mở đầu một bài giảng 2. Thiết kế và thực hiện DH một nội dung chuyên môn có sử dụng phương pháp vấn đáp và nói có minh họa 3. Thiết kế và trình diễn kỹ năng quản lý HĐ nhóm nhỏ và kỹ thuật công não 4. Trình diễn kỹ năng đưa và nhận thông dụng tin phản hồi 5.
Trình diễn kỹ năng dạy nghề Bài 3: ĐÁNH GIÁ NƯỜI HỌC Thời gian: 6 giờ I. MỤC TIÊU CỦA BÀI: Sau khi học xong bài này NH có khả năng: - Xây dựng các tiêu chí, chỉ số và thu thập bằng chứng tốt nhất để đánh giá NH theo yêu cầu chương trình đào tạo. - Soạn được bộ đề thi trắc nghiệm khách quan để đánh giá một nội dung chuyên môn - Đánh giá năng lực NH theo các tiêu chuẩn năng lực thực hiện II. NỘI DUNG CỦA BÀI: 1.
XÂY DỰNG TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC 1. Định nghĩa Đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập chứng cứ và đưa ra những lượng giá về bản chất và phạm vi của kết quả học tập hay thành tích đạt được so với mục tiêu đã đề ra. Việc đánh giá năng lực NH phải được thực hiện theo tiêu chí (Criteria Referenced Assessment), nghĩa là nó đo sự thực hiện hay thành tích của một cá nhân NH trong mối liên hệ so sánh với các tiêu chí, tiêu chuẩn chứ không có liên hệ so sánh gì với sự thực hiện hay thành tích của người khác. Tiêu chí thực hiện là một mô tả về các yêu 60 cầu chất lượng của các kết quả thu được trong HĐ lao động.
Chúng cho phép xác định liệu người học có thể đạt kết quả được mô tả bởi cho các thành tố năng lực hay không. Các tiêu chí đánh giá năng lực NH được xác định từ các tiêu chuẩn nghề quốc gia và một số quy định, tiêu chuẩn riêng khác. Vì không thể quan sát trực tiếp được năng lực nên cần phải có một số chỉ dấu hay chỉ số gián tiếp có thể hàm ý hay biểu hiện được năng lực đó. Chỉ dấu và chỉ số là những dấu hiệu hay số liệu cụ thể phản ánh chất lượng của kết quả thực hiện.
Muốn sử dụng được tiêu chí đánh giá thì tiêu chí phải kèm theo các chỉ dấu hoặc chỉ số và bằng chứng tốt nhất - Tiêu chí đánh giá được xác định bằng các câu hỏi: + Các kết quả chính của hành động là gì? + Chất lượng của các kết quả đó như thế nào? + Mong đợi đối với việc tổ chức thực hiện, đảm bảo an toàn tại nơi làm việc là gì? Trong quá trình đánh giá năng lực, sự thông thạo của NH được đánh giá và xác nhận theo các quan điểm sau: - NH phải thực hiện các công việc theo cách thức giống như của người lao động thực hiện trong thực tế lao động nghề nghiệp - Đánh giá riêng rẽ từng cá nhân NH khi họ hoàn thành công việc - Kiến thức liên quan và thái độ cần có đều là những bộ phận cấu thành cần được kiểm tra đánh giá - Các tiêu chí và chỉ số dùng cho đánh giá được công bố cho NH biết trước khi kiểm tra đánh giá. - Các tiêu chuẩn dùng trong việc đánh giá là những yêu cầu đặt ra ở mức độ tối thiểu để đảm bảo rằng sau khi học xong thì NH bước vào làm việc được chứ không phải là để đem so sánh với những NH khác. Trên cơ sở đó, người ta có thể công nhận các kỹ năng hoặc các kiến thức đã được thông thạo trước đó. Tiªu chuẩn nghÒ nghiÖp Tiªu chuÈn trong ®µo t¹o §Çu ra Đầu vào của thị cña ®µo trường LĐ 61 Hình 8.
So sánh tiêu chí trong đào tạo và tiêu chí trong công nghiệp. Kỹ thuật xác định tiêu chí đánh giá - Tiêu chí được viết bắt đầu bằng danh từ (kết quả) + dấu hiệu phản ánh chất lượng của kết quả + chỉ số hoặc chỉ dấu. - Các tiêu chí bắt buộc sử dụng trong đánh giá năng lực NH là: (1)tiêu chí về thời gian thực hiện công việc, (2) tiêu chí về hiệu quả thực hiên và (3)các tiêu chí về đảm bảo an toàn trong quá trình thực hiện. - Tiêu chí được viết dưới thể bị động để mô tả kết quả được làm và đạt chất lượng như thế nào? Ví dụ 1: “Cắt 1m vải nhung” Tấm vải được cắt đúng kích thước 1m, đường cắt viền mượt, thẳng, phẳng, không rách viền, không lệch nống vải.
Ví dụ 2: “Quấn cuộn dây máy biến áp” Cuộn dây được quấn đúng số vòng, các vòng dây song song và cách đều trên lõi thép, không bị sây sước, có bọc cách điện Phiếu đánh giá Ngày…….tháng……năm……… Tên thành tố năng lực:…………………………………………………………. Tên được đánh giá:………………………………………………………………. Tên người đánh giá:……………………………………………………………… TT Thành tố năng lực Tiêu chí, chỉ số Bằng chứng tốt Đạt Chưa N/A nhất đạt 62 1 2 3 2. SOẠN TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN 2.
Định nghĩa Trắc nghiệm khách quan là phương pháp đo lường mức độ đạt được mục tiêu DH về kiến thức, kỹ năng, thái độ ở NH thông qua nhiều câu hỏi và mỗi câu hỏi được trả lời bằng những dấu hiệu đơn giản hay bằng một từ hoặc cụm từ. Các loại trắc nghiệm khách quan và kỹ thuật soạn thảo 2. Trắc nghiệm nhiều lựa chọn - MCQ (đa phương án) Trắc nghiệm khách quan: Đề thi gồm nhiều câu hỏi, mỗi câu hỏi nêu ra một vấn đề cùng những thông tin cần thiết sao cho thí sinh phải trả lời vắn tắt cho từng câu. Cấu trúc: 2 phần - Phần cốt lõi (câu dẫn): Có thể là một cụm từ, một mệnh đề, một câu hoàn chỉnh hoặc một sự kiện.
Nếu bài thi có nhiều câu hỏi lựa chọn thì phần thân của câu này không được gợi ý câu trả lời cho các câu hỏi khác - Phần lựa chọn (trả lời): Gồm 4 hoặc 5 câu trả lời trong đó cần viết sao cho để chỉ có 1 câu đúng nhất. Các câu trả lời còn lại đều là câu “nhiễu”, “đánh lạc hướng” có vẻ như hợp lý để buộc học sinh phải cân nhắc, lựa chọn. Các câu trả lời thường được đánh dấu thứ tự bằng các chữ in hoa (A, B, C, D, E) hoặc chữ thường (a, b, c, d, e). Khi các câu trả lời có các yếu tố chung thì phải đặt các yếu tố chung này vào phần thân của câu hỏi.
Câu hỏi trắc nghiệm lựa chọn đa phương án dùng để đánh giá các mức độ nhận thức khác nhau. Kiến thức (K) được phân loại theo nhiều cách nhưng người ta thường chia kiến thức làm hai bậc trình độ: K1: Nhớ lại hoặc nhận biết K2: áp dụng Ví dụ: Một hình phẳng có 4 cạnh và 4 góc được gọi là: a. Hình lập phương. 63 Kỹ thuật soạn thảo: Để xây dựng các câu hỏi lựa chọn đa phương án tốt đòi hỏi không những phải hiểu biết chuyên môn mà cần phải đảm bảo những yêu cầu sau: - Phần câu dẫn là một câu hỏi hay một câu bỏ lửng để tạo cơ sở lựa chọn - Phần lựa chọn là các câu trả lời (chỉ nên dùng 4-5 phương án) - Đảm bảo cho câu dẫn nối liền với mọi câu trả lời theo đúng ngữ pháp - Chỉ có một phương án đúng duy nhất, các phương án còn lại là phương án gây nhiễu và đều có vẻ đúng - Tránh dùng câu phủ định, đặc biệt là phủ định 2 lần - Tránh việc tạo phương án đúng khác biệt so với phương án khác (câu dài hơn hoặc ngắn hơn, mô tả tỉ mỉ hơn, …) - Tránh lạm dụng kiểu “không phương án nào trên đây là đúng” hay “mọi phương án trên đây đều đúng” - Sắp xếp phương án đúng theo thứ tự ngẫu nhiên - Không để lộ ý trả lời câu hỏi này trong câu hỏi khác: Ví dụ: Máy vi tính siêu nhỏ được phát minh năm1976 bởi…và máy vi tính siêu nhỏ được phát minh năm… Cách cho điểm: Với mỗi câu chọn trong 5 hoặc trong 4, nếu chọn đúng như đáp án thì được số điểm quy định (Thông thường là 1 điểm cho mỗi câu chọn đúng), nếu chọn sai thì 0 điểm 2.
Trắc nghiệm điền khuyết - trả lời ngắn Là loại câu hỏi cung cấp không đầy đủ thông tin, được trình bày dưới dạng một câu phát biểu chưa đầy đủ và yêu cầu HS phải bổ sung, điền thông tin vào những chỗ còn thiếu một từ, một cụm từ, số liệu hay ký hiệu,. Ví dụ: Người đầu tiên phát minh ra đèn sợi đốt là… Các dạng điền khuyết hay trả lời ngắn: - Một câu có để trống một hoặc vài từ, HS tự điền từ thích hợp - Một câu để trống một vài chỗ, GV cho trước 2 hoặc 3 từ hoặc cụm từ viết trong ngoặc để HS chọn điền vào chỗ trống - Một hình vẽ không chú thích hoặc chú thích thiếu, HS điền chú thích vào vị trí phù hợp - Hình vẽ, sơ đồ bỏ sót vài nét, yêu cầu HS vẽ thêm cho hoàn chỉnh - Một câu hỏi xác định cụ thể số ý phải trả lời, HS phải viết các ý đó - Bắt đầu bằng một câu mệnh lệnh thức nói rõ yêu cầu đối với HS 64 Kỹ thuật soạn thảo: - Không nên để nhiều chỗ trống trong một câu (chỉ tối đa 3-4 chỗ) - Độ dài của các chỗ trống nên để bằng nhau tránh để HS hiểu nhầm - Cung cấp đủ thông tin để HS chọn phương án trả lời - Phần trống chỉ có một đáp án đúng - Tránh lấy nguyên văn các câu trích dẫn từ sách giáo khoa để tránh khuyến khích học sinh học thuộc. Trắc nghiệm ghép đôi Cấu trúc: 2 phần với 2 dãy thông tin - Phần tiền đề (Phần câu dẫn): Thường ở bên trái, là các câu, các mệnh đề nêu thuật ngữ, nội dung, định nghĩa, … - Phần trả lời (phần lựa chọn): Thường ở bên phải, cũng gồm các câu, mệnh đề, … mà nếu được ghép đúng vào mệnh đề dẫn bên trái thì sẽ trở thành một ý hoàn chỉnh, một phương án đúng. HS có nhiệm vụ ghép mệnh đề ở phần trả lời với mệnh đề tương ứng ở phần tiền đề Đối với GV các câu trắc nghiệm ghép đôi đưa ra nhiều khả năng trắc nghiệm phong phú phù hợp để đo những mức độ thấp, cao của nhận thức.
Các câu trắc nghiệm ghép đôi có thể được xây dựng với các đồ vật có thực, các bức tranh, bản vẽ hoặc các mô hình. Kỹ thuật soạn thảo: Các câu trắc nghiệm ghép đôi cần được xây dựng cẩn trọng để sử dụng vào việc đánh giá kiến thức của học sinh.