Chí Minh Vào Giáo Dục Đạo Đức Hiện Nay

Trong bối cảnh xã hội hiện nay, việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về trung hiếu vào giáo dục đạo đức là vô cùng quan trọng. Cần đổi mới phương pháp giáo dục, tăng cường tính thực tiễn, gắn lý thuyết với thực hành, giúp học sinh, sinh viên hiểu rõ và thấm nhuần những giá trị đạo đức cao đẹp.

4.2. Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Giáo Dục Đạo Đức Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh

Để nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức theo tư tưởng Hồ Chí Minh, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và xã hội. Cần xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, tạo điều kiện cho học sinh, sinh viên rèn luyện đạo đức, lối sống. Giáo dục đạo đức cho thanh niên là nhiệm vụ cấp bách hiện nay.

4.3. Vai Trò Của Gia Đình Trong Giáo Dục Đạo Đức Trung Hiếu

Gia đình đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách và đạo đức của con người. Cha mẹ cần làm gương cho con cái, dạy dỗ con cái những điều hay lẽ phải, giúp con cái hiểu rõ và thực hành những giá trị đạo đức truyền thống. Trung hiếu trong gia đình là nền tảng cho sự phát triển của xã hội.

V. Thực Trạng Và Giải Pháp Giáo Dục Đạo Đức Theo Hồ Chí Minh

Lên án sự dối trá của bọn Pháp về sự khai hóa: chúng lên tiếng đòi “tự do, dân chủ, bình đẳng và bác ái” nhưng không phải cho nhân dân Việt Nam mà cho chính bọn cầm quyền. Chúng hùng hồn nêu lên “nhân quyền, dân quyền” mà chúng lại cướp mất quyền dân chủ của nhân dân ta. Chúng sống sung sướng giàu có mà làm dân ta nghèo nàn. Chúng văn minh mà làm dân ta dốt nát,… Chính chúng là những kẻ tham lam, man rợ và mất tính người. Chúng mở ra nhiều đại lý rượu bia bắt dân ta phải mua, phải uống. Chúng đầu độc dân ta bằng rượu cồn và thuốc phiện. Trong tác phẩm “10 trường học – 1500 đại lý rượu kẻ đầu độc người bản xứ”, Hồ Chí Minh lên án tội ác của chúng. Người viết: “Tôi trân trọng yêu cầu ông hết sức giúp đỡ Nha thương chính đặt thêm đại lý thuốc phiện và rượu, theo chỉ thị của ông Tổng giám đốc Nha thương chính Đông Dương… Tới nay phần đông các xã này vẫn hoàn toàn chưa có rượu và thuốc phiện… Làm cho một số tiểu thương người bản xứ thấy rằng buôn thêm rượu và thuốc phiện là rất có lợi”.

5.1. Phân Tích Thực Trạng Đạo Đức Xã Hội Việt Nam Hiện Nay

Hiện nay, đạo đức xã hội Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức. Tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống thực dụng, ích kỷ, vô cảm... đang diễn ra ở một bộ phận không nhỏ trong xã hội. Cần có những giải pháp đồng bộ để khắc phục tình trạng này. Vai trò của đạo đức trong xã hội cần được khẳng định.

5.2. Các Giải Pháp Cụ Thể Để Cải Thiện Đạo Đức Xã Hội

Để cải thiện đạo đức xã hội, cần tăng cường giáo dục đạo đức, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phát huy vai trò của các tổ chức xã hội, xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm đạo đức. Ảnh hưởng của tư tưởng Hồ Chí Minh cần được lan tỏa rộng rãi.

5.3. Phát Huy Vai Trò Của Đảng Trong Xây Dựng Đạo Đức Xã Hội

Đảng Cộng sản Việt Nam đóng vai trò lãnh đạo trong công cuộc xây dựng đạo đức xã hội. Đảng cần tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên, làm gương cho quần chúng nhân dân. Tư tưởng Hồ Chí Minh và xây dựng Đảng có mối quan hệ mật thiết.

VI. Kết Luận Về Tư Tưởng Đạo Đức Hồ Chí Minh Về Trung Hiếu

Đứng trước sự bóc lột hà khắc và lừa đảo của bọn thực dân Pháp cùng với sự nhu nhược, bù nhìn của chính quyền tay sai Nhà Nguyễn, dân tộc Việt Nam cần nêu cao ngọn cờ yêu nước. Do đó vấn đề kinh tế, chính trị thế giới đã và đang tác động mạnh mẽ đến đạo đức con người Việt Nam. Trước những biến động về kinh tế và chính trị trong nước và trên thế giới, đòi hỏi mỗi người dân Việt Nam nêu cao tinh thần yêu nước, quyết tâm bảo vệ vùng biển thiêng liêng của Tổ quốc, giữ vững bản sắc dân tộc và góp phần khắc phục những tiêu cực, mặt trái của toàn cầu hóa, kinh tế thị trường và những tư tưởng lạc hậu, lỗi thời của văn hóa cũ. Cùng với sự băn khoăn của xã hội, tác giả cũng muốn đóng góp một phần nhỏ trong công trình nghiên cứu, tìm kiếm cơ sở và biện pháp khắc phục những suy thoái đạo đức xã hội hiện nay, do đó tác giả đã chọn đề tài“Tư tưởng Đạo đức Hồ Chí Minh về trung – hiếu và ý nghĩa của nó đối với việc giáo dục đạo đức con người Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.

6.1. Giá Trị Vượt Thời Gian Của Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đạo Đức

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức có giá trị vượt thời gian, vẫn còn nguyên giá trị trong bối cảnh hiện nay. Những giá trị như yêu nước, thương dân, cần, kiệm, liêm, chính... là những giá trị永恒, cần được gìn giữ và phát huy.

6.2. Định Hướng Phát Triển Giáo Dục Đạo Đức Trong Tương Lai

Trong tương lai, giáo dục đạo đức cần tiếp tục đổi mới, sáng tạo, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội mới. Cần chú trọng giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ, giúp họ trở thành những công dân tốt, có ích cho xã hội. Tư tưởng Hồ Chí Minh và phát triển đất nước là mục tiêu cao cả.

05/06/2025
Tư tưởng đạo đức hồ chí minh về trung hiếu và ý nghĩa của nó đối với việc giáo dục đạo đức con người việt nam hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu là cuộc cách mạng Tân Hợi (1911) ở Trung Quốc, phong trào Duy Tân ở Nhật Bản và các phong trào đấu tranh của các nước thuộc địa ở Châu Âu. Tiến đến là thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, là cuộc cách mạng thành công làm xuất hiện nhà nước chủ nghĩa xã hội đầu tiên ở Liên Xô và Quốc tế cộng sản ra đời năm 1919, đã cổ vũ mạnh mẽ cho các phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới, đặc biệt là ở Việt Nam. Cách mạng tháng Mười đã cổ vũ mạnh mẽ cho phong trào yêu nước của châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh. Hàng loạt các tổ chức Đảng được thành lập, phong trào yêu nước ở Trung Quốc, Nhật Bản nổ ra và ảnh hướng lớn đến cách mạng Việt Nam.

Sau chiến tranh Thế giới thứ hai (1939 – 1945) hàng loạt quốc gia thuộc địa giành được chính quyền và đi lên chủ nghĩa xã hội như Việt Nam, Trung Quốc, Cu Ba,… 13 Vậy, chủ nghĩa Mác – Lênin và cách mạng tháng Mười Nga đã tác động sâu sắc đến tư tưởng, trí tuệ và nhân cách của Hồ Chí Minh, từ người yêu nước trở thành người cộng sản, chuyển từ đạo đức truyền thống đến đạo đức mới. Qua đó làm cơ sở khoa học cho sự tích hợp giữa các nền văn hóa thế giới và vận dụng hài hòa vào bản thân. Người đã xây dựng và để lại giá trị sâu sắc, một nền tư tưởng vĩ đại: đạo đức Hồ Chí Minh. Tiền đề lý luận hình thành tư tưởng đạo đức Hồ Chí Mình về trung – hiếu Giá trị truyền thống đạo đức Việt Nam về trung – hiếu Giá trị truyền thống Việt Nam được hun đúc qua mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, từ thời Hùng Vương đến nay đã trở thành nét văn hóa riêng của người Việt.

Giá trị truyền thống Việt Nam thể hiện qua những câu ca dao, tục ngữ: Một miếng khi đói, một gói khi no; Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn,…đã đúc kết nên những đức tính: yêu nước thương dân, nhân, nghĩa, trí, dũng và coi trọng tình làng nghĩa xóm,… và nó trở thành nền tảng đạo đức của xã hội Việt Nam. Trong đó lòng yêu nước - thương dân thể hiện qua hai phạm trù trung – hiếu với hai cấp độ: tiểu hiếu và đại hiếu. Đạo hiếu của người Việt Nam chịu ảnh hưởng nhiều của đạo đức Nho giáo, song đạo hiếu ở Việt Nam lại có những sắc thái độc đáo riêng, không hà khắc và cứng nhắc như trong quan niệm của Nho giáo. Ngay cả những người thuộc tầng lớp Nho sĩ, họ cũng tiếp biến đạo hiếu phù hợp với truyền thống, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở nước ta.

Hiếu ở Việt Nam là sự kết tinh của Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo và Thiên chúa giáo, do đó hiếu Việt Nam hiểu rộng hơn các quan điểm trước đó. Vì vậy Đạo hiếu được đạt đến hành động chứ không chỉ ở tư tưởng và lý luận, thể hiện rất rõ trong tục thờ cúng tổ tiên. Do đó, đạo hiếu Việt Nam không chỉ thể hiện tâm linh 14 của con người mà còn xây dựng nên chuẩn mực đạo đức xã hội, là giá trị thiêng liêng nhất trong truyền thống Việt Nam. Một là tiểu hiếu, có nghĩa là hiếu với tổ tiên, ông bà, cha mẹ, với những người trong gia đình.

Hiếu với tổ tiên, ông bà thể hiện qua tục thờ cúng tổ tiên. Hiếu là tưởng nhớ và tri ân tổ tiên, ông bà nhằm nhắc đến nguồn gốc tổ tiên như ca dao Việt Nam có ghi: “Con người có cố, có ông; Như cây có cội, như sông có nguồn”[102, 275]. Hay còn nhớ đến công đức của ông bà “Ngó lên nuộc lạt mái nhà, bao nhiêu nuộc lạt, nhớ ông bà bấy nhiêu [175]. Tình cảm giữa thế hệ trước và thế hệ sau không hề mất đi vì tổ tiên là tấm gương cho thế hệ sau tiếp nối như trong câu “Tổ tông tôn đức thiên niên thịnh.

Tử hiếu tôn hiền vạn đại xương”[102, 68]. Cho nên tổ tiên làm điều phước lành để con cháu được hưởng phúc. Quan niệm này có phần khác với Thiên chúa giáo, người hiếu với cha mẹ sẽ được Chúa ban phước lành. Do đó quan niệm hiếu ở phương Tây không mang tính gia tộc như ở hiếu Việt Nam.

Hiếu với cha mẹ không chỉ chăm nom mà còn kính trọng, đem lại điều tốt lành cho cha mẹ. Hiếu với cha mẹ thể hiện qua các câu ca dao, tục ngữ như sau: “Mẹ già ở túp liều tranh, sớm thăm, tối viếng mới đành dạ con”[102, 275] hay “Đói lòng ăn đọt chà là, để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng”[102, 276] và “Tôm rằm lột vỏ bỏ đuôi, gạo lúa nhe An Cựu mà nuôi mẹ già” [102, 279]. Bên cạnh đó còn thấy được công lao của cha mẹ như biển hồ lay láng: “Công cha như núi Thái Sơn, Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Một lòng thờ mẹ kính cha, Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con” [102, 278].

Do đó hiếu với cha mẹ là phải kính, khi cha mẹ làm trái cũng dùng lễ mà khuyên răn đồng thời còn phải nuối chí theo cha mẹ. Ngoài ra trong ca dao tục ngữ cũng phê phán tội bất hiếu, ngỗ nghịch của người con và sự mất mát của người con khi cha mẹ không còn: “Cá chẳng 15 ăn muối cá ươn, con cãi cha mẹ trăm đường con hư”[102, 274]. Hay “Mẹ nuôi con biển hồ lai láng. Con nuôi mẹ con kể tháng kể ngày”[102, 276] hoặc “Còn cha, gót đỏ như son, Đến khi cha mất, gót son đen sì”[102, 275] và “Lên non mới biết non cao.

Nuôi con mới biết công lao mẫu từ”[102, 276]. Do đó lòng hiếu thảo là thiêng liêng nhất, tự nhiên nhất. Ai hiếu thảo với cha mẹ cũng được hưởng những điều phúc lành. Qua đó xuất hiện nhiều tấm gương hiếu thảo trong lịch sử Việt Nam: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu,… và lòng hiếu thảo của Lê Thánh Tông hiếu với mẹ: Đại Việt sử ký toàn thư có ghi lại: “Khi Hoàng thái hậu chưa băng, mùa đông, vua cùng Hoàng thái tử ngày đêm chăm sóc, không lúc nào rời bên cạnh.

Khi dâng thuốc hay đồ ăn, vua nhất định tụ mình nếm trước; trong thì kêu với tổ tiên, ngoài thì dốc lòng cầu khẩn, không thần nào là không khẩn. Đến khi hấp hối cũng tự kêu gào, Thái hậu còn nhếch mép một chút, muốn nói để từ giã. Mọi việc mặc áo, khâm liệm, bỏ gạo vào miệng người chết, vua đều tự làm lấy cả để tỏ lòng đau xót” [50, 514]. Hay vua Tự Đức là nổi tiếng hiếu thảo với Bà Từ Dũ.

Trong Đạo nghĩa gia đình có nêu: Trong lần đi săn, quên báo cho Bà Từ Dũ biết, đến khi mưa to, bà cho quan quân đi tìm về, nghe rằng mẹ triệu, vua Tự Đức lên kiệu về thẳng cung Gia Thọ lạy xin chịu lỗi với mẹ. Bà Từ Dũ giận không nói gì, vua Tự Đức liền lấy một cây roi đặt lên ghế tràng kỷ và nằm đợi bà bắt phạt, nhưng bà không đánh mà dạy rằng “có một mẹ một con, con đi đâu lâu, thời mẹ trong đợi lắm. Sao không báo cho mẹ hay trước? Thôi tha cho, đi chơi để quan quân cực khổ thì phải ban thưởng cho người ta”[106, 162- 163]. Bên cạnh đó còn có Lục Vân Tiên trong tác phẩm “Lục Vân Tiên – Kiều Nguyệt Nga” của Nguyễn Đình Chiểu.

Khi nghe mẹ mất, Lục Vân Tiên đã khóc thương tiếc đến khi mắt bị mù lòa. 16 “Hai hàng lụy ngọc ròng ròng Tưởng bao nhiêu lại đau lòng bấy nhiêu Cánh buồm bao quản gió xiêu, Ngàn trùng biển rộng, chín chìu ruột đau. Thương thay chín chữ cù lao. Ba năm nhũ bộ biết bao nhiêu tình”[106, 69] Vậy hiếu với cha mẹ là chăm nom, thăm viếng mỗi ngày, phải vâng lời cha mẹ, khi cha mẹ sai trái thì nhẹ nhàng khuyên răn.

Do đó hiếu được xem là đức tính đầu tiên của điều thiện:“Làm trai nết đủ trăm đường; Trước tiên điều hiếu đạo thường xưa nay”[102, 279]. Ngoài ra lòng hiếu thảo không phân biệt trai hay gái, già hay trẻ mà lòng hiếu thảo luôn thể hiện ở hết thảy mọi người. Như lòng hiếu thảo của nàng Thúy Kiều trong Truyện Kiều của Nguyễn Du. Nàng đã chấp nhận bán mình để chuộc cha ra khỏi nhà lao.

“Quyết tình nàng mới hạ tình Dẽ cho để thiếp bán mình chuộc cha”[1, 45] Hiếu ở Việt Nam rộng hơn ở Nho giáo là hiếu với đầy đủ cả cha lẫn mẹ, mang tính hai chiều không phân biệt trai hay gái như thời kỳ Nho giáo cực đoan. Hiếu ở Việt Nam ca ngợi tình yêu thương của cha mẹ đối với con cái như núi Thái Sơn nên sự báo hiếu là hiển nhiên. Ca dao có nêu:“Thờ cha mẹ, ở hết lòng, Ấy là chữ hiếu đạo, dạy trong luân thường”[102, 278]. Do đó hiếu với cha mẹ không chỉ chăm lo, kính trọng cha mẹ mà còn hiếu với quốc gia.

Hai là đại hiếu, có nghĩa là hiếu với quốc gia, với vua với điều kiện vua phải trung thành với dân, với nước. Đó là lòng yêu nước thương dân được đúc kết thành tình cảm thiêng liêng của dân tộc nâng lên chủ nghĩa yêu nước. 17 Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đã được thử thách qua quá trình lịch sử. Trong tiềm thức mỗi người dân Việt Nam, dù thuộc tộc người đa số hay thiểu số, đều chứa đựng tình yêu quê hương đất nước nồng nàn kết tinh thành ý thức của dân với nước, được thể hiện sinh động trong mối quan hệ gắn bó hữu cơ của thiết chế Gia đình - Làng - Nước, thành sắc thái độc đáo của văn hoá Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng ngợi ca truyền thống yêu nước của nhân dân Việt Nam: "Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi sục, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước"[85, 171]. Lòng yêu nước, tình cảm gắn bó máu thịt và trách nhiệm của "con dân" với Nước đã đúc kết thành truyền thống và hơn thế trở thành chủ nghĩa yêu nước Việt Nam.

Một đánh giá rất có sức thuyết phục mang tính khoa học - thực tiễn phản ánh tính quy luật hình thành chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là truyền thống yêu nước của người Việt Nam.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Tư Tưởng Đạo Đức Hồ Chí Minh Về Trung - Hiếu Và Ý Nghĩa Đối Với Giáo Dục Đạo Đức Người Việt Nam" khám phá những giá trị đạo đức cốt lõi trong tư tưởng của Hồ Chí Minh, đặc biệt là khái niệm trung và hiếu. Tác phẩm nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ Việt Nam, giúp họ phát triển nhân cách và trách nhiệm với gia đình và xã hội. Qua đó, tài liệu không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về tư tưởng của Bác mà còn gợi mở những phương pháp giáo dục hiệu quả, góp phần xây dựng một xã hội văn minh và tiến bộ.

Để mở rộng thêm kiến thức về mối liên hệ giữa đạo đức và giáo dục, bạn có thể tham khảo tài liệu The perspective of human morality in buddhist thoughts and its implications for the current vietnamese education full 10 điểm. Tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về những giá trị đạo đức trong tư tưởng Phật giáo và ảnh hưởng của chúng đến giáo dục hiện nay tại Việt Nam.