Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG THAM VẤN TÂM LÝ CỦA NGƯỜI LÀM CÔNG TÁC THAM VẤN TÂM LÝ HỌC ĐƯỜNG 1. Lý luận về kỹ năng 1. Khái niệm kỹ năng Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về kỹ năng, tùy vào cách tiếp cận. Theo từ điển Oxfort “kỹ năng” là khả năng để làm tốt một công việc nào đó thường có được qua đào tạo hoặc kinh nghiệm.
Theo đó, kỹ năng được hiểu là sự thành thạo, tinh thông về các thao tác, động tác trong quá trình hoàn thành một công việc cụ thể nào đó [34]. Tác giả Bùi Hiền (2001) trong cuốn “Từ điển Giáo dục học” đã phân kỹ năng thành 2 bậc: Kỹ năng bậc thấp (bậc I) và kỹ năng bậc cao (bậc II). Kỹ năng bậc thấp là khả năng thực hiện đúng hành động, phù hợp với những mục tiêu và điều kiện cụ thể. Ở bậc này có những kỹ năng hình thành không cần qua luyện tập, nếu biết tận dụng hiểu biết và kỹ năng tương tự đã có để chuyển sang các hành động mới.
Kỹ năng bậc cao là khả năng thực hiện hành động, hoạt động một cách thành thạo linh hoạt, sáng tạo phù hợp với những mục tiêu trong những điều kiện khác nhau. Để đạt tới kỹ năng này cần trải qua giai đoạn luyện tập các kỹ năng đơn giản, sao cho mỗi khi hành động, người ta không còn bận tâm nhiều đến thao tác nữa vì nhiều thao tác đã tự động hóa [6]. Tác giả Phạm Thị Diệu Vân dịch từ sách của Lêvitôv (nhà tâm lý học Liên Xô) đã định nghĩa: “Kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đó hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức đúng đắn, có tính đến những điều kiện nhất định”. Theo ông, người có kỹ năng hành động là người phải nắm được và vận dụng đúng đắn các cách thức hành động nhằm thực hiện hành động có kết quả.
Ông còn nói thêm, con người có kỹ năng không chỉ nắm lý thuyết về hành động mà phải vận dụng vào thực tế [20]. 8 Tác giả Thái Duy Tuyên tong cuốn “Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới” cho rằng kỹ năng là sự ứng dụng kiến thức trong hoạt động” [19]. Mỗi kỹ năng bao gồm một hệ thống thao tác trí tuệ và thực hành, thực hiện trọn vẹn hệ thống thao tác này sẽ đảm bảo đạt được mục đích đặt ra cho hoạt động. Điều đáng chú ý là sự thực hiện một kỹ năng luôn luôn được kiểm tra bằng ý thức, nghĩa là khi thực hiện bất kỳ một kỹ năng nào đều nhằm vào một mục đích nhất định.
Tác giả Lê Văn Hồng và cộng sự (2001) trong cuốn “Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm” cho rằng “Kỹ năng theo góc nhìn của tâm lý học là khả năng vận dụng kiến thức để giải quyết một nhiệm vụ” [7]. Theo tác giả Đặng Thành Hưng (2016): kỹ năng là dạng hành động tự giác, được thực hiện có kỹ thuật, dựa và những điều kiện sinh học, tâm lí và xã hội ở cá nhân, và có kết quả nhất định đáp ứng mục tiêu hay chuẩn đã định trước. Có kỹ thuật tức là không tùy tiện, mà tuân theo trình tự, qui tắc và yêu cầu kỹ thuật [8]. Trên thế giới, thuật ngữ kỹ năng đã được luật hóa trong nhiều đạo luật của nhiều quốc gia.
Theo Đạo luật TESDA 1994 tại Philippines đã quy định kỹ năng có nghĩa là khả năng được học và được thực hành để thực hiện một nhiệm vụ hay một công việc [36]. Tương tự như vậy, Luật Phát triển kỹ năng nghề nghiệp của Malaysia cho rằng: Kỹ năng được hiểu là khả năng được học và được thực hành để thực hiện thành thạo một nhiệm vụ hay một công việc [30]. Như vậy có thể thấy mặc dù có những định nghĩa khác nhau về kỹ năng, tuy nhiên, đều thừa nhận rằng kỹ năng là một quá trình tâm lý, được hình thành khi con người áp dụng kiến thức vào thực tiễn. Kỹ năng có được do quá trình lặp đi lặp lại một hoặc một nhóm hành động nhất định nào đó.
Kỹ năng theo nghĩa hẹp hàm chỉ đến những thao tác, hành động cụ thể của con người. Kỹ năng hiểu theo nghĩa rộng hướng nhiều đến khả năng, đến năng lực của con người. Theo tiếp cận này, vẫn là khả năng của con người để làm tốt một công việc nào đó, nhưng người ta không chỉ nhấn mạnh đến kỹ năng mà là sự hòa quyện nhuần nhuyễn của cả kiến thức, kỹ năng, thái độ để giúp con người thực hiện một công việc nào đó như mong đợi. Đặc điểm kỹ năng Từ những quan niệm nêu trên, có thể rút ra một số những đặc điểm về kỹ năng như sau: - Kỹ năng có một số nội dung là những quá trình tâm lý, vì nó là tổ hợp của hàng loạt các yếu tố hợp thành như tri thức, kỹ năng, kỹ xảo đã có; khả năng chú ý, tư duy….; - Kỹ năng có tính linh hoạt và có thể di chuyển từ hoàn cảnh này sang hoàn cảnh khác; kỹ năng có tính kỹ thuật, tức là có cấu trúc thao tác và trình tự tổ chức các thao tác đó; - Kỹ năng được hình thành do luyện tập, được hình thành trong quá trình hoạt động của con người.
Các bước hình thành kỹ năng Có nhiều cách phân chia khác nhau: Theo tác giả Vũ Xuân Hùng (2011) trong tác phẩm “Dạy học hiện đại và nâng cao năng lực dạy học cho giáo viên” cho rằng kỹ năng được hình thành qua 05 giai đoạn [9]: - Giai đoạn bắt chước: Chỉ hành động theo mẫu. - Giai đoạn làm được: Hiểu nhiệm vụ, quy trình làm việc nhưng còn có những sai sót, thời gian hoàn thành chậm và đôi khi còn cần có sự chỉ dẫn. - Giai đoạn làm chính xác: Làm việc theo quy trình, chính xác và hoàn thiện công việc nhanh chóng. - Giai đoạn hình thành kỹ xảo: Kỹ năng được tự động hoá, trên cơ sở đó hình thành nên kỹ xảo.
- Giai đoạn làm biến hóa. Thể hiện khả năng di chuyển kỹ năng sang các tình huống mới hoặc hình thành các kỹ năng phức tạp. Các bước hình thành kỹ năng theo tác giả Vũ Xuân Hùng (2011) được thể hiện trong Biểu đồ 1.1 như sau: 10 Biểu đồ 1. Các giai đoạn hình thành kỹ năng (Vũ Xuân Hùng – 2011) Theo K.
- Giai đoạn 1: Kỹ năng sơ đẳng. Ở giai đoạn này, con người ý thức được mục đích hành động và tìm kiếm cách thức thực hiện hành động dựa trên vốn hiểu biết và kỹ xảo sinh hoạt đời thường, hành động bằng thử và sai. - Giai đoạn 2: Biết cách làm nhưng không đầy đủ. Con người có hiểu biết về phương thức hành động, sử dụng các kỹ xảo đã có, nhưng chưa phải là kỹ xảo chuyên biệt dành cho hoạt động này.
- Giai đoạn 3: Có những kỹ năng chung nhưng còn mang tính chất riêng lẻ. Các kỹ năng này cần thiết cho các dạng hoạt động khác nhau. - Giai đoạn 4: Giai đoạn này có kỹ năng phát triển cao, con người biết sử dụng vốn hiểu biết và kỹ xảo đã có. Họ không chỉ ý thức được mục đích mà còn ý thức được động cơ, lựa chọn cách thức để đạt được mục đích.
11 - Giai đoạn 5: Kỹ năng khác nhau. Có nghĩa là con người không sử dụng các kỹ năng đã được hình thành ở mức độ thuần thục, điêu luyện mà còn sáng tạo trong khi thực hiện. Các quan điểm chung của các nhà Tâm lý học hoạt động thì các giai đoạn hình thành kỹ năng là: 1. Nhận thức mục đích của hành động và kế hoạch hành động 2.
Luyện tập Theo tác giả Nguyễn Phụ Thông Thái, kỹ năng được hình thành qua 2 giai đoạn [17]. Đây chính là cách phân chia các giai đoạn hình thành kỹ năng được chúng tôi lựa chọn làm công cụ đo của đề tài, bao gồm: - Giai đoạn 1: Có tri thức về hành động (mục đích, cách thực hiện, các điều kiện hành động) và các kinh nghiệm cần thiết. - Giai đoạn 2: Vận dụng tri thức, kinh nghiệm đã có vào hành động và thực hiện hành động có kết quả. Như vậy, nắm được các giai đoạn hình thành kỹ năng để tổ chức và điều khiển hoạt động giáo dục sao cho hình thành được ở người làm công tác tham vấn tâm lý những kỹ năng tham vấn tâm lý là điều cần thiết và quan trọng.
Các kỹ năng của người làm công tác tham vấn được hình thành và hoàn thiện trong quá trình hành nghề. Đối với người làm công tác tham vấn tâm lý, khi bước vào thực hành, dù ít hay nhiều, kỹ năng của họ phải đạt ở mức hoàn thiện mới có thể đáp ứng được yêu cầu. Lý luận về tham vấn tâm lý và người làm công tác tham vấn tâm lý 1. Tham vấn tâm lý 1.
Định nghĩa tham vấn tâm lý Tâm lý học tham vấn là một nhánh của thực hành tâm lý học chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của ngành khoa học nhân văn cũng như bởi các nguyên tắc của phân ngành tâm lý trị liệu. Lĩnh vực này đòi hỏi cơ sở thực nghiện đối với lý thuyết và thực hành và đặt ra những yêu cầu cơ bản đối với người thực hành bao gồm kiến 12 thức và kỹ năng trong tương tác với người khác (hay còn gọi là mối quan hệ trị liệu tâm lý) [28]. Thuật ngữ "tham vấn" có nguồn gốc từ Mỹ, được đặt ra bởi nhà tâm lý học Carl Rogers, người không có bằng cấp y tế nên không thể gọi công việc thực hành của mình là tâm lý trị liệu được [43]. Các tác giả Woolfe & Dryden (1996), Walsh & Frankland (2009) đã thống nhất với nhau định nghĩa về tham vấn tâm lý là: “Hỗ trợ những người có vấn đề về cảm xúc và khó khăn tinh thần cải thiện sức khỏe, giảm bớt những đau khổ tinh thần và sự bất ổn”.
Ngoài ra, các hoạt động tham vấn tâm lý cũng bao gồm các hoạt động đánh giá, chẩn đoán và điều trị các rối loạn tâm thần. Việc thực hành tham vấn tâm lý cần phải tuân thủ các quy định về đạo đức hành nghề cũng như là yêu cầu về chuyên môn tối thiểu [39],[44]. Goldstein định nghĩa tham vấn tâm lý một cách ngắn gọn “tham vấn tâm lý là một quá trình tương tác riêng biệt mà các khía cạnh của nó được thống nhất rõ ràng giữa chuyên gia và khách hàng, có định hướng triết học về các giá trị' (trang 36) [24].