phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo luận văn gồm 3 chƣơng. Cơ sở lý luận về áp dụng công tác xã hội nhóm để hình thành kỹ năng tự phục vụ cho trẻ lớp 1 khuyết tật vận động. Áp dụng phƣơng pháp Công tác xã hội nhóm trong thực tiễn. Đánh giá kết quả áp dụng Công tác xã hội nhóm để hình thành kỹ năng tự phục vụ cho trẻ lớp 1 khuyết tật vận động.
14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM ĐỂ HÌNH THÀNH KỸ NĂNG TỰ PHỤC VỤ CHO TRẺ LỚP 1 KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG.1 Các khái niệm công cụ.1 Khái niệm nhóm Trong cuộc sống mỗi chúng ta ai cũng là thành viên của một hay nhiều nhóm đa dạng, khác nhau nhƣ: gia đình, bạn bè, nhóm làm việc… Nhƣ vậy, theo cách hiểu đơn giản, nhóm là một tập hợp ngƣời có từ hai ngƣời trở lên, giữa họ có một sự tƣơng tác và ảnh hƣởng lẫn nhau trong quá trình thực hiện hoạt động chung nhằm thỏa mãn nhu cầu nào đó của tất cả các thành viên trong nhóm. Tất cả các thành viên trong nhóm đƣợc điều chỉnh và tuân theo các quy tắc và thiết chế nhất định [16].2 Khái niệm phương pháp công tác xã hội nhóm. Công tác xã hội nhóm trƣớc hết phải đƣợc coi là một phƣơng pháp can thiệp của công tác xã hội.
Đây là một tiến trình trợ giúp mà trong đó các thành viên trong nhóm đƣợc tạo cơ hội và môi trƣờng có các hoạt động tƣơng tác lẫn nhau, chia sẻ những mối quan tâm hay những vấn đề chung, tham gia vào các hoạt động nhóm nhằm đạt đƣợc tới mục tiêu chung của nhóm và hƣớng đến giải quyết những mục đích của cá nhân thành viên và giải tỏa những vấn đề khó khăn. Trong hoạt động công tác xã hội nhóm, một nhóm thân chủ đƣợc thành lập, sinh hoạt thƣờng kỳ dƣới sự điều phối của ngƣời trƣởng nhóm (có thể là nhân viên xã hội và có thể là thành viên của nhóm) và đặc biệt là sự trợ giúp, điều phối của nhân viên xã hội (trong trƣờng hợp trƣởng nhóm là thành viên của nhóm) [16]. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhƣ vậy, CTXH nhóm đƣợc coi là một phƣơng pháp can thiệp của CTXH, là một tiến trình trợ giúp mà các thành viên trong nhóm đƣợc tạo cơ hội và môi trƣờng để tham gia vào các hoạt động chung, có sự chia sẻ, tƣơng tác lẫn nhau nhằm đạt mục tiêu chung của nhóm và giải quyết đƣợc vấn đề của từng cá nhân trong nhóm. Trong đó, nhân viên xã hội chỉ đóng vai trò là chất xúc tác, hƣớng dẫn, tổ chức sinh hoạt nhóm để chính các thành viên trong nhóm có sự tƣơng tác lẫn nhau và dùng mối quan hệ đó làm công cụ chính để nhận diện và giải quyết vấn đề của từng cá nhân hoặc của nhóm.
* Công tác xã hội đối nhóm đối với trẻ khuyết tật vận động Trong những đối tƣợng cần sự hỗ trợ, giúp đỡ của nhân viên công tác xã hội thì trẻ khuyết tật là một nhóm cần đƣợc sự quan tâm, trợ giúp đặt biệt. việc trợ giúp cùa nhân viên công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật đƣợc coi là một lĩnh vực chuyên sâu của ngƣời làm công tác xã hội, lĩnh vực này đƣợc gọi là “ công tác xã hội với trẻ em khuyết tật”. Việc hỗ trợ, giúp đỡ đối với trẻ khuyết tật không chỉ có sự trợ giúp của nhân viên công tác xã hội mà còn là công việc của các chuyên gia giáo dục đặc biệt, giáo viên, chuyên gia tâm lý. Tuy nhiên sự trợ giúp của nhân viên công tác xã hội không đi sâu vào bản thân trẻ khuyết tật hay tìm kiếm nguyên nhân gây khuyết tật, cũng nhƣ các phƣơng pháp, biện pháp giáo dục và trị liệu cụ thể mà nhấn mạnh đến việc tác động vào hệ thống chăm sóc và giáo dục trẻ khuyết tật nhƣ: nhƣ gia đình của trẻ khuyết tật, nhà trƣờng, đoàn thể, cộng đồng mà họ sinh sống cũng nhƣ các chính sách của nhà nƣớc dành cho họ.
Do vậy, công tác xã hội với trẻ khuyết tật có những đặc thù nhất định so với hoạt động công tác xã hội chung. Từ định nghĩa về công tác xã hội nhƣ trên thì có thể hiểu: công tác xã hội nhóm đối với trẻ khuyết tật vận động là việc nhân viên công tác xã hội sử dụng các kỹ năng chuyên môn và nghiệp vụ nhằm giúp các trẻ em đó vượt qua khó khăn trở ngại của mình để vươn lên hòa nhập cuộc sống. Đồng thời 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com huy động các nguồn lực, xác định những dịch vụ cần thiết để giúp đỡ các em một cách hiệu quả, vượt qua những rào cản, tham gia vào các hoạt động xã hội trên nền tảng công bằng như những người khác trong xã hội.3 Khái niệm người khuyết tật. Trong hệ thống phân loại quốc tế ICF, Theo Tổ chức Y tế Thế giới định nghĩa khuyết tật nhƣ sau: “khuyết tật là thuật ngữ chung chỉ tình trạng khiếm khuyết, hạn chế vận động và tham gia, thể hiện những mặt tiêu cực trong quan hệ tƣơng tác giữa cá nhân một ngƣời (về tình trạng sức khỏe) với các yếu tố hoàn cảnh của ngƣời đó (bao gồm yếu tố môi trƣờng và các yếu tố cá nhân khác)” [13,tr.
Theo Luật ngƣời khuyết tật đƣợc Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2010. Tại khoản 1 Điều 2 quy định: Ngƣời khuyết tật là ngƣời bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng đƣợc biểu hiện dƣới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn [27].4 Khái niệm trẻ khuyết tật, trẻ khuyết tật vận động * Khái niệm trẻ khuyết tật. Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), khái niệm khuyết tật gắn với các yếu tố nhƣ: - Những thiếu hụt về cấu trúc cơ thể và sự suy giảm các chức năng. - Những hạn chế trong hoạt động của cá thể.
- Môi trƣờng sống: những khó khăn, trở ngại do môi trƣờng sống mang lại cho họ không thể tham gia đầy đủ và có hiệu quả mọi hoạt động trong cộng đồng [ 28, Tr 34-35]. Trẻ khuyết tật là trẻ có những khiếm khuyết về cấu trúc hoặc các chức năng cơ thể hoạt động không bình thƣờng dẫn đến trẻ gặp khó khăn nhất định và không theo đƣợc chƣơng trình giáo dục phổ thông nếu không đƣợc hỗ trợ 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đặc biệt về phƣơng pháp giáo dục – dạy học và những trang thiết bị hỗ trợ cần thiết [ 28, Tr 34-35]. * Khuyết tật vân động: là tình trạng giảm hoặc mất chức năng cử động đầu, cổ, chân, tay, thân mình dẫn đến hạn chế trong vận động, di chuyển [13,tr34]. * Khái niệm trẻ khuyết tật vận động.
Trẻ khuyết tật vận động là những trẻ có sự tổn thất các chức năng vận động làm cản trở đến việc di chuyển, sinh hoạt và học tập… Trẻ khuyết tật vận động có thể đƣợc chia ra làm hai dạng: - Trẻ bị hội chứng não nặng dẫn đến khuyết tật vận động. Những trẻ thuộc dạng này thƣờng là trẻ gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống và trong học tập. - Trẻ khuyết tật vận động do chấn thƣơng nhẹ hay do bệnh bại liệt gây ra làm khoèo, liệt chân, tay…nhƣng não bộ của trẻ vẫn bình thƣờng, trẻ vẫn học tập tốt, chỉ cần giúp trẻ các phƣơng tiện tới trƣờng. Ngay từ nhỏ nếu trẻ đƣợc rèn luyện và phát triển các chức năng vận động vẫn có thể cho kết quả phục hồi nhanh chóng [ 28, Tr35-39].1 Nguyên nhân dẫn đến khuyết tật vận động.
Khuyết tật có thể xuất hiện ở bất cứ thời điểm nào trong cuộc đời của một con ngƣời. Có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến khuyết tật, bao gồm các nguyên nhân do môi trƣờng sống, do xã hội và do bẩm sinh [13, tr35]. * Nguyên nhân do môi trƣờng sống. - Đói nghèo, suy dinh dƣỡng, bệnh tật không đƣợc phát hiện và chữa trị, phục hồi chức năng kịp thời.
- Điều kiện ăn ở chật chội, yếu kém, mất vệ sinh. - Ô nhiễm và suy thoái môi trƣờng, thiên tai. - Sử dụng thuốc chữa bệnh bừa bãi dẫn đến nhiễm độc. 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Chấn thƣơng do tai nạn, rủi ro (khi tham gia giao thông, trong lao động, trong sinh hoạt hay hoạt động thể thao).
- Thay đổi chế độ ăn uống và hoàn cảnh sống. - Chiến tranh và bạo lực. * Nguyên nhân do xã hội. - Mù chữ và thiếu thông tin, thiếu hiểu biết về các dịch vụ y tế sẵn có, do không theo dõi hoặc không có tiếp cận với thông tin sự bất lực của y học và khoa học kỹ thuật.
- Căng thẳng và áp lực trong cuộc sống và công việc hàng ngày dẫn đến sang chấn tâm lý. - Đô thị hóa, dân số gia tăng, di cƣ. - Kết hôn trực hệ (cùng huyết thống) * Nguyên nhân do bẩm sinh và trong khi sinh. - Di truyền: lỗi nhiễm sắc thể, lỗi gen gây dị tật bẩm sinh (Hội chứng Đao, Hội chứng Relt liên quan đến nhiễm sắc thể giới tính…) hoặc rối loạn do nhiều yếu tố (Nứt đốt sống, thiếu một phần não, tràn dịch não…) - Do các yếu tố ngoại sinh nhƣ lây nhiễm rubella, giang mai, HIV; do nhiễm độc một số loại thực phẩm do ngƣời mẹ dùng nhƣ thuốc chống động kinh, các chất rƣợu cồn, do chụp tia X, chất độc màu da cam.
- Một số nguyên nhân trong khi sinh cũng ảnh hƣởng đến khả năng gây nên khuyết tật. Thứ nhất do thiếu ô xy, vấn đề này thƣờng xuất hiện do nhau thai, thời gian sinh quá lâu, trẻ không thở hoặc không khóc ngay sau khi sinh. Thứ hai trẻ có thể bị tổn thƣơng trong khi sinh nếu đầu trẻ đƣợc kéo ra bằng forceps.2 Đặc điểm tâm lý của trẻ khuyết tật vận động Tâm lý khá đông trẻ khuyết tật là mặc cảm, tự đánh giá thấp bản thân mình so với những ngƣời bình thƣờng khác. 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Dễ bị kích động, khó kiểm soát phản ứng do bị phân biệt đối xử và thiếu tôn trọng.
Gặp khó khăn trong giao tiếp với môi trƣờng xung quanh. Họ dễ cảm thông với những ngƣời đồng cảnh ngộ, biết ơn khi đƣợc quan tâm, giúp đỡ. Do những khiếm khuyết về chức năng và cơ thể nên cảm thấy tự ti. Luôn cho rằng số phận mình không may mắn, là gánh nặng cho ngƣời thân, gia đình.
Do đó, họ thƣờng sống khép kín, ngại giao tiếp với mọi ngƣời. Trong mối quan hệ tƣơng tác với ngƣời khác trong gia đình, cộng đồng, họ thƣờng có cảm xúc buồn, thất vọng, hay tự ái.