Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG TÌM VIỆC LÀM CỦA THANH NIÊN KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG 1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu kỹ năng tìm việc làm của thanh niên khuyết tật vận động 1. Nghiên cứu về kỹ năng, kỹ năng nghề nghiệp trên thế giới Vấn đề kỹ năng đã được các nhà tâm lý học trên thế giới nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. Khái quát lại, các công trình nghiên cứu kỹ năng có thể phân theo hai hướng nghiên cứu chính: -Hướng thứ nhất: Những công trình nghiên cứu cơ bản về kỹ năng, kỹ xảo, mối quan hệ giữa kỹ năng và kỹ xảo, kỹ năng và năng lực, điều kiện hình thành kỹ năng, kỹ xảo trong hoạt động nói chung.
Tiêu biểu có các công trình của các tác giả B. Chẳng hạn, khi nghiên cứu về kỹ năng và kỹ xảo, B. đã phân tích nội hàm của khái niệm kỹ năng, kỹ xảo và con đường hình thành chúng, nhấn mạnh điều kiện hình thành kỹ năng là những tri thức, kinh nghiệm của chủ thể hoạt động. Theo họ, muốn hình thành kỹ năng trong một lĩnh vực hoạt động nào đó thì trước hết phải cung cấp kiến thức về hành động cho người học.Levitov thì cho rằng kỹ năng có hai loại: kỹ năng bậc thấp và kỹ năng bậc cao.
Các tác giả đi sâu nghiên cứu kỹ năng bậc cao của các hành động phức tạp, trong những điều kiện hành động không cố định. Theo họ, kỹ xảo là thành phần của kỹ năng. 4] -Hướng thứ hai: Những công trình nghiên cứu ứng dụng kỹ năng trong một số lĩnh vực cụ thể như: kỹ năng trong lao động công nghiệp, kỹ năng sư phạm, kỹ năng trong hoạt động tổ chức, kỹ năng sống. Ở hướng nghiên cứu này, các tác giả đi sâu nghiên cứu ứng dụng kỹ năng trong những lĩnh vực cụ thể khác nhau để hình thành và phát triển được kỹ năng của con người trong những lĩnh vực đó.
Cụ thể ở các lĩnh vực như sau: Những công trình nghiên cứu về kỹ năng lao động công nghiệp, về kỹ năng trong những mối quan hệ với máy móc, công cụ lao động, vấn đề luyện tập gian khổ 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của người lao động trong quá trình hình thành kỹ năng, kỹ xảo. Đại diện là các tác giả V. Trong công trình nghiên cứu của mình, V.Tsebưseva đã trình bày rõ về kỹ năng, kỹ xảo, đưa ra các phương pháp hình thành kỹ năng. Theo bà, kỹ năng với tư cách là khả năng (trình độ được chuẩn bị) thực hiện một hành động nào đó dựa trên cơ sở những tri thức và kỹ xảo được hoàn thiện dần trong quá trình hoạt động.Tsebưseva đã nêu lên các điều kiện và các bước hình thành kỹ năng.
Bà đặc biệt nhấn mạnh vai trò tích cực của người học trong quá trình hình thành kỹ năng. Bà đã chỉ ra "quá trình nhận thức trong học tập càng tích cực bao nhiêu, thì kỹ năng, kỹ xảo càng hình thành nhanh chóng và hoàn thiện hơn bấy nhiêu". Từ đó, bà quan niệm, trong quá trình huấn luyện, nhà giáo dục rút dần vai trò của mình để người học tự nắm lấy thì kỹ năng được hình thành nhanh chóng, ổn định hơn [29, tr. 5] Những nghiên cứu ứng dụng kỹ năng trong công tác hoạt động tổ chức.
Các tác giả đã nghiên cứu hệ thống kỹ năng cần thiết giúp cho người làm công tác tổ chức đạt hiệu quả cao. Đại diện là các tác giả: P.Kegensev đã phân tích và đề xuất những yếu tố cơ bản của công tác tổ chức như mục đích, các kiểu tổ chức, các phương pháp tổ chức, những yêu cầu về phẩm chất của người làm công tác tổ chức. Tất cả những yếu tố trên đều cần cho công tác tổ chức. Nhưng để vận dụng vào tổ chức một hoạt động cụ thể thì người làm công tác tổ chức cần phải biết nắm vững tri thức về lĩnh vực hoạt động cụ thể đó và phải có sự mềm dẻo, sáng tạo trong quá trình tổ chức mới đạt được.Kinv khi nghiên cứu về năng lực tổ chức coi kỹ năng tổ chức là yếu tố quan trọng của năng lực tổ chức.
Theo nhóm tác giả này, điều kiện hình thành kỹ năng tổ chức thông qua học tập và rèn luyện thường xuyên của người học. 12] Những nghiên cứu ứng dụng kỹ năng trong hoạt động sư phạm nói chung, kỹ năng của người giáo viên và kỹ năng của học sinh nói riêng. Dựa trên cơ sở nghiên cứu đối tượng của hoạt động sư phạm là con người, là nhân cách của học sinh, các tác giả một mặt nghiên cứu hệ thống kỹ năng trong hoạt động dạy học của giáo viên, một mặt nghiên cứu các kỹ năng cần thiết trong quá trình hình thành nhân cách của học sinh. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bên cạnh đó, các tác giả cũng làm rõ sự khác biệt giữa hệ thống kỹ năng trong hoạt động sư phạm và hệ thống kỹ năng trong hoạt động lao động và các hoạt động khác.
Đại diện tiêu biểu là G.Cuzmina … Các nghiên cứu ứng dụng kỹ năng trong lĩnh vực kỹ năng sống của các nhà nghiên cứu hành vi, các chương trình giáo dục kỹ năng sống của các tổ chức như WHO, UNICEF, UNESCO. Trong các nghiên cứu này, các tác giả hướng tới đưa ra chương trình giáo dục các kỹ năng sống cụ thể với các nhóm đối tượng khác nhau nhằm trang bị cho họ những kỹ năng sống cơ bản, giúp ứng phó với một số vấn đề cụ thể trong cuộc sống. 6] Như vậy, dù xuất phát từ đối tượng của các lĩnh vực hoạt động khác nhau nhưng các hướng nghiên cứu kỹ năng ở các góc độ khác nhau không có gì mâu thuẫn. Các tác giả đều thống nhất ở quan điểm: để hình thành kỹ năng thì cần có tri thức và sự rèn luyện tích cực của chủ thể hoạt động.
Những nghiên cứu về kỹ năng, kỹ năng nghề nghiệp ở Việt Nam Ở Việt Nam, vấn đề kỹ năng cũng đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu, đặc biệt là kỹ năng lao động, kỹ năng sư phạm, kỹ năng quản lý, kỹ năng tổ chức, dưới góc độ nghiên cứu lý luận cũng như nghiên cứu thực tiễn. Tác giả Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng (2007) trong cuốn "Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm" đã chỉ ra sự hình thành kỹ năng phải dựa trên cơ sở kiến thức để từ đó giải quyết một nhiệm vụ cụ thể nào đó. Các tác giả trên cũng chỉ ra yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành kỹ năng là do khả năng nhận dạng kiểu nhiệm vụ, kiểu bài tập [14, tr.118-121] Tác giả Vũ Dũng (2008) phân biệt các khái niệm "Kỹ năng nhận thức", "Kỹ năng trí tuệ" và "Kỹ năng vận động". Theo ông, kỹ năng nhận thức là sự phản ánh một cách cảm tính và tự động những thuộc tính và những đặc điểm của đối tượng rất quen thuộc đã được tri giác nhiều lần trước đó.
Kỹ năng trí tuệ là phương thức và phương pháp có tính tự động hóa để giải quyết những nhiệm vụ trí tuệ mà chủ thể đã gặp trước đó. Kỹ năng vận động là sự tác động có tính tự động hóa lên các khách thể bên ngoài nhờ những vận động đã được thực hiện nhiều lần trước đó để cải tạo khách 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Kỹ năng vận động là khả năng thực hiện những vận động mà không cần đến sự kiểm soát của ý thức và được hình thành bằng con đường luyện tập. Kỹ năng vận động bao gồm kỹ năng nhận thức và kỹ năng trí tuệ.
Kỹ năng vận động điều khiển hai kỹ năng này trên cơ sở phản ánh có tính tự động hóa các sự vật, điều kiện và trật tự thực hiện các thao tác hành động hướng tới việc cải tạo hiện thực khách quan. 401] Theo tác giả Phạm Tất Dong, có bốn giai đoạn hình thành kỹ năng. Mỗi giai đoạn có những đặc điểm, đặc trưng và những yêu cầu nhất định: -Giai đoạn thứ nhất: giai đoạn này được gọi là giai đoạn hình thành những kỹ năng sơ bộ. Con người trước khi hành động phải nhận thức được hành động.
Dựa vào kỹ năng, kỹ xảo đã nắm được để tìm kiếm phương thức hoạt động. Ở giai đoạn này hoạt động diễn ra theo phương thức "thử" và "sai". -Giai đoạn thứ hai: con người có những tri thức về các phương thức thực hiện hoạt động và sử dụng được những kỹ xảo đã có. Đây là giai đoạn hoạt động với những kỹ năng chưa thành thạo.
-Giai đoạn thứ ba: con người có những kỹ năng chung, cần thiết cho mọi hoạt động khác nhau. Đây là điều kiện không thể thiếu được để hình thành kỹ năng chuyên môn. Trên cơ sở những kỹ năng chung, con người sẽ sử dụng một cách sáng tạo những tri thức và kỹ xảo cần thiết trong quá trình hoạt động. Đây là giai đoạn phát triển cao.
-Giai đoạn thứ tư: con người sử dụng một cách sáng tạo những kỹ năng khác nhau. Đây là giai đoạn cao nhất của sự phát triển kỹ năng. Ở trình độ này, con người dễ dàng thực hiện công việc. 15] Tác giả Phạm Thành Nghị nghiên cứu về kỹ năng học tập đã chỉ ra "kỹ năng học tập là tập hợp những hành động học tập như phân tích, mô hình hóa, khái quát hóa các đối tượng nhận thức bằng cách vận dụng những tri thức, kinh nghiệm đã có để đạt được những kết quả học tập một cách thành thục”.
Theo tác giả này, việc thực hiện bất cứ kỹ năng nào cũng cần những cơ sở lý thuyết nhất định, điều quan trọng là phải phát hiện ra những thuộc tính và quan hệ vốn có trong nhiệm vụ, bài tập để thực hiện mục đích nhất định. Sự vận dụng kiến thức để khám phá, biến đổi đối tượng chính ra tạo ra kỹ năng. Như vậy, thực chất của việc hình thành kỹ năng 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com là hình thành ở người học hệ thống các thao tác nhằm làm sáng tỏ những thông tin chứa đựng trong bài tập, nhiệm vụ và đối chiếu chúng với những hành động cụ thể. Do vậy, người dạy cần: -Giúp người học đưa ra nhận xét về các yếu tố đã cho, yếu tố phải tìm và mối quan hệ giữa chúng.
-Giúp người học hình thành mô hình khái quát để giải bài tập -Giúp người học xác lập mối liên hệ giữa mô hình khái quát với các kiến thức tương ứng.79] Về những nghiên cứu thực tiễn, các tác giả Việt Nam cũng đã quan tâm nghiên cứu vấn đề kỹ năng trong nhiều lĩnh vực như giao tiếp và kỹ năng nghề nghiệp trong một số ngành nghề.